|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MỸ THO TỈNH TIỀN GIANG Bản án số: 231/2024/HNGĐ-ST Ngày 03-12-2024 V/v tranh chấp “Ly hôn” |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ————————— |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MỸ THO, TỈNH TIỀN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Sắc Ly.
- Các Hội thẩm nhân nhân dân:
- Bà Nguyễn Thị Nhung.
- Bà Nguyễn Thị Ngọc Đào.
- - Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Trạng - Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang.
Ngày 03 tháng 12 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 489/2024/TLST-HNGĐ ngày 02 tháng 10 năm 2024 về tranh chấp “Ly hôn”.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 34/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 23 tháng 02 năm 2024, giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Anh Lê Tấn T, sinh năm 1972 (Có mặt).
- Địa chỉ: Số H, L, phường D, TP M, tỉnh Tiền Giang.
- - Bị đơn: Chị Cao Thị Ngọc H, sinh năm 1977 (Có mặt).
- Địa chỉ: Số H, L, phường D, TP M, tỉnh Tiền Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn Lê Tấn T trình bày:
Anh và chị H quen biết tìm hiểu nhau và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường D, thành phố M, tỉnh Tiền Giang vào năm 1998. Cuộc sống vợ chồng thời gian đầu hạnh phúc, đến năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn trầm trọng, vợ chồng thường xuyên cãi vả, bất đồng quan điểm trong cuộc sống, không còn tiếng nói chung. Đã cố hàn gắn nhưng không có kết quả.
Nhận thấy, tình cảm không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, nên làm đơn yêu cầu Tòa án xem xét:
- - Về quan hệ hôn nhân: Anh Lê Tấn T yêu cầu ly hôn với chị Cao Thị Ngọc H.
- - Về con chung: Có 02 con chung tên Lê Thị Kim Y, sinh ngày 03/9/1999 và Lê Cao Yến O, sinh ngày 27/01/2004. Con chung đã trưởng thành nên không yêu cầu giải quyết.
- - Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- - Về nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn Cao Thị Ngọc H trình bày:
Vợ chồng kết hôn từ năm 1998. Thời gian đầu hạnh phúc, gần 02 năm nay anh T cờ bạc, ghi đề chung và có qua lại với người khác, có tình cảm với người khác, chị đã khuyên ngăn nhưng không được. Không đồng ý ly hôn vì còn tình cảm.
- - Về quan hệ hôn nhân: Không đồng ý ly hôn.
- - Về con chung: Có 02 con chung tên Lê Thị Kim Y, sinh ngày 03/9/1999 và Lê Cao Yến O, sinh ngày 27/01/2004.
- - Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- - Về nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa:
Nguyên đơn anh Lê Tấn T: Vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.
Bị đơn chị Cao Thị Ngọc H: Không đồng ý ly hôn với anh Lê Tấn T.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi thẩm tra xem xét các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, nghe lời trình bày, tranh luận của đương sự, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Anh Lê Tấn T và chị Cao Thị Ngọc H kết hôn trên cơ sở tự nguyện. Được Ủy ban nhân dân phường D, thành phố M cấp giấy chứng nhận kết hôn năm 1998. Ngày 02/10/2024 anh T khởi kiện yêu cầu được ly hôn với chị H. Hình thức và nội dung đơn khởi kiện đúng quy định tại Điều 189 Bộ luật. Theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, điểm a Khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, xác định đây là tranh chấp ly hôn được quy định tại Điều 51 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Mỹ Tho.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Anh Lê Tấn T và chị Cao Thị Ngọc H hôn nhân có thực hiện thủ tục đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân phường D, thành phố M, tỉnh Tiền Giang cấp giấy chứng nhận kết hôn số 141/1998 ngày 28/10/1998. Xác định hôn nhân giữa anh T và chị H là hôn nhân hợp pháp. Anh T yêu cầu ly hôn với chị H, vì cho rằng vợ chồng thường bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung, vợ chồng không tôn trọng nhau, không còn tình cảm. Phía chị Cao Thị Ngọc H không đồng ý ly hôn vì cho rằng chị còn tình cảm với anh T, vợ chồng không có mâu thuẫn trầm trọng, nguyên nhân mâu thuẫn do anh T có quan hệ tình cảm với người khác. Tại phiên tòa, anh T đã được giải thích vận động đoàn tụ, nhưng anh T vẫn cương quyết yêu cầu được ly hôn với chị H. Phía chị H không đồng ý ly hôn nhưng cũng không đưa ra được giải pháp và phương hướng cụ thể để hàn gắn tình cảm vợ chồng, chị H cho rằng khi nào chị chứng minh được việc anh T ngoại tình thì chị sẽ ly hôn. Xét thấy, hai bên thừa nhận mâu thuẫn vợ chồng đã xảy ra hơn một năm nay, vợ chồng sống chung nhà nhưng mạnh ai nấy sống. Phía chị H có lời trình bày mâu thuẫn, vì chị cho rằng còn tình cảm không đồng ý ly hôn, nhưng lại trình bày khi nào chị chứng minh được việc anh T ngoại tình thì chị sẽ ly hôn. Như vậy, việc chị H không đồng ý ly hôn nguyên nhân không xuất phát từ lí do còn tình cảm vợ chồng. Hội đồng xét xử thấy rằng, hôn nhân phải dựa trên cơ sở tự nguyện của hai bên, đời sống vợ chồng giữa chị H và anh T mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh Lê Tấn T.
[3] Về con chung: Trong thời kỳ hôn nhân, anh chị có 02 con chung tên Lê Thị Kim Y, sinh ngày 03/9/1999 và Lê Cao Yến O, sinh ngày 27/01/2004. Con chung đã trưởng thành và lao động được, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[4] Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[5] Về nợ chung: Không ai yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[6] Về án phí: Nguyên đơn Lê Tấn T phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39, 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ các Điều 51, 56, 131 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.
Xử:
- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của anh Lê Tấn T.
- - Về quan hệ hôn nhân: Anh Lê Tấn T được ly hôn với chị Cao Thị Ngọc H.
- - Về con chung: Con chung đã trưởng thành.
- - Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- - Về nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về án phí: Anh Lê Tấn T phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm. Anh T đã nộp 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0006678 ngày 02/10/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Mỹ Tho, nên được cân trừ, xem như đã nộp xong án phí.
- Về quyền kháng cáo: Anh Lê Tấn T và Cao Thị Ngọc H có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Phạm Thị Sắc Ly |
Bản án số 231/2024/HNGĐ-ST ngày 03/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MỸ THO, TỈNH TIỀN GIANG về ly hôn
- Số bản án: 231/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 03/12/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MỸ THO, TỈNH TIỀN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp ly hôn giữa Lê Tấn T và Cao Thị Ngọc H
