|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số : 231/2024/HSST Ngày : 18/11/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Huỳnh Hoàng Phương;
Các Hội thẩm nhân dân:1/ Bà Võ Kim Hường;
2/ Bà Trần Quang Cảnh;
Thư ký phiên tòa: bà Trần Thị Ngọc Thuý là Thư ký Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh;
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: ông Lê Minh Hoàng là Kiểm sát viên;
Hôm nay, ngày 18 tháng 11 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 247/2024/TLST-HS ngày 28 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 273/2024/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: HUỲNH THÀNH V; Giới tính: Nam; Sinh năm: 1991 tại tỉnh An Giang; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Hoà Hảo; Trình độ học vấn: 6/12; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Tổ A, khóm V, phường N, thành phố C, tỉnh An Giang; Chỗ ở: Tổ A, khóm V, phường N, thành phố C, tỉnh An Giang; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông Huỳnh Ngọc S, sinh năm 1956 và bà Lê Thị Lệ T, sinh năm 1969; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không có; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 04/4/2024;
(bị cáo có mặt tại phiên tòa)
Bị hại: Anh Nguyễn Văn D, sinh năm 1987, ngụ tại: 4 T, phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh;
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Trần Thị H, sinh năm 1990, ngụ tại E Tỉnh lộ 10, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh;
(bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên toà)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Huỳnh Thành V là nhân viên quán Ố, địa chỉ số D T, phường T, quận T do anh Nguyễn Văn D làm chủ quán. Do không có tiều tiêu xài và đã từng được anh D cho mượn xe gắn máy hiệu Honda Airblade, biển số 59N3-235.66 nên V nảy sinh ý định chiếm đoạt xe trên. Khoảng 14 giờ 30 phút ngày 30/11/2022 tại quán Ố, V nói dối mượn xe gắn máy biển số 59N3-235.66 của anh D để đi mua đồ cá nhân (mục đích để mang đi cầm cố), anh D đồng ý và giao chìa khóa xe cho V. Sau đó, V điều khiển xe về phòng trọ của mình tại số C N, phường T, quận T rồi kiểm tra bên trong cốp xe, thấy có một cái bóp và một áo khoác màu đen nên Võ mở bóp lấy cà vẹt xe và số tiền 1.000.000 (một triệu) đồng bên trong bóp. Sau đó, V tiếp tục kiểm tra áo khoác và lấy 30.000.000 (ba mươi triệu) đồng bên trong áo khoác rồi điều khiển xe gắn máy trên đến tiệm C, D P, Phường D, Quận H và cầm xe cho chị Trần Thị H với số tiền 18.000.000 (mười tám triệu) đồng. V cung cấp giấy đăng ký xe và căn cước công dân của V cho chị H xem và nói sẽ bổ sung giấy ủy quyền mua bán sau, chị H tin tưởng nên đồng ý cầm cho V, số tiền chiếm đoạt đã được Võ tiêu xài hết.
Sau đó, V bỏ trốn về quê tại tỉnh An Giang. Anh D1 không thấy V trả lại xe nên nhiều lần liên lạc với V nhưng không được. Khoảng 15 ngày sau, anh D1 đến nhà V tại An Giang gặp V, V thừa nhận đã mang xe của anh D1 đi cầm cố nên đưa hợp đồng cầm đồ cho anh D1 và hứa sẽ cố gắng khắc phục hậu quả, riêng V không thừa nhận đã lấy số tiền 31.000.000 đồng trong cốp xe nên anh D1 đến Công an phường T, quận T trình báo sự việc.
Tại cơ quan điều tra, Huỳnh Thành V đã thừa nhận toàn bộ hành vi lừa đảo chiếm đoạt xe gắn máy hiệu Honda Airblade, biển số 59N3-235.66 và số tiền 31.000.000 (ba mươi mốt triệu) đồng trong cốp xe của anh Nguyễn Văn D như trên, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ.
Theo Kết luận định giá tài sản số 405/KL-HĐĐGTS ngày 14/3/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận T, thời điểm định giá ngày 30/11/2022, kết luận: 01 xe gắn máy hiệu Honda Airblade, màu bạc đen, biển số: 59N3-235.66, số máy: JF63E2505622, số khung: 6325KZ092319 trị giá 32.600.000 đồng (bút lục số 114);
* Vật chứng thu giữ:
- Một (01) xe gắn máy hiệu Honda Airblade màu bạc đen, biển số 59N3-235.66, số máy JF63E2505622, số khung 6325KZ092319 và 01 giấy đăng ký xe số 089731. Qua xác minh, xe trên do anh Nguyễn Văn D, địa chỉ: C ấp C, xã V, huyện B đứng tên sở hữu (bút lục số 150) nên Cơ quan điều tra đã trả lại xe và giấy đăng ký xe cho anh D (bút lục số 118);
* Về phần dân sự:
- Anh Nguyễn Văn D đã nhận lại xe gắn máy và Huỳnh Thành V đã bồi thường số tiền 31.000.000 (ba mươi mốt triệu) đồng nên anh D không yêu cầu bồi thường thêm và có đơn xin bãi nại cho V (bút lục số 14, 17);
- Chị Trần Thị H yêu cầu Huỳnh Thành V bồi thường số tiền 18.000.000 đồng đã cầm cố xe gắn máy biển số 59N3-235.66 (bút lục số 102);
Tại bản cáo trạng số 224/CT-VKS ngày 10 tháng 9 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Huỳnh Thành V về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm c Khoản 2 Điều 174 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo theo như cáo trạng và đề nghị:
- Áp dụng điểm c Khoản 2 Điều 174; Điều 38; Điều 50; điểm b, s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) xử phạt bị cáo mức án từ 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng đến 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù, đồng thời đề nghị giải quyết vật chứng theo quy định pháp luật.
Bị cáo nói lời sau cùng: bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội và rất hối hận về việc làm của mình, mong Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất để bị cáo có cơ hội sửa sai, làm lại cuộc đời.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận T, Thành phố Hồ Chí Minh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về nội dung vụ án: Lời khai nhận tội của bị cáo là phù hợp với bản kết luận điều tra của Cơ quan cảnh sát điều tra, bản cáo trạng của Viện kiểm sát, lời khai của bị hại, người liên quan, người làm chứng cùng các tài liệu, chứng cứ khác thu thập trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử xét thấy có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 14 giờ 30 phút ngày 30/11/2022 tại quán Ố, địa chỉ số D T, phường T, quận T, Huỳnh Thành V có hành vi lừa đảo chiếm đoạt xe gắn máy hiệu Honda Airblade, biển số 59N3-235.66, trị giá 32.600.000 (ba mươi hai triệu sáu trăm ngàn) đồng và bên trong có số tiền 31.000.000 (ba mươi mốt triệu) đồng của anh Nguyễn Văn D thì bị phát hiện. Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm c Khoản 2 Điều 174 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Vì vậy, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo về tội danh như trên là hoàn toàn có cơ sở, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật;
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, nó vừa trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu, quản lý tài sản hợp pháp của công dân được Nhà nước và pháp luật bảo hộ, gây mất an ninh trật tự tại địa phương. Bị cáo đã thành niên, đủ khả năng nhận thức được hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản của người khác bị pháp luật ngăn cấm và bị trừng trị nhưng do động cơ tham lam, muốn có tiền tiêu xài nên bị cáo đã cố tình thực hiện tội phạm một cách liều lĩnh, bất chấp sự trừng trị của pháp luật chứng tỏ bị cáo có thái độ coi thường pháp luật. Do đó Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết có một hình phạt thật nghiêm khắc nhằm mục đích giáo dục, cải tạo bị cáo đồng thời có tác dụng răn đe, phòng ngừa chung.
Đối với chị Trần Thị H cầm cố xe gắn máy hiệu Honda Airblade, biển số 59N3-235.66 nhưng không biết xe trên do Huỳnh Thành V phạm tội mà có, nên Cơ quan điều tra không xử lý về hành vi Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có, là có cơ sở.
[3] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có;
- Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo đã bồi thường thiệt hại cho bị hại. Hội đồng xét xử xét thấy đây là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) cần áp dụng để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo;
[4] Về trách nhiệm dân sự:
Quá trình làm việc, bị hại đã nhận bồi thường thiệt hại và không có yêu cầu gì khác nên Hội đồng xét xử không có gì để giải quyết. Quá trình điều tra - người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan – chị Trần Thị H yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 18.000.000 (mười tám triệu) đồng là tiền bị cáo cầm cố chiếc xe gắn máy hiệu Honda Airblade biển số 59N3-235.66. Tại phiên toà hôm nay, bị cáo đồng ý bồi thường theo yêu cầu của chị H, Hội đồng xét xử xét thấy đây là sự thoả thuận tự nguyện của các bị cáo, không trái quy định pháp luật nên ghi nhận;
[5] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí Hình sự và án phí Dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ nêu trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Huỳnh Thành V phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
* Áp dụng điểm c Khoản 2 Điều 174; Điều 38; Điều 50; điểm b, s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017);
Xử phạt bị cáo:
Huỳnh Thành V 03 (ba) năm tù.
Thời hạn tù tính từ ngày tạm giam 04/4/2024.
* Áp dụng điểm a Khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Buộc bị cáo trả cho chị Trần Thị Hằng S1 tiền 18.000.000 (mười tám triệu) đồng một lần ngay sau khi Bản án có hiệu lực pháp luật.
Thi hành tại Chi cục Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền. Hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất được quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự, tương ứng với thời gian chưa thi hành án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bị cáo phải chịu 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng án phí Hình sự sơ thẩm và 900.000 (chín trăm ngàn) đồng án phí Dân sự sơ thẩm.
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo có quyền kháng cáo; bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày Tòa án tống đạt/ niêm yết bản án hợp lệ theo quy định của pháp luật;
Hội đồng xét xử quyết định tạm giam bị cáo 45 ngày tính từ ngày tuyên án để đảm bảo việc thi hành án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phan Huỳnh Hoàng Phương |
Bản án số 231/2024/HSST ngày 18/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự (lừa đảo chiếm đoạt tài sản)
- Số bản án: 231/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Lừa đảo chiếm đoạt tài sản)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Huỳnh Thành V phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
