|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 231/2024/DS-ST Ngày: 09-5-2024 V/v Tranh chấp hợp đồng vay tài sản |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Thúy Ái.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Văn Vân;
- Ông Võ Văn Dương.
- Thư ký phiên tòa: Ông Trương Văn Bé-Thư ký Tòa án nhân dân huyện Củ Chi,
Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh:
Không.
Trong ngày 09 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Củ Chi xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 33/2024/TLST-DS ngày 11 tháng 01 năm 2024 về “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 134/2024/QĐXXST-DS ngày 03 tháng 4 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 168/2024/QĐST-DS ngày 19 tháng 4 năm 2024 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ông Huỳnh Minh H, sinh năm: 1960 (Có mặt).
Địa chỉ: Số H B, phường V, Thành phố R, tỉnh Kiên Giang. Tạm trú: Đường T, tổ D, ấp V, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.
2. Bị đơn: Ông Lương Minh T, sinh năm: 1980 (Vắng mặt).
Địa chỉ: Số A kênh N, tổ A, ấp L, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh. Địa chỉ liên lạc: Cửa hàng V, số I Quốc lộ B, ấp P, xã P, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện nộp ngày 05/12/2023, bản tự khai, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn là ông Huỳnh Minh H trình bày:
Ngày 25/9/2020, ông có cho ông Lương Minh T vay số tiền là 35.000.000đ, lãi suất là 3%/tháng, có làm giấy mượn tiền, ông và ông T có thỏa thuận khi nào ông muốn lấy lại tiền thì báo trước cho ông T 15 ngày, ông T đã trả tiền lãi cho ông được 11 tháng là 11.550.000đ (từ 25/10/2020 đến 25/8/2021). Đến ngày 20/7/2022 vì cần tiền nên ông có báo cho ông T việc ông cần lấy tiền lại vì ông T đã không đóng tiền lời gần 01 năm, ông không lấy lời nữa mà chỉ lấy lại gốc nhưng ông T cố tình tránh né không trả tiền cho ông, do vậy ông yêu cầu cầu Tòa án nhân dân huyện Củ Chi buộc ông T phải trả lại cho ông số tiền gốc là 35.000.000đ và tính tiền lãi theo quy định của pháp luật từ ngày 25/10/2020 đến ngày 25/4/2024, sau ngày 25/4/2024 ông không yêu cầu tính lãi nữa mà chỉ yêu cầu ông T trả số tiền gốc là 35.000.000đ. Ông T nói ngày 01/4/2024 sẽ trả cho ông 5.000.000đ/tháng cho đến khi hết số nợ gốc nhưng đến hôm nay, ông vẫn không nhận được số tiền nào từ ông T, do vậy ông yêu cầu ông T phải trả số tiền gốc và tiền lãi cho ông một lần.
* Tại Đơn xin cứu xét ngày 06/3/2024, bị đơn là ông Lương Minh T trình bày:
Ngày 25/9/2020, ông có mượn của ông H số tiền 35.000.000đ, lãi suất mỗi tháng là 3%. Sau khi mượn tiền mỗi tháng ông đều đóng tiền lãi cho ông H là 1.050.000đ. Từ lúc mượn tiền cho đến ngày 20/7/2022 ông đóng lãi đầy đủ cho ông H với tổng số tiền là 24.150.000đ. Sau ngày 20/7/2022 cho đến nay do làm ăn thua lỗ, ông H đòi nợ, ông có nói cho ông H hoàn cảnh của ông khó khăn không làm ra tiền, việc buôn bán thua lỗ nợ nần và phải nuôi 02 con nhỏ đang ăn học nên không đủ khả năng trả tiền lãi, xin ông H không đóng tiền lãi nữa và xin được trả dần số tiền gốc cho ông H nhưng ông H không đồng ý. Nay ông H khởi kiện ông ra Tòa án, ông mong muốn ông H cho ông ngưng đóng tiền lãi và trả dần tiền gốc 35.000.000đ, mỗi tháng ông trả cho ông H 5.000.000đ, bắt đầu trả từ ngày 01/4/2024.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng, kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết:
Tại đơn khởi kiện nộp ngày 05/12/2023, nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả số tiền gốc là 35.000.000đ và tiền lãi là 13.000.000đ theo Giấy mượn tiền ngày 25/9/2020, đây là quan hệ pháp luật “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” quy định tại Khoản 3 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, bị đơn cư trú tại số A kênh N, tổ A, ấp L, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Củ Chi theo quy định tại Điểm a Khoản 1 Điều 35 và Điểm a Khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.
[2] Về thủ tục tố tụng:
Bị đơn là ông Lương Minh T đã được tống đạt hợp lệ Thông báo về việc thụ lý vụ án, Thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên toà (ông T trực tiếp nhận các văn bản tố tụng nêu trên) nhưng vẫn vắng mặt, do đó Hội đồng xét xử vẫn tiến hành phiên tòa theo quy định tại Điểm b Khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.
[3] Về yêu cầu của nguyên đơn:
Giấy mượn tiền ngày 25/9/2020 thể hiện số tiền gốc ông H cho ông T vay là 35.000.000đ, lãi suất là 3%/tháng, không có thời hạn vay, đây là Hợp đồng vay tài sản không có kỳ hạn và có lãi theo quy định tại Khoản 2 Điều 469 của Bộ luật Dân sự năm 2015. Trước khi nộp đơn khởi kiện, ông H đã thông báo trước cho ông T về việc trả nợ nhưng do hoàn cảnh khó khăn, sự việc này cũng đã được ông T xác nhận, đây là tình tiết, sự kiện không cần phải chứng minh theo quy định tại Điều 92 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Như vậy ông H đã thực hiện đúng quy định về việc báo trước một thời gian hợp lý cho ông T tại Khoản 2 Điều 469 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
Xét tại Khoản 1 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định trường hợp các bên có thỏa thuận về lãi suất thì lãi suất theo thỏa thuận không được vượt quá 20%/năm của khoản tiền vay. Việc ông H cho ông T vay tiền với lãi suất 3%/tháng, tương đương 36%/năm là vượt quá mức lãi suất pháp luật quy định, ông T cho rằng ông đã trả cho H số tiền lãi là 24.150.000đ (tương đương 23 tháng tiền lãi) nhưng ông T không đưa ra được các tài liệu, chứng cứ để chứng minh, ông H chỉ thừa nhận ông có nhận tiền lãi của H là 11.550.000đ, như vậy việc ông H thừa nhận có nhận tiền lãi 11.550.000đ của ông T và chỉ yêu cầu tính tiền lãi theo quy định của pháp luật tính đến ngày 25/4/2024 là có lợi cho ông T nên Hội đồng xét xử ghi nhận ý kiến này để làm căn cứ giải quyết vụ án.
Xét việc ông T không trả nợ gốc và lãi cho ông H theo đúng thoả thuận tại Giấy mượn tiền ngày 25/9/2020 là vi phạm nghĩa vụ trả nợ của bên vay quy định tại Điều 466 của Bộ luật Dân sự năm 2015, ông H yêu cầu tính lãi suất theo quy định của pháp luật từ ngày 25/10/2020 đến ngày 25/4/2024 là 03 năm 07 tháng, lãi suất được tính như sau: (35.000.000₫ x 20%/năm x 03 năm) + (35.000.000₫ x 20%/năm x 07 tháng) = 21.000.000đ + 4.083.333₫ = 25.083.333đ, ông T đã trả lãi cho ông H được 11.550.000đ, được cấn trừ vào số tiền lãi phải trả, như vậy ông T còn phải trả thêm cho ông H số tiền 25.083.333₫ - 11.550.000₫ = 13.533.333₫.
Tổng cộng tiền gốc và tiền lãi ông T phải trả cho ông H là 35.000.000đ + 13.533.333đ = 48.533.333₫.
[4] Về nghĩa vụ chịu án phí dân sự sơ thẩm:
Căn cứ Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, ông Lương Minh T phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm tính trên số tiền gốc và lãi phải trả cho ông Huỳnh Minh H.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào Khoản 3 Điều 26, Điểm a Khoản 1 Điều 35, Điểm a Khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 273 và Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- Căn cứ vào Điều 357, Điều 466, Điều 468 và Điều 469 của Bộ luật Dân sự năm 2015;
- Căn cứ vào Điều 6, Điều 7, Điều 26, Điều 30, Điều 31 và Điều 32 của Luật Thi hành án Dân sự năm 2008;
Tuyên xử:
- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là ông Huỳnh Minh H. Buộc ông Lương Minh T phải trả cho ông Huỳnh Minh H số tiền nợ gốc và nợ lãi tính đến ngày 25/4/2024 là 48.533.333₫ (Bốn mươi tám triệu năm trăm ba mươi ba triệu ba trăm ba mươi ba đồng).
- Án phí dân sự sơ thẩm: Án phí ông Lương Minh T phải chịu là 2.426.667₫ (Hai triệu bốn trăm hai mươi sáu triệu sáu trăm sáu mươi bảy đồng).
- Nguyên đơn được quyền kháng cáo Bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo Bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc từ ngày Bản án được niêm yết.
Thi hành ngay sau khi Bản án phát sinh hiệu lực pháp luật.
Kể từ ngày ông H có đơn yêu cầu thi hành án, nếu ông T chậm trả tiền thì phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được xác định theo thỏa thuận của các bên nhưng không được vượt quá mức lãi suất được quy định tại Khoản 1 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, nếu không có thỏa thuận thì thực hiện theo quy định tại Khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
Thi hành tại Chi cục Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án Dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án Dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Ngọc Thúy Ái |
Bản án số 231/2024/DS-ST ngày 09/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 231/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 09/05/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
