|
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Độc lập - Tự do - hạnh phúc |
Bản án số: 231/2024/HC-PT
Ngày 12 tháng 4 năm 2024
V/v Khiếu kiện quyết định hành chính, hành
vi hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai
NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Nam Thành;
Các Thẩm phán: Ông Phạm Văn Tuyển;
Bà Nguyễn Phương Hạnh.
Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Minh Tùng, Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội: Ông Nguyễn Trọng Vĩnh, Kiểm sát viên cao cấp tham gia phiên tòa.
Trong ngày 12 tháng 4 năm 2024, tại điểm cầu trung tâm: Phòng xét xử trực tuyến - Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội; điểm cầu thành phần: Phòng xét xử trực tuyến - Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang, xét xử phúc thẩm công khai theo hình thức trực tuyến vụ án hành chính thụ lý số 84/2024/TLPT-HC ngày 05 tháng 02 năm 2024 về việc “Khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai” do có kháng cáo của người khởi kiện đối với Bản án hành chính sơ thẩm số 35/2023/HC-ST ngày 27 tháng 10 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 3809/2024/QĐ-PT ngày 27 tháng 3 năm 2024 giữa các đương sự:
-
Người khởi kiện: Bà Nguyễn Thị Việt H, sinh năm 1965; nơi cư trú: Số A đường Á, phường T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang; địa chỉ hiện tại: Số H đường T, phường L, thành phố B, tỉnh Bắc Giang; có mặt.
Người đại diện theo ủy quyền: Anh Phạm Mạnh K, sinh năm 1990; địa chỉ: Số H đường T, phường L, thành phố B, tỉnh Bắc Giang (Hợp đồng ủy quyền ngày 12/6/2023); có mặt.
-
Người bị kiện:
- Chủ tịch UBND thành phố B: Ông Đặng Đình H1.
-
Ủy ban nhân dân thành phố B
Người đại diện theo pháp luật: Ông Đặng Đình H1 - Chủ tịch.
Người đại diện theo ủy quyền của UBND và Chủ tịch UBND thành phố B: Ông Đào Công H2 - Phó Chủ tịch (Quyết định ủy quyền số 3959/QĐ-UBND ngày 19/9/2023 của Chủ tịch UBND thành phố B); có mặt.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị kiện: Ông Nguyễn Thanh T - Trưởng phòng Phòng Tài nguyên và Môi trường thành phố B; có mặt.
-
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Ông Phạm Thế K1, anh Phạm Mạnh K và chị Phạm Thị Phương H3; nơi cư trú: Số A đường Á, phường T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang; địa chỉ hiện tại: Số H đường T, phường L, thành phố B, tỉnh Bắc Giang; anh K có mặt. Ông K1 và chị H3 vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 09/5/2023 và các lời khai tiếp theo, người khởi kiện bà Nguyễn Thị Việt H trình bày:
Về nguồn gốc thửa đất: Bà được chuyển quyền sử dụng diện tích 75,3 m² đất ở tại thửa đất số 57, tờ bản đồ số 21, địa chỉ số A, đường Á, phường T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang theo thỏa thuận phân chia di sản thừa kế và được Ủy ban nhân dân (sau đây viết tắt là UBND) phường T chứng thực ngày 28/11/2007.
Quá trình sử dụng diện tích đất từ khi nhận chuyển quyền sử dụng đất theo thỏa thuận phân chia di sản thừa kế, qua kiểm tra bà phát hiện có sai sót về số tờ bản đồ, số thửa đất và thay đổi giấy tờ cá nhân từ số chứng minh nhân dân sang căn cước công dân, bà đã đề nghị UBND thành phố B chỉnh lý các nội dung trên vào ngày 25/5/2022.
Ngày 17/02/2022, UBND thành phố B đã ban hành Thông báo số 30/TB-UBND về việc thu hồi đất để thực hiện dự án: Xây dựng đường dẫn cầu Á, thành phố B.
Ngày 12/4/2022, UBND phường T có Giấy mời số 07/GM-UBND, phối hợp Trung tâm Phát triển Quỹ đất và C công nghiệp thành phố, Tổ dân phố Á tổ chức hội nghị thông báo chủ trương thu hồi đất, chỉ giới thu hồi, chế độ chính sách bồi thường, hỗ trợ giải phóng mặt bằng (GPMB).
Ngày 20/4/2022, UBND phường T gửi Thông báo số 27/TB-UBND về việc kiểm kê cho hộ của bà.
Ngày 15/8/2022, Trung tâm Phát triển Quỹ đất và C công nghiệp thành phố có Giấy mời số 106/GM-TTQĐ để trao đổi, giải đáp ý kiến vướng mắc sau quá trình niêm yết dự thảo (đợt 2) để thực hiện dự án: Xây dựng đường dẫn cầu Á, thành phố B (viết tắt là dự án).
Từ ngày 29/7/2022 đến ngày 09/5/2023 bà đã nhận được 05 dự thảo phương án bồi thường, hỗ trợ GPMB và tái định cư thuộc phường T, để thực hiện dự án. Không nhất trí các văn bản này nên bà H đã làm đơn khiếu nại đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
Ngày 30/8/2022, Chủ tịch UBND thành phố B ban hành Công văn số 2799/UBND-TNMT về việc trả lời đơn của ông Phạm Thế K1 (CV số 2799).
Ngày 18/10/2022, Chủ tịch UBND thành phố B ban hành Công văn số 3412/UBND-TNMT về việc trả lời đơn của ông Phạm Thế K1 (CV số 3412).
UBND thành phố B đã ban hành các Quyết định: Số 382/QĐ-UBND ngày 08/5/2023 về việc thu hồi đất (đợt 10) và số 383/QĐ-UBND ngày 08/5/2023 về việc phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ GPMB, tái định cư (đợt 10) để thực hiện dự án: Xây dựng đường dẫn cầu Á thành phố B (viết tắt là Quyết định số 382 và Quyết định số 383). Bà nhận hai quyết định này vào ngày 09/5/2023.
Các quyết định hành chính nêu trên xâm phạm đến quyền lợi của gia đình bà vì diện tích bồi thường còn thiếu, chưa phù hợp nên ngày 09/5/2023, bà làm đơn khởi kiện, yêu cầu Tòa án giải quyết:
- Huỷ Công văn số 2799/UBND-TNMT ngày 30/8/2022 và Công văn số 3412/UBND-TNMT ngày 18/10/2022 của Chủ tịch UBND thành phố B về việc trả lời đơn của ông Phạm Thế K1, trú tại phường T;
- Huỷ một phần Quyết định số 382/QĐ-UBND ngày 08/5/2023 của UBND thành phố B về việc thu hồi đất (đợt 10) tại phường T để thực hiện dự án: Xây dựng đường dẫn cầu Á, thành phố B liên quan đến diện tích đất bị thu hồi gia đình bà Nguyễn Thị Việt H.
- Huỷ một phần Quyết định số 383/QĐ-UBND ngày 08/5/2023 của UBND thành phố B về việc phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ GPMB, tái định cư (đợt 10) tại phường T để thực hiện dự án: Xây dựng đường dẫn cầu Á, thành phố B liên quan đến diện tích đất bị thu hồi gia đình bà Nguyễn Thị Việt H.
Ủy ban nhân dân thành phố B và Chủ tịch UBND thành phố B do ông Đào Công H2, Phó Chủ tịch đại diện theo uỷ quyền trình bày:
- Về nguồn gốc sử dụng đất: Theo bản đồ trích đo bồi thường GPMB, bà Nguyễn Thị Việt H, ông Phạm Thế K1 đang quản lý và sử dụng thửa đất số 72, tờ bản đồ bồi thường GPMB số 21, diện tích bản đồ 75,3 m², diện tích trong chỉ giới thu hồi 47,8 m², diện tích nằm ngoài chỉ giới thu hồi 28,8 m².
Theo bản đồ địa chính đo đạc năm 1998, diện tích 75,2 m² đất thuộc thửa số 57, tờ bản đồ 21, có nguồn gốc: Ngày 18/3/1994, UBND thị xã B cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ) cho ông Phạm Văn N diện tích 72,94 m², sơ đồ thửa đất thể hiện trên GCNQSDĐ có kích thước các cạnh, phần giáp ranh của thửa đất trong đó phía sau giáp rãnh thoát nước.
Ngày 25/02/1998, ông N có đơn đề nghị cấp GCNQSDĐ sau khi đo đạc bản đồ năm 1998 tại thửa đất số 57, tờ bản đồ số 21, diện tích 75,2 m², UBND phường T xác nhận trong đơn đề nghị cấp GCNQSDĐ: Đề nghị cấp 72,9 m² đất cắt lại 2,3 m² đất làm đường + rãnh thoát nước.
Ngày 08/10/1999, UBND tỉnh B cấp GCNQSDĐ cho hộ ông N tại thửa đất số 57, tờ bản đồ số 21, diện tích 72,9 m², mục đích sử dụng T (thổ cư), thời hạn lâu dài.
Sau khi ông N và vợ là bà Hà Thị S chết. Năm 2007, các thành viên thuộc hàng thừa kế thứ nhất làm thủ tục phân chia di sản thừa kế cho ông K1, bà H. Ngày 19/12/2007, ông K1 có đơn đề nghị UBND thành phố B cấp đổi GCNQSDĐ kèm theo hồ sơ phân chia di sản thừa kế.
Ngày 28/01/2008, UBND thành phố B có Quyết định số 22/QĐ-UBND về việc cấp GCNQSDĐ ở cho 02 hộ gia đình, cá nhân trong đó có ông K1, bà H tại thửa đất số 57, tờ bản đồ số 21, diện tích 72,9 m², mục đích sử dụng T, thời hạn lâu dài.
-
Về hiện trạng sử dụng đất: Trong quá trình thực hiện kê khai, kiểm kê đối chiếu GCNQSDĐ, bản đồ bồi thường GPMB, hiện trạng sử dụng đất cho thấy phần hiện trạng sử dụng đất của hộ bà H không khớp với GCNQSDĐ, cụ thể:
Phần diện tích phía trước giáp ranh với thửa đất của hộ ông Nguyễn Văn V (D) đã xây dựng công trình nhà ở 02 tầng từ thời điểm trước khi đo đạc năm 1998, tuy nhiên bản đồ không thể hiện đúng hiện trạng. Khi cấp GCNQSDĐ lần đầu sử dụng bản đồ đo đạc năm 1998 dẫn đến việc GCNQSDĐ và bản đồ không đúng hiện trạng, bà H đề nghị đo đạc thực tế.
Ngày 24/3/2023, Trung tâm Phát triển quỹ đất và C công nghiệp thành phố phối hợp với Phòng T1, Chi nhánh Văn phòng Đ, UBND phường T và Đơn vị trực tiếp đo đạc (Công ty Đ1) thống nhất kết quả đo đạc hiện trạng thửa đất của hộ bà H có diện tích 76,6 m² để làm cơ sở xác nhận nguồn gốc và lập phương án bồi thường theo quy định.
- Về việc thu hồi, bồi thường GPMB: Dự án đầu tư xây dựng công trình
đường dẫn cầu Á, thành phố B có trong danh mục các công trình, dự án được phép thu hồi đất, được phê duyệt tại Nghị quyết số 36/NQ-HĐND ngày 08/10/2021 của HĐND tỉnh B và được chuyển tiếp sang Nghị quyết số 30/NQ-HĐND ngày 04/10/2022; quy hoạch sử dụng đất đến năm 2030 thành phố B được UBND tỉnh B phê duyệt tại Quyết định số 737/QĐ-UBND ngày 21/7/2021 và Quyết định số 255/QĐ-UBND ngày 16/3/2023. Kế hoạch sử dụng đất năm 2021 thành phố B được UBND tỉnh B phê duyệt tại Quyết định số 1053/QĐ-UBND ngày 05/10/2021 và điều chỉnh, bổ sung Kế hoạch sử dụng đất năm 2023 của thành phố B tại Quyết định số 377/QĐ-UBND ngày 12/4/2023.
Ngày 15/11/2021, Chủ tịch UBND thành phố B ban hành Quyết định số 8135/QĐ-UBND về việc phê duyệt dự án; ngày 17/02/2022, UBND thành phố B có Thông báo số 30/TB-UBND về việc thu hồi đất để thực hiện dự án.
Ngày 20/4/2022, UBND phường T gửi Thông báo số 27/TB-UBND về việc kiểm kê cho hộ bà H; ngày 25/4/2022, hộ gia đình bà H có tờ tự khai về đất và tài sản trên thửa đất số 72, tờ bản đồ số 21, cùng ngày tổ công tác đã thực hiện kiểm kê tài sản trên thửa đất, bà H đã ký xác nhận.
Trong quá trình thực hiện dự án, hộ bà H có ý kiến diện tích hiện trạng không phù hợp với diện tích trên GCNQSDĐ của gia đình đề nghị được đo đạc thực tế.
Ngày 03/01/2023, Trung tâm Phát triển quỹ đất và C công nghiệp thành phố, UBND phường T đã phối hợp với Công ty Đ1 (đơn vị có chức năng đo đạc theo quy định) tổ chức đo đạc hiện trạng, tuy nhiên hộ bà H không ký biên bản xác nhận kết quả đo đạc. Ngày 16/02/2023, UBND phường T có Thông báo số 05/TB-UBND niêm yết dự thảo phương án bồi thường, hỗ trợ GPMB khi Nhà nước thu hồi đất để thực hiện dự án.
Ngày 02/3/2023, bà H có “Đơn khiếu nại” gửi Chủ tịch UBND thành phố B nội dung đề nghị, phản ánh liên quan đến dự thảo phương án bồi thường GPMB, tái định cư của gia đình. Ngày 13/4/2023, Chủ tịch UBND thành phố B ban hành Công văn số 1063/UBND-TNMT về việc giải quyết đơn của bà H, phường T.
Theo kết quả đo đạc ngày ngày 24/3/2023, hiện trạng thửa đất của hộ bà H có diện tích 76,6 m² để làm cơ sở xác nhận nguồn gốc và lập phương án bồi thường đối với hộ bà H theo quy định.
Ngày 30/3/2023, UBND phường T tổ chức Hội nghị xin ý kiến về nguồn gốc, thời điểm sử dụng đất, quá trình sử dụng đất của hộ bà H tại thửa đất số 72, tờ
bản đồ số 21, diện tích 76,6 m².
Căn cứ GCNQSDĐ, các giấy tờ liên quan, kết quả hội nghị xin ý kiến về nguồn gốc sử dụng đất, số liệu đo đạc, UBND phường T xác nhận: Nguồn gốc đất, loại đất, diện tích đất của hộ bà H tại thửa đất số 72, tờ bản đồ 21, diện tích 76,6 m² được cấp GCNQSDĐ diện tích 72,9 m² ngày 28/01/2008; 3,7 m² đất không có giấy tờ, sử dụng ổn định, không có tranh chấp trước năm 1993.
Ngày 04/4/2023, UBND phường T có Thông báo số 18/TB-UBND về việc niêm yết phương án dự thảo bồi thường, hỗ trợ GPMB đối với hộ gia đình bà H (Thời gian niêm yết từ ngày 05/4/2023 đến ngày 25/4/2023). Kết thúc niêm yết, ngày 26/4/2023, Trung tâm Phát triển quỹ đất và C công nghiệp thành phố phối hợp với UBND phường T tổ chức hội nghị giải đáp ý kiến vướng mắc trong thời gian niêm yết dự thảo phương án theo quy định.
Ngày 08/5/2023, UBND thành phố B đã ban hành các Quyết định số 382 về việc thu hồi đất (đợt 10) và Quyết định số 383 về việc phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ GPMB, tái định cư (đợt 10) để thực hiện dự án, trong đó: Thu hồi 76,6 m² đất ở (47,8 m² trong chỉ giới, 28,8 m² ngoài chỉ giới) tại thửa đất số 72, tờ bản đồ số 21 (72,9 m² được UBND thành phố B cấp GCNQSDĐ ngày 28/01/2008 và 3,7 m² đất đã có công trình nhà ở sử dụng từ trước năm 1993, không giấy tờ, sử dụng ổn định, không có tranh chấp, không thuộc quỹ đất công ích), tổng kinh phí bồi thường, hỗ trợ là 5.516.976.900 đồng (bao gồm cả kinh phí hỗ trợ bàn giao mặt bằng sớm 53.064.000 đồng) và được giao tái định cư 01 lô đất tại dự án Khu S thuộc Khu đô thị P thành phố (từ lô số 42 đến lô đất số 79 (mặt đường L).
Ngày 08/5/2023, UBND phường T có Thông báo số 30/TB-UBND về việc niêm yết công khai Quyết định thu hồi đất, Quyết định phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ GPMB (đợt 10) để thực hiện dự án và phương án chi tiết kèm theo; được niêm yết công khai tại trụ sở UBND phường T và Nhà sinh hoạt văn hóa Tổ dân phố Á; hết thời gian niêm yết, Ban Q phối hợp với Trung tâm Phát triển quỹ đất và C công nghiệp thành phố, UBND phường T tổ chức mời chi trả tiền bồi thường, hỗ trợ GPMB, cụ thể tại các Thông báo: Số 118/TB-TTQĐ ngày 11/5/2023; số 126/TB-TTQĐ ngày 16/5/2023; số 131/TB-TTQĐ ngày 22/5/2023; UBND phường T cùng các ban, ngành, đoàn thể của phường, tổ dân phố phối hợp với Trung tâm Phát triển quỹ đất và C công nghiệp thành phố tổ chức tuyên truyền vận động vào các ngày 13/6/2023; ngày 15/6/2023; ngày 16/6/2023, tuy nhiên hộ bà H không đồng thuận nhận tiền bồi thường và bàn giao mặt bằng.
Ngày 29/6/2023, UBND thành phố B ban hành Quyết định số 2611/QĐ-UBND về việc cưỡng chế thu hồi đất, giải toả tài sản trên đất đối với hộ bà Nguyễn Thị Việt H, ông Phạm Thế K1 để thực hiện Quyết định số 382.
Ngày 13/7/2023, UBND thành phố B ban hành Thông báo số 220/TB-UBND về việc tổ chức cưỡng chế, giải tỏa tài sản trên đất đối với hộ bà H (K1) để thực hiện dự án. Ngày 14/7/2023, hộ bà H nhận tiền và bàn giao mặt bằng để thực hiện dự án, do vậy UBND thành phố B dừng việc tổ chức cưỡng chế thu hồi đất và giải toả tài sản trên đất đối với hộ bà H.
Đối yêu cầu huỷ Công văn số 2799 và Công văn số 3412 của Chủ tịch UBND thành phố B về việc trả lời đơn của ông Phạm Thế K1, trú tại phường Trần Phú
Căn cứ khoản 1 Điều 6 Thông tư 05/2021/TT-TTCP ngày 01/10/2021 của Thanh tra Chính phủ quy định quy trình xử lý đơn khiếu nại, đơn tố cáo, đơn kiến nghị, phản ánh (Điều 6. Phân loại đơn: 1. Việc phân loại đơn căn cứ vào nội dung trình bày trong đơn, mục đích, yêu cầu của người viết đơn, không phụ thuộc vào tiêu đề của đơn. Đơn được phân loại như sau: a) Đơn khiếu nại; b) Đơn tố cáo; c) Đơn kiến nghị, phản ánh; d) Đơn có nhiều nội dung khác nhau).
Căn cứ nội dung đơn của ông K1 và kết quả xem xét, làm rõ cho thấy các nội dung ông K1 có ý kiến trong đơn là đề nghị, phản ánh cụ thể:
- Đơn ngày 01/8/2022 có nội dung: Đề nghị cung cấp các văn bản: Đồ án quy hoạch phân khu, khu S, thành phố B; Đồ án quy hoạch chi tiết, mặt bằng quy hoạch khu đất tờ bản đồ 21; Bản đồ quy hoạch sử dụng đất năm 2030 thành phố B; trích đo bản đồ GPMB khu vực đường dẫn cầu Á, thành phố B.
- Đơn ngày 31/8/2022 có nội dung: Đề nghị cung cấp quy hoạch sử dụng đất tại khu vực đường dẫn cầu Á, ranh giới thửa đất trên bản đồ trích lục không phù hợp với hiện trạng; chỉ giới thu hồi đất của gia đình ông.
- Đơn đề ngày 02/3/2023 có nội dung: Vướng mắc liên quan đến dự thảo phương án bồi thường GPMB của gia đình.
Các đơn của ông Phạm Thế K1 đều được các cơ quan chuyên môn, Chủ tịch UBND thành phố B xem xét, trả lời theo từng nội dung trong đơn và giải quyết đơn theo nội dung đề nghị, phản ánh là đúng quy định.
Đối với yêu cầu huỷ một phần các Quyết định số 382 về việc thu hồi đất (đợt 10); số 383 về việc phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ GPMB, tái định cư (đợt 10) cùng ngày 08/5/2023.
Kết quả trích đo hiện trạng, thửa đất số 72, tờ bản đồ 21, diện tích 76,6 m² của hộ bà H, ông K1 có diện tích nằm trong chỉ giới thu hồi 47,8 m², diện tích còn lại 28,8 m².
Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 9 Quyết định số 40/2021/QĐ-UBND ngày 20/8/2021 của UBND tỉnh B ban hành Quy định hạn mức giao đất ở, hạn mức công nhận đất ở, diện tích tối thiểu được tách thửa và điều kiện tách thửa, hợp thửa áp dụng trên địa bàn tỉnh Bắc Giang, quy định:
Phần diện tích đất còn lại nằm ngoài chỉ giới của gia đình ông K1 có diện tích 28,8 m² không đủ điều kiện để hình thành thửa đất mới theo quy định nên việc UBND thành phố B ban hành Quyết định thu hồi toàn bộ thửa đất số 72, tờ bản đồ 21 của hộ bà H, ông K1 tại đường Á, phường T là đúng quy định.
Trong quá trình lập phương án bồi thường, hỗ trợ GPMB, cưỡng chế thu hồi đất và giải toả tài sản trên đất đối với thửa đất số 72, tờ bản đồ 21 của hộ bà H, UBND thành phố B và cơ quan, đơn vị liên quan đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục theo quy tại Điều 69 Luật Đất đai năm 2013 và Quy định về thu hồi đất; bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất áp dụng trên địa bàn tỉnh Bắc Giang ban hành kèm theo Quyết định số 10/2019/QĐ-UBND ngày 21/5/2019 UBND tỉnh B; Quyết định số 70/2021/QĐ-UBND ngày 14/12/2021 sửa đổi, bổ sung một số điều của Quy định về thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất áp dụng trên địa bàn tỉnh Bắc Giang ban hành kèm theo Quyết định số 10/2019/QĐ-UBND ngày 21/5/2019 của UBND tỉnh B.
Do vậy, ngày 08/5/2023 UBND thành phố B ban hành các Quyết định số 382 về việc thu hồi đất (đợt 10) và Quyết định số 383 về việc phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ GPMB, tái định cư (đợt 10) để thực hiện dự án là đúng quy định.
Từ những căn cứ trên, đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang bác yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Việt H.
Ông Phạm Thế K1 trình bày: Ông là chồng của bà Nguyễn Thị Việt H. Ông nhất trí với ý kiến và yêu cầu khởi kiện của bà H.
Anh Phạm Mạnh K và chị Phạm Thị Phương H3 trình bày: Anh chị là con của bà Nguyễn Thị Việt H. Anh chị nhất trí với ý kiến và yêu cầu khởi kiện của bà H.
Tại Bản án hành chính sơ thẩm số 35/2023/HC-ST ngày 27 tháng 10 năm 2023, Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang quyết định:
Căn cứ khoản 1 Điều 30; khoản 4 Điều 32; Điều 157; Điều 158; điểm a khoản 2 Điều 193; Điều 204; Điều 206 và khoản 1 Điều 348 của Luật Tố tụng hành chính.
Căn cứ điểm d khoản 3 Điều 62; điểm b khoản 1, điểm a khoản 2 và khoản 3 Điều 66; Điều 67; điểm a khoản 3 Điều 69; Điều 71; khoản 2 Điều 74 và Điều 83 Luật Đất đai năm 2013.
Căn cứ khoản 1 Điều 6 Thông tư 05/2021/TT-TTCP ngày 01/10/2021 của Thanh tra Chính phủ.
Căn cứ Điều 27; Điều 28 và Điều 29 Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015.
Căn cứ khoản 1 Điều 32 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
Xử:
-
Bác yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Việt H về việc đề nghị Tòa án:
- Huỷ Công văn số 2799/UBND-TNMT ngày 30/8/2022 và Công văn số 3412/UBND-TNMT ngày 18/10/2022 của Chủ tịch UBND thành phố B về việc trả lời đơn của ông Phạm Thế K1, trú tại phường T.
- Huỷ một phần Quyết định số 382/QĐ-UBND ngày 08/5/2023 của UBND thành phố B về việc thu hồi đất (đợt 10) tại phường T để thực hiện dự án: Xây dựng đường dẫn cầu Á, thành phố B liên quan đến gia đình bà Nguyễn Thị Việt H.
- Huỷ một phần Quyết định số 383/QĐ-UBND ngày 08/5/2023 của UBND thành phố B về việc phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ GPMB, tái định cư (đợt 10) tại phường T để thực hiện dự án: Xây dựng đường dẫn cầu Á, thành phố B liên quan đến gia đình bà Nguyễn Thị Việt H.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về án phí hành chính sơ thẩm, phổ biến về quyền kháng cáo cho các đương sự theo quy định.
Ngày 11/11/2023, bà Nguyễn Thị Việt H ủy quyền cho ông Phạm Mạnh K kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xem xét hủy bản án sơ thẩm và chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Bà Nguyễn Thị Việt H và người đại diện theo ủy quyền là ông Phạm Mạnh K giữ nguyên đơn khởi kiện, nội dung kháng cáo và ý kiến, quan điểm đã trình bày tại Tòa án cấp sơ thẩm. Ông K trình bày việc thu hồi đất không có căn cứ, không đúng quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất. Việc chỉnh lý bản đồ, ban hành các quyết
định hành chính là không đúng thẩm quyền. Chủ tịch UBND thành phố B ban hành Công văn số 2799/UBND-TNMT ngày 30/8/2022 và Công văn số 3412/UBND-TNMT ngày 18/10/2022 trả lời đơn của ông Phạm Thế K1 là không đúng thẩm quyền, hình thức, nội dung, thiếu căn cứ. Các Quyết định số 382/QĐ-UBND và Quyết định số 383 /QĐ-UBND cùng ngày 08/5/2023 của UBND thành phố B không căn cứ vào quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất. Đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của người khởi kiện.
Người đại diện theo ủy quyền của người bị kiện và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị kiện giữ nguyên quan điểm, ý kiến trình bày tại cấp sơ thẩm, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bà Nguyễn Thị Việt H, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội sau khi tóm tắt nội dung vụ án, nghe ý kiến trình bày của các bên đương sự cùng các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã nêu quan điểm:
-
Về tố tụng:
Thẩm phán từ khi thụ lý đến khi xét xử và Hội đồng xét xử đã chấp hành đúng các quy định của Luật Tố tụng hành chính.
-
Về nội dung:
Chủ tịch UBND thành phố B ban hành Công văn số 2799/UBND-TNMT ngày 30/8/2022 và Công văn số 3412/UBND-TNMT ngày 18/10/2022 trả lời đơn của ông Phạm Thế K1 là đúng trình tư, thủ tục, thẩm quyền và có căn cứ, bảo đảm quy định tại khoản 1 Điều 6 Thông tư 05/2021/TT-TTCP ngày 01/10/2021 của Thanh tra Chính phủ; Điều 27, Điều 28 và Điều 29 Luật tổ chức chính quyền địa phương năm 2015.
UBND thành phố B ban hành Quyết định số 382/QĐ-UBND về việc thu hồi đất và Quyết định số 383/QĐ-UBND về việc phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ GPMB cùng ngày 08/5/2023 đúng thẩm quyền theo quy định tại điểm d khoản 3 Điều 62; điểm b khoản 1, điểm a khoản 2 và khoản 3 Điều 66 Luật Đất đai năm 2013.
Dự án đầu tư xây dựng công trình đường dẫn cầu Á, thành phố B có trong danh mục các công trình, dự án được phép thu hồi đất, được phê duyệt tại Nghị quyết số 36/NQ-HĐND ngày 08/10/2021 của HĐND tỉnh B và được chuyển tiếp sang Nghị quyết số 30/NQ-HĐND ngày 04/10/2022; quy hoạch sử dụng đất đến
năm 2030 thành phố B được UBND tỉnh phê duyệt tại Quyết định số 737/QĐ-UBND ngày 21/7/2021 và Quyết định số 255/QĐ-UBND ngày 16/3/2023. Kế hoạch sử dụng đất năm 2021 thành phố B được UBND tỉnh B phê duyệt tại Quyết định số 1053/QĐ-UBND ngày 05/10/2021 và điều chỉnh, bổ sung Kế hoạch sử dụng đất năm 2023 của thành phố B tại Quyết định số 377/QĐ-UBND ngày 12/4/2023.
Ngày 15/11/2021, Chủ tịch UBND thành phố B ban hành Quyết định số 8135/QĐ-UBND về việc phê duyệt dự án; ngày 17/02/2022, UBND thành phố B có Thông báo số 30/TB- UBND về việc thu hồi đất để thực hiện dự án là có căn cứ, đúng thẩm quyền.
Căn cứ GCNQSDĐ thì bà H có 72,9 m² đất; UBND thành phố B đã đo đạc xác định diện tích đất thực tế sử dụng, trong đó có 3,7 m² đất (không có giấy tờ, không có tranh chấp, không thuộc quỹ đất công ích, đã có công trình, nhà ở sử dụng ổn định từ trước năm 1993). Tổng diện tích đất của hộ bà H được bồi thường 76,6 m² là có căn cứ, đúng pháp luật. Diện tích 28,8 m² đất sau thu hồi không đủ điều kiện tách thửa nên thu hồi toàn bộ diện tích đất là phù hợp quy định pháp luật. Bà H đã tự kê khai tài sản trên đất, có xác nhận của chính quyền địa phương, biên bản kiểm kê tài sản trên đất có xác nhận của tổ tưởng dân phố, đại diện gia đình, UBND phường T, Trung tâm phát triển quỹ đất và các thành viên khác tham gia đã ký.
Chủ tịch UBND thành phố B ban hành Công văn số 2799/UBND-TNMT ngày 30/8/2022 và Công văn số 3412/UBND-TNMT ngày 18/10/2022 trả lời đơn của ông Phạm Thế K1 là phù hợp. Các quyết định thu hồi và phê duyệt, bồi thường, hỗ trợ GPMB đúng và đầy đủ theo quy định pháp luật. Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Việt H là có căn cứ. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 241 Luật Tố tụng hành chính, không chấp nhận kháng cáo của bà H, giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án; căn cứ vào tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ đã được thẩm tra công khai và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Về thủ tục và thời hạn kháng cáo: Đơn kháng cáo của bà Nguyễn Thị Việt H làm trong hạn luật định, bà H đã nộp tạm ứng án phí nên được xem xét theo trình
tự phúc thẩm.
[1.1] Về thời hiệu khởi kiện: Ngày 08/5/2023, UBND thành phố B ban hành Quyết định số 382/QĐ-UBND về việc thu hồi đất (đợt 10) tại phường T và Quyết định số 383/QĐ-UBND về việc phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ giải phóng mặt bằng, tái định cư (đợt 10) tại phường T để thực hiện dự án “Xây dựng đường dẫn cầu Á thành phố B”. Ngày 09/5/2023, bà Nguyễn Thị Việt H có đơn khởi kiện là trong thời hạn quy định theo điểm a khoản 2 Điều 116 Luật Tố tụng hành chính.
[1.2] Về thẩm quyền: Căn cứ vào khoản 1 Điều 30 và khoản 4 Điều 32 Luật Tố tụng hành chính 2015, Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền.
[1.3] Về người tham gia tố tụng: Tại phiên tòa phúc thẩm, ông Phạm Thế K1 và chị Phạm Thị Phương H3 vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ Điều 225 Luật Tố tụng hành chính tiến hành xét xử vắng mặt ông K1, chị H3.
[2] Về nội dung yêu cầu khởi kiện:
[2.1] Xét tính hợp pháp, có căn cứ của Công văn số 2799/UBND-TNMT ngày 30/8/2022 và Công văn số 3412/UBND-TNMT ngày 18/10/2022 của Chủ tịch UBND thành phố B về việc trả lời đơn của ông Phạm Thế K1.
Ngày 01/8/2022, ông Phạm Thế K1 có đơn đề nghị cung cấp các văn bản: Đồ án quy hoạch phân khu, khu S, thành phố B; đồ án quy hoạch chi tiết, mặt bằng quy hoạch khu đất tờ bản đồ 21; bản đồ quy hoạch sử dụng đất năm 2030 thành phố B; trích đo bản đồ GPMB khu vực đường dẫn cầu Á, thành phố B. Ngày 31/8/2022, ông K1 có đơn đề nghị cung cấp quy hoạch sử dụng đất tại khu vực đường dẫn cầu Á, ranh giới thửa đất trên bản đồ trích lục không phù hợp với hiện trạng; chỉ giới thu hồi đất của gia đình ông. Ngày 02/3/2023, ông K1 tiếp tục có đơn với nội dung vướng mắc liên quan đến dự thảo phương án bồi thường GPMB của gia đình.
Các cơ quan chuyên môn, Chủ tịch UBND thành phố B đã xem xét, trả lời theo từng nội dung đề nghị trong đơn của ông Phạm Thế K1 và ban hành Công văn số 2799/UBND-TNMT ngày 30/8/2022 và Công văn số 3412/UBND-TNMT ngày 18/10/2022 trả lời ông K1 là đúng trình tự, thủ tục, thẩm quyền, nội dung đảm bảo quy định tại khoản 1 Điều 6 Thông tư 05/2021/TT-TTCP ngày 01/10/2021 của Thanh tra Chính phủ; Điều 27, Điều 28 và Điều 29 Luật tổ chức chính quyền địa phương năm 2015. Do đó, bà Nguyễn Thị Việt H kháng cáo yêu
cầu hủy hai văn bản nêu trên của Chủ tịch UBND thành phố B là không có căn cứ chấp nhận.
[2.2] Xét tính hợp pháp và có căn cứ của Quyết định số 382/QĐ-UBND về việc thu hồi đất và Quyết định số 383/QĐ-UBND cùng ngày 08/5/2023 của UBND thành phố B về việc phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ GPMB, để thực hiện dự án “Xây dựng đường dẫn cầu Á, thành phố B” liên quan đến hộ gia đình bà Nguyễn Thị Việt H
- Về thẩm quyền: UBND thành phố B ban hành quyết định thu hồi đất và phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ GPMB là đúng thẩm quyền theo quy định tại điểm d khoản 3 Điều 62; Điều 63; điểm a khoản 2 Điều 66 Luật Đất đai năm 2013.
- Về trình tự, thủ tục ban hành quyết định: UBND thành phố B đã tiến hành ban hành kế hoạch thông báo thu hồi đất; tổ chức họp các hộ dân có đất thu hồi để phổ biến và giải thích chủ trương thu hồi đất, quy định của pháp luật về việc thu hồi và phương án bồi thường, hỗ trợ khi thu hồi đất; tiến hành điều tra, khảo sát, đo đạc, kiểm đếm khi thu hồi đất; lập, thẩm định phương án bồi thường, hỗ trợ; lấy ý kiến của các hộ có đất bị thu hồi về dự thảo phương án bồi thường; giao trực tiếp và niêm yết công khai các văn bản, quyết định liên quan đến thu hồi, phê duyệt phương án bồi thường đất tại trụ sở U. Ngày 08/5/2023, UBND thành phố B ban hành Quyết định số 382/QĐ-UBND về việc thu hồi đất và Quyết định số 383/QĐ-UBND về việc phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ GPMB để thực hiện dự án “Xây dựng đường dẫn cầu Á, thành phố B” là đúng quy định tại Điều 67 và Điều 69 Luật Đất đai năm 2013.
Do đó, bà H đề nghị hủy một phần Quyết định số 382/QĐ-UBND và một phần Quyết định số 383/QĐ-UBND cùng ngày 08/5/2023 của UBND thành phố B là không có cơ sở chấp nhận.
Trên cơ sở bản tự kê khai, biên bản kiểm kê, sổ địa chính được lưu trữ tại UBND phường, GCNQSDĐ đối với thửa đất, diện tích đất, các tài sản trên đất của hộ bà H và các tài liệu khác về trình tự thủ tục thu hồi đất. Căn cứ Quyết định số 1463/QĐ-UBND ngày 08/4/2022 của UBND thành phố B về việc phê duyệt giá đất cụ thể để tính bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất để thực hiện dự án xây dựng đường dẫn cầu Á, thành phố B, đơn giá bồi thường về đất ở tại các thửa đất từ số nhà B đến ngõ B đường Á, phường T, thành phố B là 65.000.000 đồng/m².
Diện tích đất thu hồi của hộ gia đình bà H: 76,6 m² đất ở (47,8 m² trong chỉ giới, 28,8 m² ngoài chỉ giới) tại thửa đất số 72, tờ bản đồ số 21 gồm 72,9 m² được UBND thành phố B cấp GCNQSDĐ ngày 28/01/2008 và 3,7 m² đất (không có giấy tờ, không có tranh chấp, không thuộc quỹ đất công ích, đã có công trình, nhà ở sử dụng ổn định từ trước năm 1993). Gia đình bà H được bồi thường về đất ở: 65.000.000 đồng/m2 x 76,6 m² = 4.979.000.000 đồng.
Căn cứ Công văn số 62/SXD-KT&VLXD ngày 09/01/2023 của Sở Xây dựng tỉnh B về việc công bố đơn giá bồi thường, hỗ trợ tài sản là nhà, công trình kiến trúc gắn liền với đất trên địa bàn tỉnh Bắc Giang từ ngày 01/01/2023, xác định:
- Bồi thường, hỗ trợ tài sản trên đất: 457.912.900 đồng;
- Chi phí di chuyển chỗ ở ngoài địa giới hành chính: 4.500.000 đồng;
- Hỗ trợ tiền thuê nhà 500.000 đồng/khẩu/tháng (thời gian tối đa là 09 tháng kể từ khi giao đất ở và tài sản định cư): 5 khẩu x 500.000 đồng = 22.500.000 đồng;
- Hỗ trợ đối với nhà ở bị thu hồi và phải di chuyển chỗ ở: 50.000.000 đồng;
- Hỗ trợ bàn giao mặt bằng sớm đối với thu hồi đất: 76,6 m² x 40.000 đồng/m² = 3.064.000 đồng;
Tổng kinh phí bồi thường, hỗ trợ là 5.516.976.900 đồng và được giao tái định cư 01 lô đất tại dự án Khu S thuộc Khu đô thị P thành phố (từ lô số 42 đến lô đất số 79 (mặt đường L).
Ngày 14/7/2023, hộ bà H nhận tiền, bàn giao mặt bằng để thực hiện dự án.
Như vậy, UBND thành phố B thực hiện bồi thường, hỗ trợ tài sản trên đất cho hộ bà H là đảm bảo theo quy định tại điểm d khoản 3 Điều 62, khoản 2 Điều 74 và Điều 83 Luật Đất đai năm 2013; Điều 21, Điều 25, Điều 26, Điều 27 Quyết định số 10/2019/QĐ-UBND ngày 21/5/2019 UBND tỉnh B; Quyết định số 70/2021/QĐ-UBND ngày 14/12/2021 sửa đổi, bổ sung một số điều của Quy định về thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất áp dụng trên địa bàn tỉnh Bắc Giang ban hành kèm theo Quyết định số 10/2019/QĐ-UBND ngày 21/5/2019 của UBND tỉnh B. Việc bà H cho rằng diện tích đất bồi thường còn thiếu, giá bồi thường chưa phù hợp để yêu cầu hủy một phần Quyết
định số 382, một phần Quyết định số 383 liên quan đến việc gia đình bà bị thu hồi 76,6 m² đất là không có căn cứ chấp nhận.
[2.3] Xét tính hợp pháp và có căn cứ của Quyết định số 2611/QĐ-UBND ngày 29/6/2023 về việc cưỡng chế thu hồi đất và giải toả tài sản trên đất đối với hộ bà Nguyễn Thị Việt H, ông Phạm Thế K1 thấy: Chủ tịch UBND thành phố B ban hành Quyết định số 2611/QĐ-UBND ngày 29/6/2023 cưỡng chế thu hồi đất là đúng thẩm quyền và trình tự, thủ tục theo quy định tại khoản 1, 2, 3, 4 Điều 71 Luật Đất đai năm 2013. Tuy nhiên, sau khi hộ bà H đã nhận tiền và bàn giao mặt bằng để thực hiện dự án, Chủ tịch UBND thành phố B đã dừng việc tổ chức cưỡng chế thu hồi đất và giải toả tài sản trên đất đối với hộ bà H là đúng.
[2.4] Đối với yêu cầu đo đạc lại diện tích thực tế, cơ sở pháp lý của việc thu hồi đất và cung cấp hồ sơ giải quyết khiếu nại, thu hồi đất, phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ GPMB, tái định cư đã được xem xét, đánh giá tại mục [2.1] và [2.2] nên không có căn cứ chấp nhận.
[2.5] Về yêu cầu giám định chữ ký, chữ viết, nhân thân của cán bộ đo đạc Công ty TNHH Đ1 và xem xét xử lý văn bản quy phạm pháp luật thấy: Các yêu cầu này không thuộc thẩm quyền giải quyết theo quy định tại khoản 1, khoản 3 Điều 3; khoản 1 Điều 30 Luật Tố tụng hành chính nên không có căn cứ chấp nhận.
[3] Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét, đánh giá đầy đủ các tài liệu, chứng cứ để bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà H là có căn cứ. Tại phiên tòa phúc thẩm, bà H không xuất trình được tài liệu, tình tiết mới làm thay đổi bản chất nội dung vụ kiện nên không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bà Nguyễn Thị Việt H.
[4] Về án phí: Do kháng cáo không được chấp nhận nên bà Nguyễn Thị Việt H phải chịu án phí hành chính phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
[5] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 241 Luật Tố tụng hành chính; khoản 1 Điều 34 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và
X:
- Không chấp nhận kháng cáo của bà Nguyễn Thị Việt H; giữ nguyên Bản án hành chính sơ thẩm số 35/2023/HC-ST ngày 27 tháng 10 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang.
- Án phí: Bà Nguyễn Thị Việt H phải chịu 300.000 đồng án phí hành chính phúc thẩm; được trừ vào số tiền 300.000 đồng đã nộp tạm ứng án phí phúc thẩm tại Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0000855 ngày 21/11/2023 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Giang.
- Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Nam Thành |
Bản án số 231/2024/HC-PT ngày 12/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI về khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai
- Số bản án: 231/2024/HC-PT
- Quan hệ pháp luật: Khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 12/04/2024
- Loại vụ/việc: Hành chính
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị Việt H + UBND TP B v/v khiếu kiện QĐ hành chính, hành vi hành chính trong lĩnh vực đất đai
