Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BẮC GIANG

TỈNH BẮC GIANG

Bản án số: 230/2023/HS-ST

Ngày 29-11-2023

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Phương Thảo

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Văn Môn.
  2. Bà Nguyễn Thị Vượng.

- Thư ký phiên tòa: Ông Đặng Văn Hưng - Thư ký Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang tham gia phiên tòa: Bà Chu Ngọc Linh - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 11 năm 2023, Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 226/2023/TLST-HS ngày 10 tháng 11 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 204A/2023/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 11 năm 2023 đối với các bị cáo:

1. Tăng Công S, sinh năm 1994 tại thành phố B, tỉnh Bắc Giang; Tên gọi khác: Không; Nơi cư trú: thôn V, xã T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ văn hóa 8/12; Con ông: Phan Công G, sinh năm 1962 (đã chết) và bà Tăng Thị H, sinh năm 1963 (đã chết); Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ hai.

- Tiền án:

  • + Bản án số 241/HSST ngày 28/11/2011 của Toà án nhân dân thành phố Bắc Giang xử phạt 36 tháng tù về tội “ Cướp giật tài sản” (chấp hành xong hình phạt tù ngày 01/4/2014, chấp hành xong án phí và tiền thu lời bất chính tháng 5/2012)
  • + Bản án số 218/HSST ngày 25/9/2014 của Toà án nhân dân thành phố Bắc Giang xử phạt S 5 năm tù về tội “ Cướp giật tài sản”.
  • + Bản án số 95/HSST ngày 27/4/2016 của Toà án nhân dân thành phố Thanh Hoá xử phạt S 2 năm 6 tháng tù về tội “ Trốn đi khỏi nơi giam giữ”. Tổng hợp với hình phạt còn lại 3 năm 4 tháng 28 ngày tù của bản án số 218/HSST, buộc S chấp hành hình phạt chung là 5 năm 10 tháng 28 ngày tù (chấp hành xong hình phạt tù ngày 9/11/2021, chấp hành xong án phí tháng 8/2016).

- Tiền sự, nhân thân: Không.

Bị cáo bị bắt quả tang, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 12/8/2023. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B (Có mặt).

2. Phan Đình H1, sinh năm 1973 tại thành phố B, tỉnh Bắc Giang; Tên gọi khác: Không; Nơi thường trú: phường L, thành phố B, tỉnh Bắc Giang; Nơi ở hiện tại: số nhà F, đường P, tổ B, phường T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa 6/12; Con ông Phan Đình L, sinh năm 1949 (đã chết) và bà Đặng Thị C, sinh năm 1947 (đã chết); Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ hai; Bị cáo có vợ là Nguyễn Thị H2, sinh năm 1975 và có 02 con, con lớn sinh năm 1996, con nhỏ sinh năm 2007.

- Tiền án, tiền sự: Không.

- Nhân thân:

  • + Bản án số 146/HSST ngày 27/10/2017 của Toà án nhân dân thành phố Bắc Giang xử phạt Phan Đình H1 02 năm 8 tháng tù về tội “ Trộm cắp tài sản” (đã được xoá án tích).
  • + Ngày 25/8/2015 Trưởng công an phường M, thành phố B xử phạt vi phạm hành chính đối với Phan Đình H1 về hành vi “ Xâm hại sức khoẻ của người khác”.

Bị cáo đầu thú, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 12/8/2023. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B (Có mặt).

* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

  • - Chị Trần Thị H3, sinh năm 1992 (Vắng mặt).
  • Địa chỉ: Tổ H, phường C, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên.
  • - Ông Trương Văn B, sinh năm 1971 (Vắng mặt).
  • Địa chỉ: Thôn T, xã T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.
  • - Anh Bùi Văn H4, sinh năm 1987 (Vắng mặt).
  • Địa chỉ: Bản Đ, xã H, huyện Y, tỉnh Bắc Giang.
  • - Ông Nguyễn Xuân P, sinh năm 1968 (Có mặt).
  • Địa chỉ: Số nhà C, đường X, phường N, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.

* Người chứng kiến:

  • - Ông Lưu Hồng N, sinh năm 1958 (Vắng mặt).
  • Địa chỉ: Tổ D, phường M, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 12 giờ 30 phút ngày 12/8/2023 tại khu vực đường T, phường M, thành phố B, tổ công tác Đội Cảnh sát giao thông trật tự của Công an thành phố B tiến hành kiểm soát Tăng Công S, sinh năm 1994, trú tại thôn V, xã T, thành phố B đang điều khiển xe mô tô BKS 20B1-02045 không đội mũ bảo hiểm. Quá trình kiểm soát, tổ công tác kiểm tra bắt quả tang Tăng Công S có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Vật chứng thu giữ: 01 túi nilon màu trắng, một đầu có rãnh khóa nhựa màu trắng, viền màu xanh, bên trong đựng chất tinh thể màu trắng và 01 viên nén hình tròn màu hồng, tất cả nghi ma túy, thu giữ tại túi quần bên trái đằng sau của S đang mặc.

Ngoài ra còn tạm giữ của S: 01 xe mô tô nhãn hiệu Loncin BKS 20B1-02045; 01 điện thoại di động OPPO F1S màu hồng đã qua sử dụng.

Tổ công tác mời người chứng kiến, niêm phong tại chỗ vật chứng nghi là ma tuý vào 01 phong bì thư, dẫn giải S về trụ sở Công an phường M lập biên bản phạm tội quả tang và bàn giao vật chứng cùng tài liệu liên quan đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B giải quyết.

Quá trình điều tra ban đầu, Tăng Công S khai nhận số ma túy trên mua của Phan Đình H1, sinh năm 1973, trú tại số F, đường P, tổ B, phường T, thành phố B.

Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của H1 tại ở số F, đường P, tổ B, phường T, thành phố B. Tại thời điểm khám xét, trong nhà H1 còn có Nguyễn Xuân P, sinh năm 1968, thường trú tại phường N, thành phố B. Cơ quan điều tra đã tiến hành xét nghiệm nước tiểu của H1P có kết quả H1, P dương tính với ma tuý MDMD, MET. H1 đã ra đầu thú khai nhận hành vi mua bán trái phép chất ma tuý của mình. Quá trình khám xét thu giữ:

  • - 01 túi nilon màu trắng, một đầu có rãnh khóa nhựa và viền màu đỏ, bên trong đựng 05 viên nén màu hồng đỏ và chất tinh thể màu trắng, tất cả nghi là ma túy thu tại túi quần bên trái của H1 đang mặc, được niêm phong trong 01 phong bì thư ký hiệu “ КХ01”
  • - 01 túi nilon màu xanh một đầu có rãnh khóa nhựa và viền màu đỏ, bên trong đựng 01 túi nilon màu trắng một đầu có rãnh khóa nhựa và viền màu đỏ, bên trong đựng 02 viên nén màu hồng đỏ; 01 túi nilon có rãnh khoá nhựa và viền màu xanh bên trong đựng 01 viên nén màu hồng đỏ, tất cả nghi là ma túy thu dưới gối trong phòng ngủ của H1, được niêm phong trong 01 phong bì thư ký hiệu “ KX02"
  • - 01 (một) hộp có nắp đậy bên trong đựng nhiều vỏ túi nilon.
  • - 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung A32 màu đen, gắn sim 1 "0963033031”, sim 2 “0965079864”, đã qua sử dụng.

Ngày 12/8/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã ra Quyết định trưng cầu giám định đối với vật chứng nghi ma túy thu được của Tăng Công S khi bắt quả tang và của Phan Đình H1 khi khám xét khẩn cấp.

Kết luận giám định số 1536 ngày 18/8/2023 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận:

“ Trong 01 (một) phong bì đã được dán kín, niêm phong gửi giám định: Chất tinh thể màu trắng và 01 (một) viên nén màu hồng đựng trong 01 (một) túi nilon màu trắng, một đầu có rãnh khóa nhựa, viền màu xanh là ma túy, có tổng khối lượng 0,293 gam, loại Methamphetamine.

Trong 01 (một) phong bì ký hiệu “KX01” đã được dán kín, niêm phong gửi giám định: Chất tinh thể màu trắng và 05 (năm) viên nén màu hồng đỏ đựng trong 01 (một) túi nilon màu trắng, một đầu có rãnh khóa bằng nhựa, viền màu đỏ là ma túy, có tổng khối lượng 1,459 gam, loại Methamphetamine.

Trong 01 (một) phong bì ký hiệu “KX02” đã được dán kín, niêm phong gửi giám định: Trong 01 (một) túi nilon màu xanh, một đầu có rãnh khóa nhựa và viền màu đỏ:

  • - 02 (hai) viên nén màu hồng đỏ đựng trong 01 (một) túi nilon màu trắng, một đầu có rãnh khóa nhựa và viền màu đỏ là ma túy, có khối lượng 0,207 gam, loại Methamphetamine.
  • - 01 (hai) viên nén màu hồng đỏ đựng trong 01 (một) túi nilon màu trắng, một đầu có rãnh khóa nhựa và viền màu xanh là ma túy, có khối lượng 0,115 gam, loại Methamphetamine”.

Quá trình điều tra, Tăng Công SPhan Đình H1 khai nhận như sau: Khoảng 12 giờ 00 ngày 12/8/2023, Bùi Văn H4, sinh năm 1987, trú tại bản Đền Hồng, xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Giang (là bạn của S) nhờ S chở đi sửa đồng hồ, S đồng ý điều khiển xe mô tô BKS 20B1-02045 chở H4 đi đến thành phố B tìm quán S1. Trên đường đi H4S ngồi nghỉ uống nước tại một quán nước gần khu vực bưu điện T, phường H, thành phố B. Tại đây, S sử dụng tài khoản Zalo “Là Vì Tôi” nhắn tin đến tài khoản “Hiệp Thảo” của Phan Đình H1 hỏi mua 200.000 đồng ma túy đá và 100.000 đồng ma túy ngựa, Hiệp đồng ý. Sau đó S nhờ H4 chuyển số tiền 300.000 đồng đến tài khoản “1018779757” tại ngân hàng V của H1 (S nói với H4 chuyển tiền để trả nợ), Hòa đồng ý. Sau khi thấy H4 chuyển khoản xong, S chở H4 đến khu vực cách cổng nhà H1 khoảng 500m thì S bảo H4 xuống xe đứng chờ còn S tiếp tục điều khiển xe mô tô đi đến phía trước cổng nhà H1. Trong lúc này, H1 kiểm tra thấy tài khoản ngân hàng của H1 nhận được số tiền 300.000 đồng, biết đó là số tiền S trả để mua ma túy, sau đó thấy S đi xe máy đến đợi trước cổng nhà thì H1 lấy 01 túi nilon đựng 01 viên ma túy ngựa và ma túy đá từ phía dưới gối trên giường trong phòng ngủ của H1 đi ra cổng và đưa túi ma túy cho S rồi đi vào nhà. S nhận túi ma túy cất vào trong túi quần phía sau bên trái đang mặc rồi điều khiển xe mô tô quay lại đón H4 đi về hướng phường M, thành phố B tiếp tục đi tìm quán S1. Khi S điều khiển xe đến khu vực đường T thuộc phường M, thành phố B thì tổ công tác Đội Cảnh sát giao thông trật tự Công an thành phố B tiến hành kiểm tra hành chính đối với S và bắt quả tang S về hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý. Trong lúc S đang làm việc với tổ công tác H4 đã bỏ đi.

Cơ quan điều tra đã tiến hành cho H1 nhận dạng S, kết quả H1 xác định S chính là người đã mua ma tuý của H1 vào ngày 12/8/2023.

Cơ quan điều tra đã kiểm tra điện thoại thu giữ của H1S phát hiện trong mục tin nhắn zalo có nội dung tin nhắn trao đổi mua bán ma tuý giữa tài khoản “ Hiệp Thảo” của H1 và tài khoản “ Là vì tôi” của S.

Cơ quan điều tra tiến hành sao kê lịch sử giao dịch số tài khoản 1018779757 tại Ngân hàng V của Phan Đình H1, kết quả xác định ngày 12/8/2023 có giao dịch chuyển khoản số tiền 300.000 đồng từ tài khoản của Bùi Văn H4 đến tài khoản của H1.

Về nguồn gốc số ma túy Phan Đình H1 bán cho Tăng Công S và khi khám xét khẩn cấp chỗ ở của H1, H1 khai nhận: Khoảng 10 giờ ngày 10/8/2023, H1 sử dụng số điện thoại “0965.079.xxx” liên hệ đến số điện thoại “0969.346.xxx” của Vũ Văn H5, sinh năm 1976, trú tại số nhà A, ngõ D, đường V, phường T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang hỏi mua 09 viên ma túy tổng hợp “ngựa” và 01 gam ma túy tổng hợp “đá”. H5 đồng ý bán với giá 500.000 đồng và hẹn giao dịch tại khu vực gầm cầu vượt M, phường N, thành phố B. H1 dùng số tài khoản “1018779757” ngân hàng V của bản thân chuyển số tiền 500.000 đồng đến tài khoản “0969346776” của H5 rồi đi đến điểm hẹn. Đến nơi, H5 lấy từ trong túi quần đang mặc ra 01 túi nilon đựng ma túy đá và 09 viên ma túy ngựa đưa cho H1. H1 nhận lấy túi ma túy trên mang về nhà chia nhỏ thành 04 túi ma túy với mục đích để sử dụng cho bản thân và bán kiếm lời. Sau đó, H1 đã bán cho Tăng Công S 01 túi ma túy, số ma túy còn lại bị lực lượng Công an phát hiện thu giữ trong quá trình khám xét khẩn cấp chỗ ở của H1.

Quá trình xác minh về Vũ Văn H5, xác định: Từ ngày 12/8/2023 đến nay, H5 không có mặt ở địa phương, hiện H5 đang ở đâu, làm gì gia đình và địa phương không nắm được. Cơ quan điều tra đã ra quyết định truy tìm và tách tài liệu liên quan đến hành vi của Vũ Văn H5 để tiếp tục xác minh làm rõ.

Đối với Bùi Văn H4, S trình bày nhờ H4 chuyển số tiền 300.000 đồng cho H1. S không nói cho H4 biết mục đích nhờ H4 chuyển tiền là để trả tiền mua ma túy và H4 không được chứng kiến quá trình S mua ma túy của H1. Quá trình xác minh, đại diện gia đình và địa phương cung cấp từ ngày 12/8/2023 đến nay H4 không trở về nhà, hiện H4 đang ở đâu, làm gì thì gia đình và địa phương không nắm được. Vì vậy Cơ quan điều tra không có căn cứ xử lý Bùi Văn H4 về hành vi đồng phạm Tàng trữ trái phép chất ma túy với Tăng Công S.

Đối với Nguyễn Xuân P là người cùng ở trọ với Phan Đình H1 tại số nhà F, đường P, phường T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang. P trình bày không biết và không tham gia thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma túy cùng với H1. Ngày 30/10/2023, Trưởng Công an thành phố B đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Phan Đình H1Nguyễn Xuân P về hành vi “ Sử dụng trái phép chất ma tuý".

Đối với chiếc xe 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Loncin, màu sơn nâu, BKS 20B1-020.45, số khung DR100*00050549, số máy LC150FM*00050549, S khai mua vào năm 2020 của một người đàn ông không quen biết, hiện nay S đã làm mất đăng ký xe. Tiến hành tra cứu xe mô tô BKS 20B1-020.45 được đăng ký có số máy 44S1028144, số khung RLCL44S10BY028139, chủ xe là chị Trần Thị H3, sinh năm 1992, trú tại phường C, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên. Chị H3 trình bày mua mới chiếc xe mô tô trên từ năm 2011 đến nay vẫn đang sử dụng và bảo quản nguyên vẹn. Tra cứu xe mô tô có số khung DR100*00050549, kết quả xác định số khung này là của chiếc xe mô tô nhãn hiệu Loncin, BKS 98F7-7532, chủ xe là ông Trương Văn B, sinh năm 1971, trú tại thôn T, xã T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang. Ông B khai mua mới chiếc xe mô tô trên từ năm 2000, tới năm 2010 ông B bán chiếc xe mô tô này cho một người không quen biết, không rõ thông tin địa chỉ của người mua. Tra cứu xe mô tô có số máy LC150FM*00050549, kết quả xác định không có trong dữ liệu tra cứu. Qua tra cứu xác định xe mô tô BKS 20B1-020.45 và xe mô tô BKS 98F7-7532 không có trong danh mục xe vật chứng. Cơ quan điều tra đã tiến hành nhập kho vật chứng chiếc xe mô tô nhãn hiệu Loncin, màu sơn nâu, BKS 20B1-020.45, để xử lý theo quy định.

Tại Bản cáo trạng số 238/CT-VKS ngày 09 tháng 11 năm 2023, bị cáo Tăng Công S bị Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang truy tố về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm o khoản 2 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo Phan Đình H1 bị Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang truy tố về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như cáo trạng đã nêu.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Xuân P trình bày: Ngày 12/8/2023, Cơ quan Công an có khám xét và thu giữ tại nơi ở của ông và bị cáo H1 2 gói ma tuý. Số ma tuý bị thu giữ là của bị cáo H1, ông không biết bị cáo H1 mua của ai và và nhằm mục đích gì.

Hội đồng xét xử công bố lời khai của những người tham gia tố tụng được triệu tập nhưng vắng mặt tại phiên tòa và các tài liệu khác có trong hồ sơ. Những người tham gia tố tụng tại phiên tòa nhất trí và không có ý kiến gì.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang sau khi phân tích tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của các bị cáo, giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

  • - Áp dụng điểm o khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 38 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Tăng Công S từ 05 năm 09 tháng tù đến 06 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày 12/8/2023.
  • - Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, khoản Điều 38 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Phan Đình H1 từ 03 năm 06 tháng tù đến 03 năm 09 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày 12/8/2023. Phạt bổ sung bị cáo từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng sung Ngân sách nhà nước.
  • - Về vật chứng: Áp dụng điểm a, b khoản 1 và khoản 2 Điều 47 của Bộ luật Hình sự, điểm a, b khoản 2 và điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự:
  • + Tịch thu tiêu hủy 03 phong bì niêm phong đựng mẫu vật hoàn lại sau giám định, 01 hộp có nắp đậy bên trong đựng nhiều vỏ túi nilon.
  • + Tịch thu sung ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động OPPO F1S màu hồng đã qua sử dụng và 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung A32 màu đen số Imei 1: 355870668614164, gắn sim 1 “0963033031”, sim 2 “0965079864”, đã qua sử dụng .
  • + Trả lại bị cáo S 01 xe mô tô nhãn hiệu Loncin màu sơn nâu BKS 20B1-020.45, số khung DR100*00050549, số máy: LC150FM*00050549 nhưng cần tạm giữ để đảm bảo thi hành án;
  • + Buộc bị cáo H1 nộp sung Ngân sách Nhà nước số tiền 300.000 đồng.
  • - Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Các bị cáo đều có ý kiến tranh luận là hình phạt mà Đại diện Viện kiểm sát đề nghị là cao so với hành vi hành vi của các bị cáo. Bị cáo H1 đề nghị được miễn hình phạt bổ sung do bị cáo không có nghề nghiệp ổn định.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang giữ nguyên quan điểm về mức hình phạt chínhd đối với cả hai bị cáo và hình phạt bổ sung đối với bị cáo H1.

Các bị cáo nói lời sau cùng: các bị cáo đã nhận thức được hành vi của bản thân là sai, xin được hưởng mức án nhẹ nhất để có cơ hội làm lại cuộc đời.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố B, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

[2] Về sự vắng mặt của những người tham gia tố tụng: Tại phiên tòa, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt. Tuy nhiên trong hồ sơ đã có lời khai những người này nên căn cứ khoản 1 Điều 292 của Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt họ.

[3] Về hành vi của các bị cáo: Lời khai của các bị cáo tại phiên toà hôm nay phù hợp lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận: Khoảng hơn 12 giờ ngày 12/9/2023, tại số F, đường P, tổ B, phường T, thành phố B, Phan Đình H1 đã có hành vi bán trái phép 0,293 gam chất ma túy Methamphetamine cho Tăng Công S. Sau khi mua được ma tuý, trên đường đi về đến khu vực đường T, phường M, thành phố B thì Tăng Công S bị tổ công tác Đ trật tự Công an thành phố B bắt quả tang đang có hành vi tàng trữ số ma túy trên, mục đích để sử dụng. Cùng ngày, Cơ quan điều tra khám xét nơi ở của H1 đã thu giữ 1,781 gam Methamphetamine do H1 cất giấu mục đích để sử dụng và bán lại cho người khác. Tổng khối lượng chất ma túy H1 phải chịu trách nhiệm hình sự là 2,074 gam Methamphetamine. Bị cáo Tăng Công S là người đã bị kết án chưa được xoá án tích và bị áp dụng tình tiết “Tái phạm nguy hiểm” nên hành vi nêu trên của Tăng Công S đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” thuộc trường hợp “tái phạm nguy hiểm” quy định tại điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự. Hành vi của bị cáo Phan Đình H1 đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang truy tố các bị cáo về tội danh và điều khoản trên là có căn cứ và đúng pháp luật.

[4] Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo: Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, gây mất trật trị an xã hội. Ma tuý là hiểm hoạ xã hội, làm sói mòn đạo đức và là nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm khác. Do vậy, cần xử nghiêm các bị cáo bằng pháp luật hình sự, áp dụng hình phạt tù giam có thời hạn để đảm bảo giáo dục các bị cáo thành công dân biết tuân thủ pháp luật.

[5] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo đều có nhân thân xấu: bị cáo S đã 02 lần bị xét xử về tội “Cướp giật tài sản”, 01 lần bị xét xử về tội “Trốn đi khỏi nơi giam”; bị cáo H1 đã 01 lần bị xét xử về tội “Trộm cắp tài sản”, 01 lần bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “xâm hại sức khoẻ của người khác”. Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự. Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của bản thân. Bị cáo H1 xin đầu thú. Do đó, cần áp dụng quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự khi xem xét, quyết định hình phạt đối với các bị cáo và áp dụng quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo H1.

[6] Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo S không có nghề nghiệp ổn định nên không cần áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Bị cáo H1 tuy không có nghề nghiệp ổn định nhưng bị cáo mua bán ma tuý nhằm thu lời bất chính nên cần áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo để đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật.

[7] Về vật chứng: Áp dụng điểm a, b khoản 1 và khoản 2 Điều 47 của Bộ luật Hình sự, điểm a, b khoản 2 và điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự:

  • + Tịch thu tiêu hủy 03 phong bì niêm phong đựng mẫu vật hoàn lại sau giám định, 01 hộp có nắp đậy bên trong đựng nhiều vỏ túi nilon do liên quan đến hành vi phạm tội của các bị cáo và không giá trị sử dụng.
  • + Tịch thu sung ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động OPPO F1S màu hồng đã qua sử dụng và 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung A32 màu đen số Imei 1: 355870668614164, gắn sim 1 “0963033031”, sim 2 “0965079864”, đã qua sử dụng do đều liên quan đến hành vi phạm tội của các bị cáo.
  • + Trả lại bị cáo S 01 xe mô tô nhãn hiệu Loncin màu sơn nâu BKS 20B1-020.45, số khung DR100*00050549, số máy: LC150FM*00050549 do không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo nhưng cần tạm giữ để đảm bảo thi hành án;
  • + Buộc bị cáo H1 nộp sung Ngân sách Nhà nước số tiền 300.000 đồng do bán trái phép ma tuý có được.

[8] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[9] Đối với Bùi Văn H4, S trình bày nhờ H4 chuyển số tiền 300.000 đồng cho H1. S không nói cho H4 biết mục đích nhờ H4 chuyển tiền là để trả tiền mua ma túy và H4 không được chứng kiến quá trình S mua ma túy của H1. Quá trình xác minh, đại diện gia đình và địa phương cung cấp từ ngày 12/8/2023 đến nay H4 không trở về nhà, hiện H4 đang ở đâu, làm gì thì gia đình và địa phương không nắm được. Vì vậy Cơ quan điều tra không có căn cứ xử lý Bùi Văn H4 về hành vi đồng phạm Tàng trữ trái phép chất ma túy với Tăng Công S là đảm bảo quy định.

[10] Đối với Nguyễn Xuân P là người cùng ở trọ với Phan Đình H1 tại số nhà F, đường P, phường T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang. P trình bày không biết và không tham gia thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma túy cùng với H1. Ngày 30/10/2023, Trưởng Công an thành phố B đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Phan Đình H1Nguyễn Xuân P về hành vi “ Sử dụng trái phép chất ma tuý” là phù hợp.

[11] Hội đồng xét xử tiếp tục tạm giam các bị cáo 45 ngày để đảm bảo thi hành án theo quy định tại khoản 1 Điều 329 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Áp dụng điểm o khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 38 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Tăng Công S 05 năm 09 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày 12/8/2023.
  2. Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, khoản Điều 38 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Phan Đình H1 03 năm 06 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày 12/8/2023. Phạt bổ sung bị cáo 5.000.000 đồng sung Ngân sách nhà nước.
  3. Về vật chứng: Áp dụng điểm a, b khoản 1 và khoản 2 Điều 47 của Bộ luật Hình sự, điểm a, b khoản 2 và điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự:
    • - Tịch thu tiêu hủy 03 phong bì niêm phong đựng mẫu vật hoàn lại sau giám định, 01 hộp có nắp đậy bên trong đựng nhiều vỏ túi nilon.
    • - Tịch thu sung ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động OPPO F1S màu hồng đã qua sử dụng và 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung A32 màu đen số Imei 1: 355870668614164, gắn sim 1 “0963033031”, sim 2 “0965079864”, đã qua sử dụng .
    • - Trả lại bị cáo S 01 xe mô tô nhãn hiệu Loncin màu sơn nâu BKS 20B1-020.45, số khung DR100*00050549, số máy: LC150FM*00050549 nhưng cần tạm giữ để đảm bảo thi hành án;
    • - Buộc bị cáo H1 nộp sung Ngân sách Nhà nước số tiền 300.000 đồng.
  4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
  5. Về quyền kháng cáo: Áp dụng khoản 1 và khoản 4 Điều 331, khoản 1 Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự: các bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hoặc niêm yết bản án.
  6. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự ./.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Bắc Giang
  • - VKSND thành phố Bắc Giang;
  • - CQCSĐT-CA TP Bắc Giang;
  • - TAND tỉnh Bắc Giang;
  • - Chi cục THADS TP Bắc Giang;
  • - Sở tư pháp;
  • - Các bị cáo;
  • - UBND x.Tân Tiến, TP.Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang.
  • - UBND p.Thọ Xương, TP.Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang.
  • - Những người tham gia tố tụng khác;
  • - Lưu hồ sơ, văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Phương Thảo

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 230/2023/HS-ST ngày 29/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG về vụ án hình sự về tội tàng trữ trái phép chất ma túy và mua bán trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 230/2023/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy và Mua bán trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/11/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tăng Công S "Tàng trữ trái phép chất ma túy"
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger