|
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Bản án số: 231/2025/HS-PT Ngày 11 - 4 - 2025 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh Phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Hoàng Tấn
Các Thẩm phán: 1/ Ông Dương Anh Văn
2/ Ông Trần Ngọc Tuấn
Thư ký phiên tòa: Bà Tiếu Phương Quyền, Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân: Ông Lê Tấn Cường, Kiểm sát viên cao cấp Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
Ngày 11/4/2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 886/2024/TLPT-HS ngày 01/10/2024. Do có kháng cáo của bị cáo Tạ Văn N, đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 231/2024/HS-ST ngày 28/10/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai.
- Bị cáo kháng cáo: Tạ Văn N, sinh năm 1985 tại Đồng Nai. Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 12/12. Nghề nghiệp: Kinh doanh tự do; Nơi cư trú: 32 hẻm E, khu phố C, tổ C, đường N, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; Con ông Tạ Văn C, sinh năm 1959 và bà Tạ Thị C1, sinh năm 1957. Gia đình có 05 anh chị em, bị cáo là con thứ 2 trong gia đình; Bị cáo có vợ tên Nguyễn Thị H, có 02 con lớn sinh năm 2011, nhỏ sinh năm 2015; Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Ngày 07/01/2021 bị Tòa án nhân dân huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên tuyên phạt 03 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Hiện chưa chấp hành án.
Ngày 12/10/2024 bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ bắt theo Quyết định truy nã, chuyển tạm giam theo Lệnh giam số 428/LTG-CSHS-Đ4 ngày 18/10/2022 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Đ (Có mặt).
Người bào chữa cho bị cáo Tạ Văn N: Luật sư Lê Văn T, thuộc Đoàn luật sư tỉnh Đ (Có mặt).
Địa chỉ: số A (B22 cũ), đường N, Khu phố B, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
Trong vụ án này còn có bị cáo Hồ Nam K, không kháng cáo nên tòa không triệu tập.
Ngoài ra, còn có 12 người bị hại và 36 người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có kháng cáo, nện Tòa không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trong thời gian từ ngày 04/7/2019 đến ngày 10/2020, được sự giúp sức và thỏa thuận trước với Tạ Văn N, thì Hồ Nam K đã có hành vi thuê 23 xe của các bị hại anh Bùi Đình S, Phan Thị Hồng T1, Phạm Minh C2, Trần Tâm N1, Đặng Hồng Đ, Trần Ngọc A, Vũ Minh C3, Vũ Minh T2, Trần Văn T3, Phạm Văn H1, Nguyễn Đức H2 và Nguyễn Văn B với tổng giá trị 15.083.000.000 đồng sau đó cầm cố cho Tạ Văn N, Tạ Văn N2, Vũ Minh T2, Nguyễn Trung H3 và đối tượng T4, L lấy 3.247.000.000 đồng tiêu xài. Trong đó, Tạ Văn N thỏa thuận trước với Hồ Nam K để nhận cầm 14 chiếc xe tổng giá trị 8.814.000.000 đồng, giúp Hồ Nam K thu lợi bất chính số tiền 2.255.000.000 đồng, cụ thể:
K chiếm đoạt của anh Bùi Đình S 05 xe ô tô với tổng giá trị 2.130.000.000 đồng gồm: T5 biển số 51F – 585.47; Toyota Vios biển số 51F – 895.61; Ford Forcus Biển số 51G – 346.61; Toyota Fortuner biển số 51A – 243.47; Chevrolet Cruz biển số 51A – 778.35, cầm cho Tạ Văn N thu lợi bất chính 775.000.000 đồng.
K chiếm đoạt của chị Phan Thị Hồng T1 05 xe ô tô với tổng trị giá 3.584.000.000 đồng gồm: M1 biển số 51G-164.22, Toyota Vios biển số 51G – 637.86 và xe ô tô Mazda 3 biển số 51H – 013.72, Maxda 3 biển số 51H – 071.14, Mercedes C250 biển số 92A – 142.74, cầm cho Tạ Văn N thu lợi bất chính 890.000.000 đồng.
K chiếm đoạt xe Honda CRV biển số 60A – 494.97 trị giá 1.050.000.000 đồng của anh Phạm Minh C2, cầm cho Tạ Văn N thu lợi bất chính 250.000.000 đồng.
K chiếm đoạt xe Chervrolet Cruze 51F – 732.97 trị giá 420.000.000 đồng của anh Trần Tâm N1, cầm cho Tạ Văn N thu lợi bất chính 70.000.000 đồng.
K chiếm đoạt xe Chervrolet Captiva biển số 51G – 746.32 trị giá 190.000.000 đồng của anh Đặng Hồng Đ1
K chiếm đoạt xe Huyndai Accent biển số 83A – 087.71 trị giá 420.000.000 đồng của anh Trần Ngọc A, cầm cho Tạ Văn N2 thu lợi bất chính 80.000.000 đồng.
K chiếm đoạt xe Kia biển số 60A – 698.62, ô tô Kia Rondo biển số 60A – 463.20 trị giá 1.210.000.000 đồng của ông Vũ Minh C3, cầm cho Tạ Văn N2 thu lợi bất chính 190.000.000 đồng.
K chiếm đoạt xe Mazda CX5 biển số 49A-298.62 trị giá 960.000.000 đồng của Vũ Minh T2, cầm cho Nguyễn Trung H3 thu lợi bất chính 190.000.000 đồng.
K chiếm đoạt xe Chevrolet colorado biển số 51D-271.55 trị giá 490.000.000 đồng của Vũ Minh T2, cầm cho đối tượng tên T4 thu lợi bất chính 200.000.000 đồng.
K chiếm đoạt xe Innova 51G-901.71, Innova 51G-296.04 trị giá 1.430.000 của anh Trần Văn T3, cầm cho Vũ Minh T2 thu lợi bất chính 272.000.000 đồng.
K chiếm đoạt xe Toyota Vios biển số 51F – 578.05 trị giá 250.000.000 đồng của anh Nguyễn Đức H2, bán cho Vũ Minh T2 thu lợi bất chính 63.000.000 đồng.
K chiếm đoạt xe Kia Cerento biển số 60A – 457.27 trị giá 550.000.000 đồng của anh Phạm Văn H1, cầm cho đối tượng L lấy 150.000.000 đồng.
K chiếm đoạt xe Honda City 60A – 613.40 màu trắng, trị giá 600.000.000 đồng của anh Nguyễn Văn B, bán cho Vũ Minh T2 thu lợi bất chính 117.000.000 đồng.
Bên cạnh đó, K còn liên hệ chị Phạm Thị Ngọc D làm giả thủ tục để đăng ký, cấp lại con dấu Công ty TNHH MTV N4 và K sử dụng con dấu này với chức danh Giám đốc Công ty để ký hợp đồng thuê các xe Chevrelet Colorado biển số 51D – 271.55, M2 CX 5 biển số 49A – 298.62, Toyota Innova biển số 51G – 901.71, Toyota Innova biển số 51G – 296.04 của anh Vũ Minh T2, Trần Văn T3 để đem đi cầm cố lấy tiền, tổng trị giá bị 04 xe ô tô này là 2.880.000.000 đồng.
Tóm lại, Hồ Nam K đã thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt 23 chiếc xe của các bị hại với tổng trị giá 15.083.000.000 đồng, thu lợi bất chính 3.247.000.000 đồng. Tạ Văn N đồng phạm giúp sức cho Hồ Nam K thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản tổng cộng 14 chiếc với tổng trị giá 8.814.000.000 đồng.
Ngoài ra, Hồ Nam K còn sử dụng con dấu giả và sử dụng với tư cách là Phó giám đốc của Công ty TNHH MTV N4 để ký hợp đồng thuê xe nhằm lừa đảo chiếm đoạt tài sản.
Tại Bản Cáo trạng số 36/CT-VKS-P2 ngày 23/02/2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai, có nội dung: Truy tố bị cáo Hồ Nam K về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và tội “Sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” quy định điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự và điểm b, c khoản 3 Điều 341 Bộ luật Hình sự.
Truy tố Tạ Văn N về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” quy định điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 231/2024/HS-ST ngày 28/10/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng, đã tuyên xử:
Áp dụng khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 58; khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Tuyên bố bị cáo Tạ Văn N phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Xử phạt bị cáo Tạ Văn N 17 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 12/10/2022.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên xử về tội danh và hình phạt của bị cáo Hồ Nam K, còn giải quyết các vấn đề về trách nhiệm bồi thường dân sự, tang vật, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.
Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo Tạ Văn N làm đơn kháng cáo, nêu lý do:
Bị cáo xin xem xét lại tội trạng và xét lại trách nhiệm liên đới bồi thường cho bị cáo.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Bị cáo N thay đổi yêu cầu, nay chỉ xin được xem xét giảm nhẹ mức án và không kêu oan, bị cáo thành khẩn nhận tội.
Tuy nhiên, trong quá trình xét hỏi của Viện kiểm sát và Hội đồng xét xử thì bị cáo đã thay đổi yêu cầu và bị cáo vẫn một mực kêu oan cho rằng bị cáo không có hành vi phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản.
Luật sư bảo vệ cho bị cáo thì đề nghị Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết giảm nhẹ cũng như xem xét đến hoàn cảnh phạm tội của bị cáo để giảm nhẹ một phần cho bị cáo. Trong đó luật sư có đề nghị xem xét đối với các khoản tiền liên đới bồi thường.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm cho rằng: Hành vi phạm tội của bị cáo, dù không thừa nhận nhưng các bị cáo khác trong vụ án đã khai nhận bị cáo là người chỉ điểm, là người giúp sức tích cực cho bị cáo K và trong quá trình phạm tội thì bị cáo cũng đã thực hiện việc nhận tiền của những người bị hại. Viện kiểm sát đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo N.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu tài liệu có trong hồ sơ vụ án, thẩm tra các chứng cứ tại phiên tòa, nghe bị cáo trình bày, nghe đại diện Viện kiểm sát và luật sư phát biểu quan điểm, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục kháng cáo: Đơn kháng cáo của bị cáo Tạ Văn N làm trong hạn luật định, nên thủ tục kháng cáo hợp lệ.
[2] Về nội dung giải quyết yêu cầu kháng cáo của bị cáo:
[2.1] Thời gian từ ngày 04/7/2019 đến ngày đến tháng 10/2020, được sự giúp sức và thỏa thuận trước với Tạ Văn N, thì Hồ Nam K đã thuê 23 xe của những người bị hại. Những người bị hại gồm có anh chị Bùi Đình S, Phan Thị Hồng M, Phạm Minh C2, Trần Tâm N1, Đặng Hồng Đ, Trần Ngọc A, Vũ Minh C3, Vũ Minh T2, Trần Văn T3, Phạm Văn H1, Nguyễn Đức H2 và Nguyễn Văn B với tổng số tài sản là các xe nêu trên trị giá là 15.083.000.000 đồng, sau đó cầm cố cho Tạ Văn N3, Tạ Văn N2, Vũ Minh T2, Nguyễn Trung H3 và đối tượng tên Tuân L để lấy 3.247.000.000 đồng tiêu xài. Trong đó Tạ Văn N thỏa thuận trước với Hồ Nam K để nhận cầm 14 chiếc xe, tổng giá trị là 8.814.000.000 đồng giúp cho K thu lợi bất chính số tiền hai 2.255.000.000 đồng.
[2.2] Tòa án cấp sơ thẩm đã căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ, căn cứ lời khai nhận của các bị cáo, của những người nhân chứng, của những người bị hại để xét xử bị cáo Hồ Nam K về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự và “Sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” theo điểm b điểm c khoản 3 Điều 341 Bộ luật Hình sự và đã xử phạt bị cáo K về hai tội này với mức án tổng hợp là 21 năm tù. Bị cáo K không có kháng cáo và chấp nhận thi hành án.
Đối với bị cáo N, bị cáo không thừa nhận hành vi phạm tội của mình nhưng lời khai của Hồ Nam K khẳng định N là người chỉ giúp K lập công ty. Nhị hứa trước với K sau khi thuê xe cứ đem xe đến cầm cho N, N nói K thuê xe dài hạn để đối phó khi khách đòi xe.
Ngoài ra, khi bị hại phát hiện, N biết rõ chiếc xe Accent xét số 86A-08771 của anh Trần Ngọc A ở đâu nhưng N yêu cầu anh Ngọc A phải đưa tiền thì mới chỉ xe.
Việc bị cáo N hỗ trợ, giúp sức đã tạo tạo điều kiện cho K thực hiện hành vi tội phạm. Mặc dù số tài sản do K xâm hại lớn hơn tài sản do N xâm hại, nhưng vai trò của N và K là ngang nhau.
Tòa án cấp sơ thẩm đã xác định vai trò của bị cáo N như trên là phù hợp với những tài liệu, chứng cứ cũng như lời khai của các bị cáo, của người bị hại có trong hồ sơ. Ngoài lời khai của Hồ Nam K thì các lời khai khác của các bị cáo khác hay là những người liên quan khác như Tạ Văn N2 là anh ruột của bị cáo N, Nguyễn Đức H2 là người liên quan và căn cứ lời khai của các đương sự khác trong vụ án.
Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo N về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự với vai trò đồng phạm giúp sức tích cực là có căn cứ, nên mức án 17 năm tù đối với bị cáo N và buộc bị cáo liên đới bồi thường cho phía người bị hại là là phù hợp.
Tại phiên tòa phúc thẩm lúc đầu thì bị cáo xin giảm nhẹ mức án, tỏ ra thành khẩn, ăn năn, hối hận và không còn kêu oan. Tuy nhiên, sau đó thì bị cáo thay đổi thái độ và vẫn giữ yêu cầu kêu oan, không yêu cầu xin giảm án. Do bị cáo không thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên bị cáo đã không có tình tiết giảm nhẹ này theo luật định. Do vậy, Tòa án cấp phúc thẩm không có cơ sở để xem xét các tình tiết giảm nhẹ như theo yêu cầu của luật sư.
Bị cáo kêu oan nhưng tại phiên tòa cũng không đưa ra được những tài liệu chứng cứ gì mới để chứng minh cho yêu cầu kháng cáo của mình ngoài các lời khai lặp lại giống như lời khai tại cấp sơ thẩm. Do đó cấp phúc thẩm không có căn cứ để xem xét theo yêu cầu kháng cáo của bị cáo.
[3] Án phí hình sự phúc thẩm: Do không chấp nhận yêu cầu kháng cáo nên bị cáo Tạ Văn N phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo luật định.
[4] Các phần quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật thi hành.
Bởi các lẽ trên.
Áp dụng Điều 355 Bộ luật tố tụng hình sự.
QUYẾT ĐỊNH
Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo kêu oan của bị cáo Tạ Văn N và không chấp nhận yêu cầu về trách nhiệm liên đới bồi thường dân sự. Giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Tuyên xử:
1/ Áp dụng khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 58; khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Tuyên bố bị cáo Tạ Văn N phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Xử phạt bị cáo Tạ Văn N 17 (mười bảy) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 12/10/2022.
2/ Về án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Tạ Văn N phải nộp số tiền 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng).
3/ Các phần quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật thi hành.
4/ Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA LÊ HOÀNG TẤN |
Bản án số 231/2025/HS-PT ngày 11/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Số bản án: 231/2025/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 11/04/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Y án sơ thẩm
