|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN TỈNH THÁI NGUYÊN Bản án số: 230/2024/HS-ST Ngày 30-8-2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có
Thẩm phán chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Mừng
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Thị Bích Phương
2. Ông Đồng Văn Quân
Thư ký phiên tòa: Ông Lưu Mạnh Hùng – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Ông Vũ Đăng Huy - Kiểm sát viên
Trong ngày 30 tháng 8 năm 2024, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 216/2024/TLHS-ST, ngày 08/8/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 224/2024/QĐXXST-HS, ngày 16/8/2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Lục Văn H; sinh ngày 01/6/1982 tại Thái Nguyên.
Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không. Nơi cư trú: Xóm I, xã P, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Nùng. Tôn giáo: Không. Trình độ học vấn: 09/12. Nghề nghiệp: Làm ruộng. Chức vụ trước khi phạm tội (Đảng, Chính quyền, Đoàn thể): Không. Con ông Lục Trung N, sinh năm 1958. Con bà Nông Thị L, sinh năm 1957. Vợ Lương Thị T, sinh năm 1984, có 02 con. Tiền án, tiền sự: Không.
- Nhân thân: Ngày 19/3/2020, Công an huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên xử phạt vi phạm hành chính số tiền 3.500.000 đồng về hành vi “Huỷ hoại tài sản của người khác”. Đã nộp phạt ngày 27/3/2020.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 09/5/2024 cho đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T (có mặt).
Người chứng kiến: Ông Đàm Thanh B, sinh năm 1958 (vắng mặt)
Địa chỉ: Xóm T, xã Q, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Trên cơ sở các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và kết quả xét hỏi tại phiên tòa thì nội dung vụ án như sau: Hồi 10 giờ 20 phút ngày 09/5/2024, Tổ công tác Công an xã Q, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên đang làm nhiệm vụ tại khu vực xóm S, xã Q, thành phố T thì phát hiện có một người đàn ông có biểu hiện nghi vấn liên quan đến ma túy. Tổ công tác đã yêu cầu kiểm tra, người này khai tên là Lục Văn H. Quá trình kiểm tra, Tổ công tác phát hiện tại túi quần phía trước bên phải H đang mặc có 01 gói giấy bạc màu trắng bên trong chứa chất bột màu trắng (niêm phong ký hiệu A). H khai nhận chất bột màu trắng là ma túy của H mua về để sử dụng cho bản thân. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Lục Văn H và niêm phong, thu giữ vật chứng theo quy định.
Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T tiến hành mở niêm phong, cân xác định khối lượng: Số chất bột màu trắng trong bì niêm phong ký hiệu A có khối lượng 0,169 gam (niêm phong ký hiệu A1 gửi giám định).
Tại Kết luận giám định số 609/KL-KTHS ngày 17/5/2024 của Phòng K Công an tỉnh T, kết luận: Mẫu chất bột màu trắng trong phong bì ký hiệu Al gửi giám định là chất ma túy; Loại Heroine, có tên khoa học là: Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất; Khối lượng thu giữ ban đầu là 0,169 gam.
Tại Cơ quan điều tra, Lục Văn H khai nhận: Khoảng 10 giờ 00 phút ngày 09/5/2024, H đi xe ôm từ Bệnh viện A đến khu vực xã Q, thành phố T, với mục đích mua ma túy về để sử dụng cho bản thân. Khi đến nơi, H đi bộ vào đường dân sinh thuộc xóm N, xã Q, thành phố T gặp và hỏi mua được của một nam thanh niên không quen biết một gói giấy bạc màu trắng bên trong chứa chất bột màu trắng là ma túy với giá 100.000 đồng. Mua xong, H cất số ma túy trên vào túi quần phía trước bên phải H đang mặc rồi đi về tìm nơi sử dụng. Khi, H đi đến khu vực đường hầm chui cầu vượt cao tốc S thuộc xóm S, xã Q, thành phố T thì bị tổ công tác Công an xã Q, thành phố T bắt quả tang, thu giữ vật chứng như nêu trên.
Vật chứng của vụ án: 01 (một) bì niêm phong đúng quy định ký hiệu Al bên trong có chứa 0,153 gam mẫu còn lại sau giám định và vỏ bao gói; 01 (một) bì niêm phong đúng quy định ký hiệu A2. Hiện đang được lưu giữ, bảo quản tại kho vật chứng của Chi Cục Thi hành án dân sự thành phố Thái Nguyên.
Tại Cáo trạng số 219/CT-VKSTPTN, ngày 06/8/2024 Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố Lục Văn H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Kết thúc phần tranh tụng, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên đã luận tội đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lục Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
- Hình phạt chính: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự:
- Xử phạt bị cáo Lục Văn H từ 18 đến 24 tháng tù.
- Hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu huỷ 02 bì niêm phong ký hiệu A1, A2.
- Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm nộp ngân sách Nhà nước.
Trong phần tranh luận, bị cáo không có ý kiến tranh luận. Bị cáo thừa nhận việc truy tố, xét xử là đúng người đúng tội, không oan. Bị cáo nói lời sau cùng bị cáo nhận thức hành vi của mình là sai, bị cáo xin Hội đồng xét xử cho mức án thấp nhất và để sớm trở về gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng trong vụ án từ khi khởi tố vụ án, điều tra, truy tố: Cơ quan điều tra Công an thành phố T, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác đều không có khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, những người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều đúng quy định pháp luật.
[2]. Về căn cứ buộc tội: Quá trình điều tra và tại phiên toà hôm nay, bị cáo Lục Văn H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung cáo trạng. Lời khai của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai của người chứng kiến, vật chứng thu giữ, kết luận giám định và các tài liệu chứng cứ khác được thu thập có trong hồ sơ vụ án.
Như vậy có đủ cơ sở kết luận: Hồi 10 giờ 20 phút ngày 09/5/2024, tại khu vực đường hầm chui cầu vượt cao tốc S thuộc xóm S, xã Q, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên, Lục Văn H có hành vi tàng trữ 0,169 gam chất ma túy, loại Heroine để sử dụng cho bản thân thì bị Tổ công tác của Công an xã Q, T, bắt quả tang và thu giữ vật chứng.
Hành vi của bị cáo Lục Văn H đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Nội dung Điều 249 được quy định như sau:
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
c) Heroine... có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam”
[3]. Xét tính chất của vụ án là nghiêm trọng. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, hành vi đó đã xâm phạm trực tiếp đến chế độ quản lý độc dược của Nhà nước nói chung và chất ma tuý nói riêng, hành vi đó không những làm ảnh hưởng tới sức khoẻ con người, làm suy hao kinh tế và là một trong những nguyên nhân phát sinh tội phạm và các tệ nạn xã hội khác nên cần xử lý nghiêm minh mới bảo đảm tính răn đe của pháp luật.
[4]. Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo:
- - Xét tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ là “Thành khẩn khai báo ăn năn hối cảỉ” quy định điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, gia đình bị cáo được tặng thưởng Huân chương kháng chiến nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
- - Xét tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.
- - Xét nhân thân bị cáo: Bị cáo có nhân thân xấu, bị cáo đã từng bị Công an huyện Đ xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Huỷ hoại tài sản của người khác. Tuy nhiên bị cáo không chịu tu dưỡng rèn luyện bản thân để trở thành công dân có ích cho xã hội. Bị cáo biết rõ hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý là vi phạm pháp luật, nhưng do bị cáo nghiện ma tuý nên đã lao vào con đường phạm tội thể hiện ý thức coi thường pháp luật.
[5]. Về hình phạt chính: Căn cứ vào tính chất, hành vi, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo: Hội đồng xét xử xét thấy cần xử phạt bị cáo mức án từ 15 đến 18 tháng tù và buộc cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ để cải tạo và giáo dục bị cáo thành công dân có ích cho xã hội.
[6]. Về hình phạt bổ sung (phạt tiền): Bị cáo tàng trữ trái phép chất ma tuý để sử dụng, bị cáo không có mục đích mua bán nhằm kiếm lời, tại phiên toà bị cáo khai không có tài sản riêng, không có việc làm và thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo.
[7]. Về vật chứng: Các bì niêm phong ký hiệu A1, A2 bên trong chứa chất ma tuý và bì niêm phong ban đầu nên cần tịch thu tiêu huỷ theo quy định.
[8]. Về nguồn gốc số Heroine bị thu giữ, Lục Văn H khai mua của một nam thanh niên không quen biết tại tại đường dân sinh thuộc xóm N, xã Q, thành phố T. Quá trình điều tra không xác định được lai lịch của người này nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T không có cơ sở làm rõ để xử lý.
[9]. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định nộp ngân sách Nhà nước.
[10]. Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ Điều 326 Bộ luật Tố tụng hình sự;
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lục Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý".
- Về hình phạt chính: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Xử phạt bị cáo Lục Văn H 18 (mười tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 09/5/2024.
Áp dụng Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự. Quyết định tạm giam bị cáo Lục Văn H 45 (bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo việc thi hành án.
- Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
- Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106, Điều 107 Bộ luật Tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy 02 bì niêm phong ký hiệu A1, A2.
(Tình trạng, đặc điểm của vật chứng như trong mô tả tại quyết định chuyển vật chứng số 164/QĐ-VKSTPTN ngày 06/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên).
- Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Toà án. Buộc bị cáo Lục Văn H phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm vào ngân sách Nhà nước.
- Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Xuân Mừng |
Bản án số 230/2024/HS-ST ngày 30/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN về tàng trữ trái phép chất ma tuý
- Số bản án: 230/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma tuý
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tàng trữ trái phép chất ma tuý
