Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 231/2025/DS – ST

Ngày: 23/5/2025

V/v “Tranh chấp hợp đồng tín dụng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Thúy Hằng

Các Hội thẩm nhân dân.

1. Ông Đoàn Văn Rỹ

2. Ông Đỗ Quang Hòa

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Tân - thư ký Tòa án nhân dân Quận 8.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Nga - Kiểm sát viên

Ngày 23 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 653/2024/TLST-DS ngày 17 tháng 12 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 99/2025/QĐXXST-DS ngày 28 tháng 3 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 74/2025/QĐST-DS ngày 24 tháng 4 năm 2025 giữa:

Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần S

Địa chỉ: 2 N, phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Nguyễn Hoàng Q, sinh năm 1994, là người đại diện theo ủy quyền (Giấy ủy quyền số 117/2025/UQ-TT.XLN ngày 08/01/2025) (có đơn xin vắng mặt)

Bị đơn: Ông Lê Văn T, sinh năm: 1976 (vắng mặt)

Địa chỉ: B T, phường X, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh (số cũ: B T, Phường A, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn khởi kiện ngày 23/9/2024 và quá trình giải quyết vụ án, đại diện nguyên đơn là ông Nguyễn Hoàng Q trình bày:

Ngân hàng Thương mại Cổ phần S và ông Lê Văn T thỏa thuận ký kết Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng (bao gồm giấy đề nghị kiêm hợp đồng cấp thẻ tín dụng cá nhân ngày 17/02/2023, được phê duyệt ngày 27/02/2023 và bản điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng - các tài liệu này được gọi chung là Hợp đồng). Căn cứ thu nhập của ông T, Ngân hàng Thương mại Cổ phần S đã đồng ý cấp thẻ tín dụng loại Visa Classic, số thẻ: 472074 - 1332, hạn mức sử dụng là 35.000.000 đồng với mục đích tiêu dùng cá nhân, lãi suất trong hạn và lãi suất quá hạn theo bản các điều khoản và điều kiện sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng Thương mại Cổ phần S.

Sau khi được cấp thẻ tín dụng, ông T đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 38.700.000 đồng và đã thanh toán cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần S số tiền 9.355.186 đồng. Số tiền trên được thanh toán áp dụng theo Điều 21 của bản điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng Thương mại Cổ phần S. Quá trình thực hiện hợp đồng, ông Lê Văn T đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán, cố tình không thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng dù phía Ngân hàng đã nhiều lần liên hệ và tạo điều kiện cho ông T thanh toán. Do ông T vi phạm nghĩa vụ thanh toán, ngày 11/12/2023, Ngân hàng Thương mại Cổ phần S đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn. Ngân hàng Thương mại Cổ phần S đã chuyển toàn bộ dư nợ tại thời điểm này là 40.598.181 đồng làm nợ gốc, áp dụng lãi suất nợ quá hạn (là 150% của lãi suất được công bố và áp dụng tại thời điểm hiện tại).

Qua nhiều lần làm việc, nhắc nhở nhưng ông T vẫn không có thiện chí trả nợ. Do đó, Ngân hàng Thương mại Cổ phần S yêu cầu ông Lê Văn T phải trả ngay toàn bộ số tiền nợ còn thiếu tạm tính đến ngày 23/5/2025 là 70.356.091 đồng (trong đó nợ gốc là 40.598.181 đồng, lãi quá hạn là 29.757.910 đồng) và tiền lãi phát sinh từ ngày 24/5/2025 cho đến ngày trả hết nợ theo quy định của Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng ngày 17/02/2023, được phê duyệt ngày 27/02/2023.

* Trong quá trình giải quyết vụ án: Tòa án đã thực hiện thủ tục tống đạt cho ông Lê Văn T các văn bản tố tụng: Thông báo thụ lý vụ án, Giấy triệu tập, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải theo quy định tại các Điều 177, Điều 179 của Bộ luật Tố tụng dân sự nhưng ông T không đến làm việc và hòa giải nên không ghi nhận được ý kiến của ông T. Ngày 26/3/2025, Tòa án lập biên bản về việc không tiến hành hòa giải được do bị đơn là ông Lê Văn T vắng mặt dù đã được triệu tập hợp lệ, đồng thời đại diện nguyên đơn là ông Nguyễn Hoàng Q có đơn đề nghị không tiến hành hòa giải.

* Tại phiên tòa:

Chủ tọa phiên tòa công bố: Đại diện nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bị đơn đã được triệu tập tham gia phiên tòa hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không có lý do.

Chủ tọa công bố tóm tắt nội dung vụ án và tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử thảo luận về những vấn đề cần giải quyết trong vụ án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 8 phát biểu:

Trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án và tại phiên tòa hôm nay, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã tuân thủ đúng quy trình tố tụng giải quyết vụ án. Nguyên đơn chấp hành đúng quy định pháp luật. Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng không tham gia các buổi làm việc, không tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải là đã tự từ bỏ quyền trình bày và cung cấp chứng cứ của mình.

Về nội dung vụ án, xét thấy yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ phù hợp với quy định của pháp luật, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn.

2

Về án phí: Bị đơn phải chịu án phí sơ thẩm tính trên số tiền phải thanh toán cho nguyên đơn. Trả lại cho nguyên đơn tiền tạm ứng án phí đã nộp.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:

Xét đơn khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ phần S, xác định đây là vụ án dân sự về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”. Địa chỉ nơi cư trú cuối cùng của bị đơn được xác định tại Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 8 theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về tố tụng: Đại diện nguyên đơn đã có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bị đơn đã được triệu tập tham gia phiên tòa hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không có lý do. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt tất cả những người tham gia tố tụng theo quy định tại Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[3] Xét các yêu cầu của nguyên đơn:

Hội đồng xét xử nhận thấy, qua các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ và lời trình bày của các đương sự đã có đủ cơ sở xác định:

Ngân hàng Thương mại Cổ phần S và ông Lê Văn T có ký Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng (bao gồm giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 17/02/2023, được phê duyệt ngày 27/02/2023 và bản điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng) - các tài liệu này được gọi chung là Hợp đồng. Hạn mức tín dụng là 35.000.000 đồng với mục đích tiêu dùng cá nhân, lãi suất trong hạn là 2,766 %/tháng. Sau khi được cấp thẻ tín dụng, ông T đã thực hiện các giao dịch thẻ với tổng số tiền là 38.700.000 đồng. Trong quá trình sử dụng thẻ, kể từ ngày kích hoạt thẻ cho tới nay ông T đã thanh toán cho Ngân hàng tổng số tiền là 9.355.186 đồng. Theo như bảng tóm tắt sao kê của Ngân hàng, tính đến thời điểm ngày 23/5/2025, ông T còn nợ Ngân hàng tổng số tiền là 70.356.091 đồng (gồm nợ gốc là 40.598.181 đồng và nợ lãi quá hạn tính đến ngày xét xử là 29.757.910 đồng).

Xét thấy, ông T đã sử dụng thẻ tín dụng do Ngân hàng Thương mại Cổ phần S cấp để thanh toán tiêu dùng cá nhân với số tổng số tiền các lần giao dịch là 38.700.000 đồng nhưng không thanh toán hết số nợ và các khoản phí, lãi đúng hạn là vi phạm nghĩa vụ thanh toán theo thỏa thuận, gây thiệt hại cho Ngân hàng nên cần buộc ông T có nghĩa vụ phải thanh toán cho Ngân hàng toàn bộ số nợ còn thiếu tổng cộng là 70.356.091 đồng ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Số tiền lãi đã được nguyên đơn tính đúng theo thỏa thuận của hai bên tại hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 3 và Điều 91 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 nên yêu cầu của nguyên đơn về tiền nợ tính đến ngày xét xử và toàn bộ tiền lãi phát sinh tiếp tục tính đến khi thanh toán xong nợ theo thỏa thuận trong hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng là có cơ sở chấp nhận.

Bị đơn đã được Tòa án thông báo về việc thụ lý vụ án, nội dung khởi kiện của nguyên đơn nhưng vắng mặt trong tất cả các giai đoạn tố tụng nên Tòa án giải quyết vụ án theo những chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án quy định tại Điều 91 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

3

[4] Về án phí: Do yêu cầu của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần S được chấp nhận nên bị đơn là ông Lê Văn T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn tiền tạm ứng án phí cho nguyên đơn là Ngân hàng Thương mại Cổ phần S.

[5] Phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 8 tại phiên tòa là phù hợp với phần nhận định của Hội đồng xét xử.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 238, Điều 235, Điều 266, Điều 271, khoản 1 Điều 273, của Bộ luật tố tụng dân sự;

- Căn cứ Điều 463, Điều 466, Điều 468 Bộ luật dân sự;

- Căn cứ khoản 2 Điều 3, Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010;

- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

- Căn cứ Luật thi hành án dân sự.

Xử:

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại cổ phần S.

1.1. Buộc ông Lê Văn T phải thanh toán cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần S tổng số tiền là 70.356.091 (bảy mươi triệu, ba trăm năm mươi sáu nghìn, không trăm chín mươi mốt) đồng, trong đó nợ gốc là 40.598.181 đồng và lãi quá hạn tính đến hết ngày 23/5/2025 là 29.757.910 đồng theo Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 17/02/2023, được phê duyệt ngày 27/02/2023 và bản điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng Thương mại Cổ phần S. Thanh toán một lần ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.

1.2. Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm, khách hàng vay còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản tiền nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.

2. Về án phí: Án phí dân sự sơ thẩm là 3.517.805 (ba triệu, năm trăm mười bảy nghìn, tám trăm linh năm) đồng do ông Lê Văn T chịu.

H lại cho Ngân hàng Thương mại cổ phần S số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 1.392.543 (một triệu, ba trăm chín mươi hai nghìn, năm trăm bôn mươi ba) đông theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0030822 ngày 19/11/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh.

4

3. Về quyền kháng cáo: Ngân hàng Thương mại cổ phần S, ông Lê Văn T có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - VKSND Quận 8;
  • - TAND Tp.HCM;
  • - Chi cục THADS Quận 8;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: HS, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Thị Thúy Hằng

5

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 231/2025/DS – ST ngày 23/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 231/2025/DS – ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/05/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: 1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại cổ phần S 1.1. Buộc ông Lê Văn T phải thanh toán cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần S tổng số tiền là 70.356.091 (bảy mươi triệu, ba trăm năm mươi sáu nghìn, không trăm chín mươi mốt) đồng, trong đó nợ gốc là 40.598.181 đồng và lãi quá hạn tính đến hết ngày 23/5/2025 là 29.757.910 đồng theo Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 17/02/2023, được phê duyệt ngày 27/02/2023 và bản điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng Thương mại Cổ phần S. Thanh toán một lần ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật. 1.2. Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm, khách hàng vay còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản tiền nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger