TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NAM TỪ LIÊM THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 231/2024/HSST | Ngày 02/8/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NAM TỪ LIÊM
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Mai Thị H
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Nguyễn Thị Thanh H
Bà Nguyễn Thị Thanh H
Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thùy T – Cán bộ Toà án
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lệ T - Kiểm sát viên.
Ngày 02/8/2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 203/2024/TLST-HS ngày 30/7/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 217/QĐXXST-HS ngày 31/7/2024 đối với bị cáo:
Lê Văn C, sinh năm 1989; HKTT: Thôn P, xã P, huyện C, Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam; Trình độ học vấn: 9/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông Lê Văn T và bà: Lê Thị H; Bị cáo chưa có vợ con; Tiền án tiền sự: Không
Nhân thân:
- Ngày 20/05/2013, Tòa án nhân dân huyện Chương Mỹ, Hà Nội xử 12 tháng tù về tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (chưa xóa án tích)
- Ngày 24/02/2014, Tòa án nhân dân huyện Chương Mỹ, Hà Nội xử 36 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, tổng hợp với 12 tháng tù bản án về tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, tổng hợp hình phạt là 48 tháng tù. (đã xóa án tích)
- Ngày 26/12/2023, Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long, Quảng Ninh xử 12 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản.
Bị cáo hiện đang chấp hành án tại Trại giam V- Cục C5 Bộ C6. Có mặt.
Bị hại:
- Anh Nguyễn Kim H1, sinh năm 1989
HKTT: Phượng Nghĩa, Xã P, huyện C, Hà Nội. - Anh Nguyễn Thế A, sinh năm 2003;
HKTT: Xã H, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ - Anh Trương Minh Q, sinh năm 2000;
HKTT: Thôn C, xã Á, huyện B, tỉnh Thanh Hóa
Vắng mặt
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- Anh Hồ Đại N, sinh năm 1994; Có mặt
HKTT: xã T, huyện P, TP Hà Nội - Anh Đàm Xuân T1, sinh năm 1992;
- Anh Đàm Xuân T2, sinh năm 1994
Cùng HKTT: phường Đ, quận H, TP Hà Nội - Anh Trịnh Cao P, sinh năm 1986;
HKTT: xã T, huyện P, tỉnh Hưng Yên. - Anh Hoàng Văn H2, sinh năm 1985 và vợ là Nguyễn Thị P1, SN 1989;
Cùng HKTT: Phường B, quận H, Hà Nội. - Anh Phan Anh D, sinh năm 2001;
HKTT: xã H, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ - Anh Lê Văn C1, sinh năm 1989;
HKTT: Xóm C, thôn P, xã P, huyện C, TP Hà Nội. - Chị Nguyễn Thị H3, sinh năm 1981;
HKTT: TDP C, TT T, huyện G, Hà Nội.
Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do không có việc làm ổn định nên Lê Văn C thường xuyên thay đổi chỗ làm. Lợi dụng mối quen biết với bạn bè tại nơi làm việc C thường mượn xe máy để đi giải quyết công việc cá nhân, sau khi giải quyết công việc xong, C đã nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản để bán lấy tiền chi tiêu cá nhân. Với thủ đoạn như trên C đã thực hiện 03 vụ lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản trên địa bàn thành phố Hà Nội cụ thể như sau:
Vụ thứ nhất: Do là bạn bè quen biết nên ngày 31/3/2023, Lê Văn C liên hệ hỏi mượn chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Airbblade màu đen - bạc, BKS: 29H1-743.16, số khung: RLHJF6306FZ438124, số máy: JF63E-1438136 của anh Nguyễn Kim H1 (sinh năm: 1989, NKTT: Phượng Nghĩa, P, C, Hà Nội) để đi chơi với bạn thì anh H1 đồng ý. Khoảng 14h00 chiều ngày 31/3/2023 C đến cửa hàng buôn bán nội thất đồ gỗ K (địa chỉ số B P, B, H, Hà Nội - là nơi làm việc của anh H1) để mượn xe máy và hẹn khoảng 17h00-18h00 cùng ngày C sẽ mang xe về trả. Sau khi mượn được xe C điều khiển xe máy đi chơi với bạn thì nảy sinh ý định chiếm đoạt chiếc xe trên để bán lấy tiền tiêu sài. Để bán được với giá cao hơn, C lý do có việc bận nên hẹn ngày 01/4/2023 sẽ trả xe. Sau đó, C nói xe
đang bị Công an tạm giữ, cần phải xuất trình giấy chứng nhận đăng ký xe thì mới lấy được xe về nên C bảo H1 giao cho C giấy chứng nhận đăng ký bản chính đối với chiếc xe máy trên để đi lấy xe về trả cho H1. Do tin tưởng nên H1 đã giao giấy chứng nhận đăng ký xe bản chính cho C vào ngày 02/4/2023 để C mang xe máy về trả cho H1. Ngày 03/4/2023, tại nhà anh Nguyễn Kim T3 (sinh năm: 1986; Trú tại: P, C, Hà Nội), C bán chiếc xe máy trên cho anh Hoàng Văn H2 (sinh năm: 1985) cùng vợ là chị Nguyễn Thị P1 (sinh năm 1989) cùng trú tại B, H, Hà Nội với giá 22.000.000 đồng. Đến ngày 04/4/2023 trên đường đi làm về anh H1 phát hiện chiếc xe máy trên đang ở cửa hàng sửa chữa, mua bán xe máy cũ Phúc Hậu (địa chỉ A Phượng B, B, H, Hà Nội - là cửa hàng của anh H2, chị P1) nên H1 gặp anh H2 thì được biết C đã bán cho anh H2 mà chưa có sự đồng ý của H1. Tại đây H1 liên hệ với C thì C thừa nhận sau đó C trao đổi với anh H2 và hứa sẽ chuộc xe trả lại cho H1 nên H1 ra về. Khoảng vài hôm sau C và H1 đến cửa hàng xe máy của anh H2 nói chuyện về việc C sẽ mua lại chiếc xe máy trên từ anh H2 với giá 23.000.000 đồng, do chưa đủ tiền nên C đưa trước cho anh H2 9.000.000 đồng, số tiền còn lại C đưa sau khi nào đưa đủ tiền thì C lấy xe về trả cho anh H1. Khoảng 10 ngày sau C đưa số tiền 14.000.000 đồng cho anh H2 rồi lấy lại chiếc xe máy trên. Tuy nhiên, sau khi lấy xe C không mang trả xe cho H1 mà ngày 18/4/2023 C mang chiếc xe này bán cho anh Đàm Xuân T1 (sinh năm: 1992) và Đàm Xuân T2 (sinh năm: 1994) cùng trú tại Đ, H, Hà Nội, với giá 22.500.000 đồng. Do không có nhu cầu sử dụng nên ngày 03/6/2023 anh T1 bán lại chiếc xe trên cho anh Hồ Đại N (sinh năm: 1994; Trú tại: T, P, Hà Nội), sau đó anh N lại bán lại chiếc xe trên cho anh Trịnh Cao P (sinh năm: 1986; Trú tại: T, P, Hưng Yên).
Do không thấy C trả xe và không liên lạc được với C đồng thời C vắng mặt khỏi địa phương nơi cư trú nên ngày 01/5/2023, anh Nguyễn Kim H1 đến Công an phường B, quận H trình báo sự việc.
Vật chứng thu giữ:
- 01 (một) xe máy nhãn hiệu Honda Airbblade màu đen bạc mang BKS: 29H1- 743.16, số khung: RLHJF6306FZ438124, số máy: JF63E-1438136 (do Trịnh Cao P giao nộp và được lập biên bản ngày 22/6/2023);
- 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô - xe máy số 026751, BKS 29H1-743.16 mang tên Đỗ Trọng Q1 (bản chính);
- 01 (một) giấy bán xe đề ngày 28/11/2021 (bản phô tô) do anh Nguyễn Kim H1 giao nộp;
- 01 (một) giấy bán xe đề ngày 03/4/2023 (bản chính) do chị Nguyễn Thị P1 giao nộp;
- 01 (một) giấy bán xe đề ngày 18/4/2023 (bản chính) do anh Đàm Xuân T1 giao nộp;
- 01 (một) giấy bán xe đề ngày 03/6/2023 (bản chính) do anh Hồ Đại N giao nộp;
- 01 (một) giấy bán xe đề ngày 17/6/2023 (bản chính) do anh Trịnh Cao P giao nộp;
Ngày 02/6/2023, Cơ quan CSĐT Công an quận H ra Yêu cầu định giá số 111 đối với chiếc xe máy bị chiếm đoạt (chưa thu được vật chứng). Tại Kết luận giám định số 128 ngày 05/6/2023 của Hội Đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự UBND quận H kết luận: Giá trị tài sản 01 (một) xe máy nhãn hiệu Honda Airblade màu đen, BKS: 29H-743.16, Số khung 438124, số máy: 1438136 (chưa thu được vật chứng) tại thời điểm định giá 31/3/2023 trị giá 24.800.000 đồng.
Ngày 17/7/2023, Cơ quan CSĐT Công an quận H ra Yêu cầu định giá số 150 đối với chiếc xe máy bị chiếm đoạt (đã thu được vật chứng). Tại Kết luận giám định số 175 ngày 17/7/2023 của Hội Đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự UBND quận H kết luận: Giá trị tài sản 01 (một) xe máy nhãn hiệu Honda Airblade màu đen, BKS: 29H-743.16, Số khung 438124, số máy: 1438136 (đã thu được vật chứng) tại thời điểm định giá 31/3/2023 trị giá 24.800.000 đồng.
Ngày 17/7/2023, Cơ quan CSĐT Công an quận H ra Quyết định trưng cầu giám định số 513: giám định 01 giấy bán xe đề ngày 03/4/2023 được viết bằng mực xanh lam; 01 giấy mua bán xe đề ngày 18/4/2024 được viết bằng mực màu đen.
Tại Kết luận giám định số 5587 ngày 22/8/2023 của Phòng K Công an thành phố H kết luận: “Chữ viết, chữ ký đứng tên Lê Văn C trên các mẫu cần giám định ký hiệu A1, A2 (trừ chữ viết từ dòng “Địa chỉ: 2112 UP6 BĐLĐ Hoàng Liệu H M” đến dòng “Tôi đã nhận đầy đủ số tiền và giao xe A Hậu” trên mẫu cần giám định (ký hiệu A1) với chữ viết, chữ ký đứng tên Lê Văn C trên các mẫu so sánh ký hiệu từ M1 đến M3 là chữ do cùng một người viết và ký tên. Không đủ cơ sở kết luận chữ viết từ dòng: “Địa chỉ 2112 UP6 BĐLĐ Hoàng Liệt H M” đến dòng “Tôi đã nhận đầy đủ số tiền và giao xe cho A H4” trên mẫu cần giám định ký hiệu Al với chữ viết đứng tên Lê Văn C trên các mẫu so sánh ký hiệu từ M1 đến M3 có phải là chữ do cùng một người viết ra hay không.”
Ngày 26/7/2023, Cơ quan CSĐT Công an quận H ra Quyết định trưng cầu giám định số 535: giám định xe máy Honda airblade BKS 29H1-743.16.
Tại Kết luận giám định số 5108 ngày 01/8/2023 của Phòng K Công an thành phố H kết luận: Xác định số khung nguyên thủy của xe PLHJF6306FZ438124, số máy: JF63F-1438136. Hoàn trả xe máy cho cơ quan trưng cầu giám định
Quá trình điều tra xác định: Chiếc xe trên đăng ký xe đứng tên Đỗ Trọng Q1, sinh năm 1983, HKTT H, quận H, TP Hà Nội sau đó bán cho Bùi Đức H5 (sinh năm 1982, HKTT: K, huyện Đ, TP Hà Nội) tháng 11/2021 và bán lại cho anh Nguyễn Kim H1. Ngày 02/9/2023, Cơ quan CSĐT Công an quận H trả lại chiếc xe máy Honda airblade BKS 29H1-743.16 cho chủ sở hữu hợp pháp Nguyễn Kim H1.
Đối với Hoàng Văn H2, Nguyễn Thị P1, Nguyễn Kim T3, Đàm Xuân T1, Đàm Xuân T2, Hồ Đại N, Trịnh Cao P – là những người mua xe máy của C. Quá trình điều tra xác định khi mua chiếc xe trên những người này không biết là do Lê Văn C phạm tội mà có (do C nói dối là xe mua lại chưa sang tên và có đăng ký xe bản chính) do đó Cơ quan điều tra không xem xét xử lý.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Nguyễn Kim H1 và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Hoàng Văn H2, Nguyễn Thị P1, Đàm Xuân T1, Đàm Xuân T4 không có yêu cầu, đề nghị gì về bồi thường dân sự.
Anh Trịnh Cao P là người mua lại chiếc xe từ anh Hồ Đại N nhưng đã được anh N tự nguyện bồi thường số tiền 26.500.000 đồng nên không có yêu cầu đề nghị gì.
Anh Hồ Đại N yêu cầu Lê Văn C bồi thường dân sự số tiền 24.800.000 đồng.
Vụ thứ 2: Khoảng 12h ngày 17/4/2023, anh Nguyễn Thế A (sinh năm: 2003, NKTT: xã H, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ) có mượn 01 xe máy Honda Lead màu vàng BKS: 29T1-56639 của anh Phan Anh D (SN: 2001; HKTT: xã H, Đ, Phú Thọ) là bạn cùng quê và hiện đang ở cùng phòng trọ với anh Thế A tại số C, ngõ B T, N, Hà Nội để đi làm ở quán nướng (địa chỉ số A X, TDP số D H, Phương C2, N, Hà Nội). Đến khoảng 15h cùng ngày, Lê Văn C là người làm cùng với anh Thế A tại quán nướng hỏi mượn xe máy Honda Lead BKS: 29T1- 56639 để đi về quê vay tiền trả nợ. C nói “Cho anh mượn xe đi có việc, đến tối về anh trở”. Do là người làm cùng với mình nên anh Thế A tin tưởng và đồng ý cho C mượn xe máy. Tại quán nước chè mặt đường X quán nướng khoảng 100m (thuộc TDP số 3 H, P, N, Hà Nội), anh Thế A đưa xe cùng chìa khóa cho C mượn và thống nhất trả xe vào 18h tối cùng ngày. Sau khi mượn được xe máy của anh Thế A, C đã đi về nhà tại P, C, Hà Nội để vay tiền nhưng không vay được. Đến khoảng 19h cùng ngày do vẫn không vay được tiền nên C đã gọi điện thoại cho bạn là Lê Văn C1 (sinh năm: 1989, NKTT: xóm C, thôn P, xã P, C, Hà Nội) hỏi vay tiền C1 và đặt xe máy lại làm tin. Cầm hẹn C đến khu vực dốc C3 (xã P, C, Hà Nội), tại đây C hỏi vay Cầm 7.000.000đồng (không lãi suất) hẹn 15 ngày sau sẽ trả. Cầm đồng ý cho vay, để làm tin C để lại chiếc xe máy Honda Lead màu vàng BKS: 29T1- 56639. Do C không có tài khoản nên C1 chuyển khoản số tiền 7.000.000 đồng vào tài khoản của cửa hàng điện thoại “H” (của anh Lê Văn Đ, sinh năm: 1982, NKTT: cụm F, xã P, xã P, C, Hà Nội) số tài khoản 0977420535 mang tên Le Thi Thu H6 – vợ anh Lê Văn Đ, mở tại ngân hàng M1 sau đó C ra cửa hàng điện thoại “H” để lấy số tiền 7.000.000 đồng Cầm vừa chuyển. Số tiền trên C đã chi tiêu cá nhân hết.
Khoảng 16h cùng ngày Thế A gọi điện thoại yêu cầu C đem xe về trả nhưng C nói đang giải quyết công việc lát sẽ ra trả sau. Khoảng 20h cùng ngày, Thế A tiếp tục gọi điện thoại yêu cầu trả xe nhưng C vẫn trả lời là chưa giải quyết xong công việc, đến 22h cùng ngày do Thế A liên tục gọi điện thoại yêu cầu C trả xe nên C đã nói với anh Thế A là “đã đem xe đi cầm cố số tiền 15.000.000 đồng, C đang có 8.000.000 đồng, Thế A xem vay giúp cho C thêm 7.000.000 đồng để C lấy xe ra”, tuy nhiên anh Thế A không đồng ý và yêu cầu C trả lại xe ngay nên C đã trốn tránh không gặp, không nghe điện thoại của Thế A nên ngày 07/5/2023 anh Thế A đã đến Cơ quan Công an trình báo.
Đối với chiếc xe máy Honda Lead màu vàng, BKS: 29T1- 566.39, quá trình điều tra xác định xe có số khung, số máy là số nguyên thủy, đăng ký xe mang tên Nguyễn Thị H7 (Nơi thường trú: Đa Sỹ, K, H, Hà Nội). Bà H7 ủy quyền cho anh Phan Anh D được toàn quyền sử dụng từ ngày 04/10/2022.
Cơ quan điều tra đã tiến hành triệu tập Lê Văn C1, tuy nhiên Cầm không có mặt theo giấy triệu tập. Bà Nguyễn Thị H8 (sinh năm: 1962, NKTT: xóm C, xã P, C, Hà Nội) – là mẹ ruột của Lê Văn C1 cung cấp: Lê Văn C1 hiện không có mặt ở nhà. Chiếc xe Honda Lead màu vàng, BKS: 29T1- 566.39 Cầm để ở nhà từ tháng 8/2023 đến nay. Khi biết chiếc xe là tang vật vụ án nên bà H8 tự nguyện giao nộp chiếc xe trên cho Cơ quan điều tra để giải quyết.
Tang vật thu giữ:
- 01 xe máy Honda Lead màu vàng, BKS: 29T1-566.39 (do bà Nguyễn Thị Hồng giao nộp ngày 13/10/2023).
Tại Kết luận định giá tài sản số 253 ngày 06/11/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự UBND quận N, kết luận: 01 xe máy Honda Lead màu vàng, BKS: 29T1- 566.39, SK: 72713; SM: 0740469 trị giá 13.000.000 đồng.
Đối với anh Lê Văn Đ, quá trình điều tra xác định khi nhận chuyển tiền của C1 sau đó giao cho C, anh Đ không biết nên Cơ quan điều tra không xem xét xử lý.
Ngày 28/02/2024, Cơ quan điều tra đã ra quyết định xử lý vật chứng và trao trả chiếc xe máy Honda Lead màu vàng, BKS: 29T1- 566.39 cho anh Phan Anh D, anh D đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì về dân sự.
Vụ thứ 3: Khoảng tháng 7 năm 2023, anh Trương Minh Q (sinh năm: 2000, NKTT: thôn C, Á, B, Thanh Hóa; Chỗ ở: F Cửu V, TT Trâu Quỳ, G, Hà Nội) và C cùng làm nhân viên phục vụ tại quán ăn H9 (địa chỉ: Khu C hecta thị trấn T, G, Hà Nội). Khoảng 16 giờ 40 phút ngày 13/8/2023, C hỏi mượn Q số tiền 2.000.000 đồng và chiếc xe máy nhãn hiệu SUZUKI Raider, BKS: 36G5-355.81 để đi lấy máy sáy tóc và ấm đun nước C đặt mua trước đó. Q đồng ý và bảo C đi về trả xe máy ngay cho anh Q. Sau khi có tiền và mượn được xe, C điều khiển xe máy đi về gần khu phòng trọ tại số F C, TT T, G, Hà Nội lấy máy sáy tóc và ấm đun nước. Sau đó C nảy sinh ý định chiếm đoạt xe máy nhãn hiệu SUZUKI Raider, BKS: 36G5-355.81 của anh Q để cầm cố lấy tiền tiêu cá nhân. Khoảng 17 giờ 30 phút cùng ngày C điều khiển xe máy đi đến nhà chị Nguyễn Thị H3, (sinh 1981; trú tại TDP C, TT T, G, Hà Nội) cầm cố chiếc xe máy trên cho chị H3 được số tiền 5.000.000 đồng. Đến khoảng 18 giờ 30 phút cùng ngày, anh Q nhắn tin nhiều lần đòi lại xe máy nhưng C hẹn ngày 14/8/2023 sẽ trả nhưng đến trưa ngày 14/8/2023, C bỏ trốn xuống Quảng Ninh đi lang thang tại khu vực thành phố H, anh Q nhắn tin đòi xe máy thì C nhắn tin trả lời đã cầm cố xe lấy tiền, sau đó C chặn số điện thoại của anh Q. Đến ngày 20/8/2023, C làm thuê tại quán của chị Trương Thị T5 (sinh 1988, trú tại Tổ E, Khu A, Hồ N, thành phố H, Quảng Ninh). Ngày 03/9/2023, C có hành vi trộm 01 xe máy Honda Lead của chị T5 thì bị Công an thành phố H bắt giữ.
Vật chứng thu giữ
- 01 xe máy nhãn hiệu SUZUKI Raider BKS: 36G5-355.81 (do chị Nguyễn Thị H3 giao nộp).
Tại Kết luận định giá số 167 ngày 26/10/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện G kết luận: 01 chiếc xe máy nhãn hiệu SUZUKI Raider, màu đỏ đen, BKS: 36G5-355.81, số khung RLSDL11ANNV165942, số máy CGA1566015, xe cũ đã qua sử dụng, mua từ tháng 7/2022, tại thời điểm xảy ra vụ việc ngày 13/8/2023 có trị giá 40.000.000 đồng.
Đối với chị Nguyễn Thị H3 là người cầm cố chiếc xe máy nhãn hiệu SUZUKI Raider, BKS: 36G5-355.81 của bị can C. Chị H3 không biết nguồn gốc chiếc xe máy C mượn để mang đi cầm cố. Nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để xử lý. Chị H3 không yêu cầu C phải bồi thường số tiền 5.000.000 đồng.
Đối với số tiền 2.000.000 đồng, anh Q đồng ý cho bị cáo C mượn là quan hệ dân sự. Anh Q yêu cầu C trả lại số tiền trên.
Đối với 01 xe máy nhãn hiệu SUZUKI Raider BKS: 36G5-355.81 thu giữ của Nguyễn Thị H3. Quá trình điều tra xác định là tài sản của anh Trương Minh Q. Ngày 15/01/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện G đã ra Quyết định xử lý vật chứng trao trả chiếc xe trên cho anh Q, anh Q đã nhận lại xe và không có yêu cầu gì.
Tại cơ quan điều tra, Lê Văn C đã khai nhận hành vi phạm tội nêu trên. Lời khai nhận tội của Lê Văn C phù hợp với lời khai bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, phù hợp với vật chứng đã thu giữ và các tài liệu điều tra khác.
- Căn cứ các Điều 41, 236, 239 và 243 Bộ luật Tố tụng hình sự;
- Căn cứ Quyết định khởi tố vụ án hình sự số 457 ngày 28 tháng 10 năm 2023, Quyết định khởi tố bị can số 947 ngày 26 tháng 12 năm 2023 của Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an quận N, Hà Nội đối với: Lê Văn C, về tội: Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, quy định tại khoản 1 Điều 175 Bộ luật Hình sự;
- Căn cứ Quyết định khởi tố vụ án hình sự số 09 ngày 07/01/2024, Quyết định khởi tố bị can số 15 ngày 07/01/2024, của Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an huyện G đối với: Lê Văn C về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 175 Bộ luật hình sự;
- Căn cứ Quyết định khởi tố vụ án hình sự số 121 ngày 01/3/2024 và Quyết định khởi tố bị can số 137 ngày 01/4/2024 của Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an quận H, TP Hà Nội đối với: Lê Văn C về tội: “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 175 Bộ luật Hình sự;
- Căn cứ Bản kết luận điều tra vụ án hình sự số 47 ngày 28 tháng 02 năm 2024 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận N, Hà Nội.
- Căn cứ Bản kết luận điều tra vụ án hình sự số 162 ngày 26/4/2024, Kết luận điều tra bổ sung số 269 ngày 16/7/2024 của Cơ quan CSĐT Công an quận H.
- Căn cứ Bản kết luận điều tra số 31 ngày 05/3/2024 của Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an huyện G.
- Căn cứ quyết định chuyển vụ án hình sự để truy tố theo thẩm quyền số 01 ngày 15 tháng 7 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Lâm; Quyết định chuyển vụ án hình sự để truy tố theo thẩm quyền số 30 ngày 18 tháng 7 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông.
- Căn cứ quyết định nhập vụ án hình sự số 01 ngày 22 tháng 7 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm.
Tại bản cáo trạng số 199/CT-VKS ngày 24/7/2024, Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội đã truy tố Lê Văn C về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”, theo điểm c khoản 2 Điều 175 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng đã truy tố và xin được giảm nhẹ hình phạt.
Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo theo nội dung bản cáo trạng, sau khi phân tích các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: Điểm c khoản 2 (dẫn chiếu Điểm a Khoản 1) Điều 175; Điểm g Khoản 1 Điều 52; Điểm s khoản 1 Điều 51; Khoản 1 Điều 56; Điều 38; Điều 47; Khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự; Điểm b Khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự; Điều 584, 585, 586, 589 Bộ luật dân sự, xử phạt bị cáo Lê Văn C từ 36 đến 42 tháng tù.
Về dân sự:
Buộc bị cáo phải có trách nhiệm bồi thường cho người liên quan là anh Hồ Đại N số tiền 24.800.000 đồng; Buộc bị cáo truy nộp số tiền 5.000.000 đồng vào Ngân sách Nhà nước.
- Bị hại: Anh Nguyễn Kim H1; anh Nguyễn Thế A; anh Trương Minh Q đã nhận tài sản không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm, nên không xét.
- Người liên quan: Anh Hoàng Văn H2, chị Nguyễn Thị P1, anh Đàm Xuân T1, anh Đàm Xuân T4, anh Phan Anh D, anh Trịnh Cao P không có yêu cầu gì về dân sự, nên không xét.
Về vật chứng: Không.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an quận N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định trong Bộ luật tố tụng hình sự. Tại quá trình điều tra, bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã khai nhận:
Trong các ngày 31/3/2023, 17/4/2023 và ngày 13/8/2023, Lê Văn C đã lợi dụng quen biết để mượn xe máy của người quen để đi giải quyết công việc cá nhân, sau đó C nảy sinh ý định chiếm đoạt những chiếc xe đã mượn để bán hoặc đem đi cầm cố lấy tiền chi tiêu cá nhân hết sau đó chặn liên lạc và bỏ trốn khỏi địa phương và không có khả năng trả lại. Bằng các thủ đoạn như trên, C đã thực hiện 03 vụ chiếm đoạt tài sản trên địa bàn thành phố Hà Nội, cụ thể:
Vụ thứ nhất: Ngày 31/3/2023, tại số B P, B, H, Hà Nội, Lê Văn C đã mượn chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Airbblade màu đen bạc mang BKS: 29H1-743.16, số khung: RLHJF6306FZ438124, số máy: JF63E-1438136 trị giá 24.800.000 đồng của anh Nguyễn Kim H1 (sinh năm: 1989, NKTT: Phượng Nghĩa, P, C, Hà Nội). Sau đó nói dối xe bị cơ quan công an giữ để bảo anh H1 đưa đăng ký xe bản chính rồi C đem bán chiếc xe trên lấy tiền chi tiêu cá nhân hết và C chặn số điện thoại của anh H1 sau đó bỏ trốn khỏi nơi cư trú.
Vụ thứ hai: Ngày 17/4/2023, tại TDP số D H, P, N, Hà Nội, Lê Văn C đã mượn chiếc xe máy Honda Lead màu vàng, BKS: 29T1- 566.39 trị giá 13.000.000 đồng của anh Nguyễn Thế A. Đến 19h cùng ngày, C đem chiếc xe trên đi đặt cho anh Lê Văn C1 lấy số tiền 7.000.000 đồng và đã sử dụng chi tiêu cá nhân hết sau đó nghỉ việc và cắt đứt liên lạc với anh Thế A.
Vụ thứ ba: Ngày 13/8/2023, tại khu đất 31 ha, TT T, G, Hà Nội, Lê Văn C hỏi vay số tiền 2.000.000 đồng và hỏi mượn chiếc xe máy hiệu Suzuki Raider màu đỏ - đen, BKS 36G5 – 355.81 trị giá 40.000.000 đồng của anh Trương Minh Q sau đó C đem chiếc xe trên đặt vay số tiền 5.000.000 đồng của chị Nguyễn Thị H3 và đã sử dụng chi tiêu cá nhân hết sau đó cắt đứt liên lạc với anh Q và không có mặt tại nơi cư trú.
Tổng trị giá tài sản bị cáo chiếm đoạt là 77.800.000 đồng
Bị cáo khai nhận tội. Tài sản đã thu hôi và trả lại bị hại.
Đối với số tiền 2.000.000 đồng, anh Q đồng ý cho bị cáo C mượn là quan hệ dân sự. Không liên quan đến vụ án này.
[3] Hành vi của bị cáo đã cấu thành tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”, theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 175 Bộ luật hình sự. Như vậy, Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm truy tố bị cáo là có căn cứ và đúng quy định pháp luật.
[4] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ. Khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo nhận thức được việc mượn tài sản rồi tự ý chiếm đoạt tài sản của người khác là hành vi vi phạm pháp luật, nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Bị cáo đã từng nhiều lần vi phạm pháp luật, bị xử phạt tù nhưng không lấy đó là bài học mà lại tiếp tục vi phạm. Hành vi phạm tội lần này của bị cáo C là phạm tội 02 lần trở lên theo điểm g khoản 1 Điều 52. Vì vậy, để đảm bảo trật tự pháp luật, giáo dục phòng ngừa chung tình hình tội phạm cần phải có mức án tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Hội đồng xét xử xem xét: Tại phiên tòa, bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải nên áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
Từ những phân tích, đánh giá về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cần cách ly bị cáo ra khỏi một thời gian để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
[5] Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo chưa có việc làm ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[6]. Về dân sự:
Buộc bị cáo phải có trách nhiệm bồi thường cho người liên quan là anh Hồ Đại N số tiền 24.800.000 đồng.
- Bị hại: Anh Nguyễn Kim H1; anh Nguyễn Thế A; anh Trương Minh Q đã nhận tài sản không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm, nên không xét.
- Người liên quan: Anh Hoàng Văn H2, chị Nguyễn Thị P1, anh Đàm Xuân T1, anh Đàm Xuân T4, anh Phan Anh D, anh Lê Văn C4, anh Trịnh Cao P không có yêu cầu gì về dân sự, nên không xem xét.
Chị Nguyễn Thị H3 là Người có quyền lợi và Nghĩa vụ liên quan không yêu cầu bị cầu bị cáo bồi thường số tiền 5.000.000 đồng, nên không xét.
[7]. Về vật chứng: Không.
[8]. Bị cáo phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ theo điểm c khoản 2 Điều 175; Điểm g Khoản 1 Điều 52; Điểm s khoản 1 Điều 51; Khoản 1 Điều 56; Điều 38 Bộ luật hình sự. Điều 584, 585, 586, 589 Bộ luật dân sự.
Tuyên bố: Bị cáo Lê Văn C phạm tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản.
Xử phạt bị cáo Lê Văn C 04 (B) năm tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”. Tổng hợp hình phạt với Bản án số 300/2023/HS-ST ngày 26/12/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh xử phạt 12 (mười hai) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của 02 bản án là 05 (năm) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 09/9/2023.
Về dân sự:
Buộc bị cáo phải có trách nhiệm bồi thường cho người liên quan là anh Hồ Đại N số tiền 24.800.000 đồng.
- Bị hại: Anh Nguyễn Kim H1; anh Nguyễn Thế A; anh Trương Minh Q đã nhận tài sản không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm, nên không xét.
- Người liên quan: Anh Hoàng Văn H2, chị Nguyễn Thị P1, anh Đàm Xuân T1, anh Đàm Xuân T4, anh Phan Anh D, anh Trịnh Cao P không có yêu cầu gì về dân sự, nên không xét.
Chị Nguyễn Thị H3 là Người có quyền lợi và Nghĩa vụ liên quan không yêu cầu bị cầu bị cáo bồi thường số tiền 5.000.000 đồng, nên không xem xét.
Về vật chứng: Không.
Về án phí và quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 135, khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333, điều 337 Bộ luật tố tụng hình sự 2015; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 1.240.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Bị cáo và Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là anh Hồ Đại N có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa tuyên án.
Bị hại, Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Mai Thị H |
Bản án số 231/2024/HSST ngày 02/08/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NAM TỪ LIÊM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
- Số bản án: 231/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 02/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NAM TỪ LIÊM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: L.V.C phạm tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
