Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH ĐẮK LẮK

Bản án số: 231/2025/DS-PT

Ngày 29/5/2025

V/v Tranh chấp quyền sử dụng đất.

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Duy Phương.

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Sỹ Thành và bà Đinh Thị Tuyết.

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Khắc Anh – Thư ký;

- Đại diện VKSND tỉnh Đắk Lắk: Ông Trần Văn Lai - Kiểm sát viên.

Ngày 29/5/2025 tại trụ sở TAND tỉnh Đắk Lắk xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 129/2025/TLPT-DS ngày 20/01/2025 về việc: “Tranh chấp hợp quyền sử dụng đất”, do có kháng cáo của nguyên đơn, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ông Lê T, sinh năm 1923, địa chỉ: Thôn B, xã C, huyện E, tỉnh Đắk Lắk: Vắng mặt.

- Đại diện theo ủy quyền: Bà Lê Thị P, sinh năm 1974, địa chỉ: Thôn F, xã C, huyện E' L, tỉnh Đắk Lắk: Có mặt..

- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Ông Hoàng Văn C – Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm trợ giúp pháp lý tỉnh Đ, địa chỉ: C L, TP B, tỉnh Đắk Lắk. Có Đơn xin xét xử vắng mặt.

2. Bị đơn: Ông Lê Văn H, sinh năm 1970, địa chỉ: Thôn B, xã C, huyện E' L, tỉnh Đắk Lắk: Vắng mặt.

3. Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

Bà Lê Thị Thu D, sinh năm 1963; Bà Lê Thị H1, sinh năm 1968; Bà Lê Thị H2, sinh năm 1980; Ông Lê Minh T1, sinh năm 1995; Ông Lê Tiến S, sinh năm 1990, cùng địa chỉ: Thôn B, xã C, huyện E' L, tỉnh Đắk Lắk; Bà Lê Thị T2, sinh năm1976, địa chỉ: Thôn C, xã C, huyện E' L, tỉnh Đắk Lắk; Bà Lê Thị P, sinh năm 1974, địa chỉ: Thôn F, xã C, huyện E' L, tỉnh Đắk Lắk;

Chỉ có bà D, bà P có mặt tại phiên tòa, còn lại vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

1. Phần trình bày của nguyên đơn:

Tại Đơn khởi kiện, trong quá trình tố tụng, nguyên đơn, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:

Nguyên đơn là cha bị đơn. Nguyên đơn có 03 thửa đất đã có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Trước đây có cho 02 người con gái canh tác. Đến tháng 3/2021 bị đơn đến nói với 02 người con gái là không canh tác trên thửa đất này nữa, để cho ông bị đơn canh tác. Đến khoảng tháng 4/2023 nguyên đơn mới biết bị đơn trồng dừa trên khoảng 02 thửa đất, còn 01 thửa đất cho ông Trần Hữu K thuê canh tác. Việc bị đơn tự ý trồng dừa, cho người khác thuê lại mà không được sự đồng ý của nguyên đơn là vi phạm pháp luật. Nay nguyên đơn yêu cầu buộc bị đơn phải di dời toàn bộ cây trồng trên đất để trả lại 03 thửa đất cho nguyên đơn. Giá trị của 03 thửa đất khoảng 80.000.000 đồng.

Bà P bổ sung: Ông T, bà Đ (đã chết năm 2019) có 08 con chung. Về nguồn gốc các thửa đất: khai hoang vào năm 1980, trong đó thửa 248, 245 đã cho 02 người con gái, thửa 196 là đất trồng lúa, thửa 202 là đất ao. Phần diện tích đất mà bị đơn tự ý canh tác, tranh chấp với nguyên thuộc thửa 201, thửa 202 và thửa 196.

2. Phần trình bày của bị đơn:

Thống nhất với trình bày của nguyên đơn về nguồn gốc đất, quan hệ cha con, gia đình. Năm 1992 khi bị đơn lấy vợ thì được ông T, bà Đ cho bằng miệng đất trồng lúa, ao khoảng 4,3 sào, các anh chị em ruột đều biết, không ai có ý kiến gì. Vợ chồng bị đơn đã sử dụng ổn định, đến năm 2020-2021, bị đơn có cho 02 em gái mượn lại. Cuối năm 2021 02 em đã trả lại đất. Năm 2022 bị đơn đã trồng khoảng 100 cây dừa, 600 đến 700 cây bạch đàn, phần đất còn lại trồng lúa và có cho anh Trần Hữu K mượn, hiện đã trả lại. Trong toàn bộ phần đất mà ông T và bà Đ được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hiện nay đang phát sinh tranh chấp, trước đây ông T và bà Đ đã cho P, H2, T2 một phần đất rẫy cà phê, phần còn lại cho bị đơn đều là đất trồng lúa và ao, do vậy bị đơn không đồng ý với toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn

Bị đơn phản tố:

Vào năm 1992 sau khi kết hôn, vợ chồng bị đơn cùng ông T và bà Đ sống chung với nhau tại ngôi nhà hiện nay. Đến năm 1994, vợ chồng bị đơn được ông T và bà Đ cho ra ở riêng, nên đã tự mua đất làm nhà ở cách khoảng 200m. Khi ra ở riêng ông T và bà Đ nói bằng miệng là cho luôn 3 anh em trai gồm: Lê Văn D1, Lê Văn H và Lê Văn M toàn bộ diện tích đất ruộng, ao thuộc một phần diện tích đất nằm trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số R 402367 cấp ngày 08/11/2000, thuộc các thửa đất gồm: Thửa 201 diện tích 340 m², thửa 202 diện tích 100 m² và thửa 196 diện tích 4.320 m². Vì là anh em, cha con trong gia đình nên không lập giấy tờ gì. Quá trình sử dụng, chỉ thỏa thuận miệng với nhau và chia mỗi người sử dụng vài ô đất theo dạng hình thang của thửa đất để cả 03 anh em trai trồng lúa. Một năm sau, ông M không làm nữa mà giao lại cho ông Hoàng P1 của ông M, còn ông M đi TP Hồ Chí Minh làm ăn và chết năm 2018. Sau khi ông M chết thì ông T và bà Đ lấy lại phần đất này để sử dụng được khoảng 3 năm thì cho lại ông H, cũng chỉ nói miệng. Còn ông D1 thì vẫn canh tác cùng ông H cho đến khi chết là năm 2005. Sau khi ông D1 chết thì con trai ông D1 là Lê Tiến S tiếp tục canh tác trên phần đất của ông D1.

Hiện trạng đất tại thời điểm cho là đất ruộng, trên đất có 01 cái ao không có nước. Đến năm 2021 ông T3 lấp cái ao này lại, cải tạo một phần đất ruộng để san ủi bằng máy múc và múc thành một cái ao chứa nước lớn hơn để chứa nước tưới, đồng thời vun đất thành luống để trồng khoảng 80 cây dừa vào tháng 2/2023 và trồng khoảng 600 cây bạch đàn trên toàn bộ phần đất này và một phần đất bị đơn khai hoang thêm (hiện chỉ còn khoảng 300 cây bạch đàn còn sống).

Nếu bị đơn phải trả lại đất, nguyên đơn phải trả lại giá trị cây trồng và công sức đóng góp của bị đơn trong việc san ủi, cải tạo đất, trồng, chăm sóc các loại cây trên đất theo quy định của pháp luật.

3. Phần trình bày của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Đều thống nhất xác định các sự kiện pháp lý về quan hệ huyết thống, gia đình, sống, chết, nguồn gốc đất... như trên. Khi bà Đ chết không để lại di chúc, chưa phân chia di sản, do vậy chưa có ý kiến hay yêu cầu gì đối với nội dung này.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 65/2024/DS-ST ngày 20/9/2024 của TAND huyện Ea H'leo đã quyết định:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Lê T: Buộc ông Lê Văn H phải trả lại cho ông Lê T diện tích đất gồm: Thửa số 196, diện tích 4.320m²; thửa số 201, diện tích 340 m² và thửa số 202, diện tích 100 m² đều thuộc tờ bản đồ số 11, đã được UBND huyện E cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số R 402367 ngày 08/11/2000, tọa lạc tại thôn B, xã C, huyện E, tỉnh Đắk Lắk. (Vị trí tứ cận của 03 thửa đất có sơ đồ đo vẽ kèm theo).
  2. Chấp nhận một phần yêu cầu phản tố của ông Lê Văn H: Buộc ông Lê T phải trả cho ông Lê Văn H giá trị các cây trồng trên đất với tổng số tiền là 19.870.000 đồng. Trong đó: 01 cái Ao có giá trị: 5.350.000 đồng; 80 cây dừa có giá trị 14.528.000 đồng. Ông T được quyền sử dụng 01 cái Ao có diện tích 254,8 m² và 80 cây dừa tọa lạc trên 03 thửa đất 196, 201, 202 đều thuộc tờ bản đồ số 11, đã được UBND huyện E cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số R 402367 ngày 08/11/2000, tọa lạc tại thôn B, xã C, huyện E, tỉnh Đắk Lắk

Ngoài ra cấp sơ thẩm có quyết định về chi phí tố tụng, án phí. Nguyên đơn, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn kháng cáo, đề nghị hủy án sơ thẩm, buộc bị đơn phải di dời cây trồng, trả lại hiện trạng đất, không chấp nhận bồi thường.

* Tại phiên tòa phúc thẩm:

  • - Đại diện ủy quyền của nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và các lời khai, lời trình bày như tại cấp sơ thẩm đã khai, đã trình bày, không có lời khai nào mới, cung cấp chứng cứ, tài liệu nào mới so với với những lời khai, chứng cứ, tài liệu đã cung cấp cho Tòa án cấp sơ thẩm, đề nghị hội đồng xét xử cấp phúc thẩm chấp nhận kháng cáo.
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt tại phiên tòa giữ nguyên các lời trình bày, lời khai tại cấp sơ thẩm, không có lời khai nào mới, không cung cấp chứng cứ, tài liệu nào mới so với với những lời khai, chứng cứ, tài liệu đã cung cấp cho Tòa án cấp sơ thẩm.
  • - Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa phúc thẩm đã phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án như sau:
  • + Về tố tụng: Trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án, Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử phúc thẩm và các đương sự đã tuân thủ đúng, đầy đủ về quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm của mình quy định trong Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
  • + Về nội dung: Sau khi phân tích, đánh giá các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra công khai tại phiên tòa, căn cứ vào kết quá tranh tụng tại phiên tòa, đề nghị không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn, giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra công khai tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ các tài liệu chứng cứ, lời trình bày của các đương sự, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận thấy:

[1] Về thủ tục tố tụng:

Kháng cáo của nguyên đơn, đại diện ủy quyền của nguyên đơn trong hạn luật định nên vụ án được giải quyết theo trình tự phúc thẩm theo quy định Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Một số người tham gia tố tụng vắng mặt, mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ 02, Tòa án xét xử vắng mặt các đương sự này là đúng theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 229, Điều 296 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 .

[2] |Về nội dung:

Xét kháng cáo của nguyên đơn và đại diện ủy quyền của nguyên đơn:

Diện tích đất tranh đều được ông T và các con của ông T, bà Đ xác định ông H là người sử dụng đất trong thời gian dài, từ khoảng năm 1997 cho đến năm 2022, tuy có bị ngắt quảng về thời gian sử dụng, nhưng bản thân ông T là người sinh sống bên cạnh diện tích đất đang tranh chấp, các con của ông T bà Đ vẫn thường xuyên đi lại để thăm nom, chăm sóc ông T và đều biết được diện tích ao 100 m² có sẵn trên thửa đất 202 là không có nước để tưới khi mùa không hạn. Vào năm 2016 ông H đã san ủi và lấp cái ao này, đồng thời cho múc một cái ao khác để có nước tưới phục vụ việc tưới nước vào mùa khô thì ông T và những người hàng xóm xung quanh là ông Nguyễn Văn T4, bà Nguyễn Thị N, ông Đỗ Văn C1,..., đều biết và khẳng định không có sự tranh chấp nào. Hơn nữa, bản thân ông H cũng là con, anh em ruột thịt trong gia đình, như vậy quá trình ông H sử dụng đất và tạo dựng, cải tạo tài sản trên đất thì ông T cũng như các thành viên gia đình đều đồng ý, không ai có ý kiến gì, việc sử dụng đất của ông H cũng không có quyết định xử lý nào của cơ quan có thẩm quyền về quản lý đất đai. Do đó, việc tạo dựng các tài sản trên đất của ông H là không trái pháp luật. Bản án sơ thẩm buộc ông T phải trả lại trị giá các tài sản trên đất do ông H tạo dựng là có căn cứ thực tế, phù hợp với quy định pháp luật.

Cấp sơ thẩm đã giải quyết vụ án co bản đúng quy định pháp luật, không có vi phạm tố tụng nào nghiêm trọng làm ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của các đương sự. Kháng cáo của nguyên đơn và đại diện ủy quyền của nguyên đơn cho rằng ông H đã có hành vi vi phạm pháp luật về đất đai, lấn chiếm đất rồi tự ý sử dụng sai mục đích đất, không đồng ý việc trả lại giá trị tài sản trên đất nhưng không cung cấp thêm tình tiết, tài liệu, chứng cứ gì mới tại cấp phúc thẩm làm thay đổi bản chất, nội dung vụ án, nên không có căn cứ, cơ sở để chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn - ông Lê T và đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn - bà Lê Thị P;

Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 65/2024/DS-ST ngày 20/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Ea H'leo, tỉnh Đắk Lắk;

Ông Lê T và bà Lê Thị P phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm, khấu trừ vào 300.000 đồng theo Biên lai số 0008021 ngày 29/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ea H'leo.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (Ngày 29/5/2025)

Nơi nhận:

  • - TANDCC Đà Nẵng;
  • - VKSNDCC Đà nẵng;
  • - VKSND tỉnh Đắk Lắk;
  • - TAND huyện Ea H'leo;
  • - Cục THADS huyện Ea H'leo;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ VA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Duy Phương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 231/2025/DS-PT ngày 29/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK về tranh chấp hợp quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 231/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 29/05/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp quyền sử dụng đất
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger