|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 230/2024/HS-ST Ngày 28-9-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Phong Lan
Các Hội thẩm nhân dân.
- Bà Hà Thị Nga
- Ông Nguyễn Văn Hạnh
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Thủy - Thư ký Tòa án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Bà Đỗ Thị Bích Huyền - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 213/2024/TLST-HS ngày 05 tháng 9 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 841/2024/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 9 năm 2024 đối với bị cáo:
Lò Văn N, sinh năm 1994 tại Yên Bái. Nơi cư trú: Thôn P, xã P, thị xã N, tỉnh Yên Bái; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 9/12.; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lò Văn L và bà Lò Thị N1; có vợ là Cầm Thị Kim O và 01 con; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ ngày 14/6/2024; tạm giam ngày 19/6/2024; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 11 giờ 20 phút ngày 14/6/2024, Công an phường C, quận L, Hải Phòng làm nhiệm vụ tuần tra trên địa bàn phường phát hiện Lò Văn N mặc áo sơ mi dài tay màu đen, quần soóc bò màu xanh có biểu hiện nghi vấn phạm tội về ma túy tại khu vực nhà vệ sinh công cộng trong bãi đỗ xe miễn phí số A N, phường C, quận L, Hải Phòng. Tổ công tác đã tiến hành kiểm tra, phát hiện và thu giữ trong túi áo ngực bên phải của N đang mặc 01 gói giấy màu trắng bên trong có chứa chất bột màu trắng dạng cục nghi là ma túy Heroine. Sau đó, đưa N cùng vật chứng về trụ sở Công an phường C lập biên bản bắt người phạm tội quả tang. Ngoài ra, còn thu giữ của N 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu trắng biển kiểm soát: 21K1-416.69; 01 điện thoại di động OPPO A3s màu đen đã qua sử dụng.
Tại bản kết luận giám định số 758 /KL-KTHS ngày 18/6/2024 của Phòng K Công an thành phố H kết luận: “Chất bột màu trắng gửi giám định là ma tuý, có khối lượng: 0,16 gam, loại: Heroine”.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra, Lò Văn N khai nhận: khoảng 09 giờ 20 phút ngày 14/6/2024, Lò Văn N điều khiển xe môtô Honda Wave màu trắng biển kiểm soát 21K1- 416.69 từ thành phố H, Quảng Ninh đến khu vực đường T, quận L, Hải Phòng với mục đích mua ma túy heroine về sử dụng. Đến nơi, N đi sâu vào đường tàu khoảng 40m thì gặp một nữ giới khoảng 60 tuổi mặc quần đùi màu đỏ, áo hoa màu trắng đỏ ngắn tay đang đứng ở đường tàu nói với N: “Ba trăm nghìn một con”. N bảo chỉ có 200.000 đồng và đưa tiền cho nữ giới. Người này nhận tiền và đưa lại cho N 01 gói giấy màu trắng bên trong có chứa ma túy. N cất gói ma túy vừa mua vào túi áo ngực bên phải đang mặc rồi điều khiển xe mô tô đi đến khu vực cửa nhà vệ sinh công cộng trong bãi đỗ xe miễn phí số A N, phường C, quận L, Hải Phòng để sử dụng ma túy thì bị lực lượng Công an kiểm tra phát hiện bắt giữ như nội dung trên.
Tại Bản cáo trạng số 221/CT-VKSLC ngày 05/9/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng truy tố bị cáo Lò Văn N về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Đối với chiếc xe mô tô Honda Wave màu trắng BKS: 21K1-416.69 đã qua sử dụng. Kết quả điều tra xác định chủ sở hữu là chị Cẩm Thị Kim O1, sinh năm 1988; trú tại: Thôn P, xã P, thị xã N, tỉnh Yên Bái (vợ của N). Chị O1 không biết N sử dụng xe mô tô của chị đi mua ma túy. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận L ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại chiếc xe mô tô cho chị Cẩm Thị Kim O1.
Đối với người nữ giới bán ma túy, Lò Văn N khai không biết nhân thân, lai lịch. Vì vậy, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận L chưa có cơ sở để điều tra làm rõ.
Tại phiên tòa, bị cáo Lò Văn N khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng đã nêu.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo như Cáo trạng. Căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ của bị cáo, Kiểm sát viên đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân đề nghị Hội đồng xét xử:
- Về hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt: Lò Văn N mức án từ 15 đến 18 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong số 758MT/PC đựng vỏ bao gói và lượng ma túy còn lại sau giám định (là vật Nhà nước cấm lưu hành); trả lại bị cáo 01 điện thoại OPPO A3s màu đen ốp vỏ màu đen thu giữ của bị cáo (không liên quan đến việc phạm tội).
- Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về tố tụng:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận L, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng được thực hiện đúng theo quy định của pháp luật.
- Về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy:
[2] Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra; vật chứng thu giữ; kết luận giám định của Phòng K - Công an thành phố H cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét công khai tại phiên tòa, có đủ cơ sở xác định: Hồi 11 giờ 20 phút ngày 14/6/2024, Lò Văn N có hành vi cất giữ trái phép 0,16 gam Heroine với mục đích để bản thân sử dụng bị bắt quả tang. Tại phiên tòa Đại diện Viện kiểm sát kết luận bị cáo Lò Văn N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[3] Tính chất vụ án là nghiêm trọng. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội; xâm hại đến chính sách quản lý độc quyền của Nhà nước về chất gây nghiện; gây mất trật tự trị an xã hội, gây dư luận xấu trong quần chúng nhân dân. Vì vậy, cần xét xử bị cáo một mức án nghiêm, bắt cách ly xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục và phòng ngừa tội phạm chung.
[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Nhân thân bị cáo chưa có tiền án, tiền sự; tại giai đoạn điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo nên bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[6] Về hình phạt áp dụng đối với bị cáo: Căn cứ tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đặc điểm nhân thân của bị cáo như đã phân tích ở trên, Hội đồng xét xử thấy cần có hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, xử phạt bị cáo hình phạt tù trên mức khởi điểm của khung hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự, theo mức mà Kiểm sát viên đã đề nghị tại phiên tòa là phù hợp với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của bị cáo.
[7] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự thì ngoài hình phạt chính bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy bị cáo có hoàn cảnh kinh tế khó khăn, không có nghề nghiệp, không có thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
- Về xử lý vật chứng:
[8] Đối với lượng ma túy còn lại và vỏ bao bì của mẫu vật thu giữ của bị cáo sau khi lấy mẫu gửi giám định (đã được niêm phong trong bì thư niêm phong số 758MT/PC) xét là vật Nhà nước cấm lưu hành nên căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy.
[9] Đối với điện thoại di động OPPO A3s màu đen ốp vỏ màu đen thu giữ của bị cáo, xét không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo nên căn cứ điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự trả lại cho bị cáo, nhưng cần tạm giữ lại để đảm bảo thi hành khoản tiền án phí đối với bị cáo.
- Về án phí hình sự sơ thẩm:
[10] Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
- Về quyền kháng cáo bản án:
[11] Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự,
Tuyên bố: Bị cáo Lò Văn N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt: Bị cáo Lò Văn N 15 (Mười lăm) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 14/6/2024.
- Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Tịch thu tiêu hủy lượng ma túy còn lại và vỏ bao bì của mẫu vật thu giữ của bị cáo sau khi lấy mẫu gửi giám định (đã được niêm phòng trong bì thư niêm phong số 758MT/PC).
- Trả lại bị cáo điện thoại di động OPPO A3s màu đen ốp vỏ màu đen thu giữ của bị cáo.
(Theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 05/9/2024 giữa Cơ quan Công an quận L).
- Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Lò Văn N phải nộp 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo bản án: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ |
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
Phạm Thị Phong Lan |
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Phong Lan |
Bản án số 230/2024/HS-ST ngày 28/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về hình sự: tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 230/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lò Văn Nghĩa
