Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN THANH TRÌ

TP. HÀ NỘI


CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc


Bản án số: 230/2023/HS - ST

Ngày: 27/12/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH TRÌ - THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hoài
Các Hội thẩm nhân dân : 1. Ông Hoàng Văn Long
2. Ông Võ Văn Định
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Mai - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thanh Trì, TP Hà Nội
Đại diện VKSND huyện Thanh Trì - TP Hà Nội tham gia phiên tòa:
Ông Trịnh Minh Sỹ - Kiểm sát viên

Ngày 27 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Thanh Trì - thành phố Hà Nội, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 230/2023/HS-ST ngày 01/12/2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 230/2023/QĐXXST - HS ngày 13/12/2023, đối với bị cáo:

Nguyễn Tuấn A, sinh năm 1994; HKTT + Chỗ ở: Tổ A Phường T, thành phố P, Tỉnh Hà Nam; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ văn hoá: 12/12; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn T và bà Nguyễn Ngọc U; Tiền án, tiền sự: không (Danh chỉ bản số 461 do Công an huyện T lập ngày 04/8/2023); Bị cáo hiện đang bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú (có mặt tại phiên tòa).

* Người bào chữa cho bị cáo: Luật sư Nguyễn Phú T1 – Công ty L – Đoàn luật sư thành phố H – có mặt.

* Người bị hại: Chị Lương Thị T2 - Sinh năm 1998 (đã chết)

Đại diện hợp pháp của người bị hại:

  1. Anh Đỗ Tiến H – Sinh năm 1993 (chồng chị T2) – vắng mặt.
  2. Bà Lò Thị C - Sinh năm 1956 (mẹ đẻ chị T2)

Địa chỉ: Tổ dân phố Đ, phường C, thị xã D, Hà Nam.

Địa chỉ: xã X, huyện T, Tỉnh Thanh Hóa.

Đại diện theo ủy quyền của bà C: Anh Đỗ Tiến H – vắng mặt.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Anh Đinh Hữu D1 – Sinh năm 1982 (vắng mặt)

Địa chỉ: Thôn D, xã T, huyện K, Tỉnh Hưng Yên.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Tuấn A có giấy phép lái xe mô tô hạng A1 số AV 978006 do Sở giao thông vận tải tỉnh H cấp ngày 09/8/2012 là nhân viên giao hàng của Công ty TNHH N - Chi nhánh H2.

Khoảng 17 giờ 25 phút ngày 03/5/2023, Nguyễn Tuấn A điều khiển xe môtô nhãn hiệu Honda Airblade, màu đỏ đen, gắn BKS 29Y5 - 441.54 phía sau chở theo 01 thùng đựng hàng bằng nhựa, màu vàng, kích thước 84×51×61cm, bên ngoài thùng đựng hàng có buộc các bao tải xác rắn màu xanh lưu thông theo hướng từ thị trấn V đi quận H. Khoảng 17 giờ 40 phút cùng ngày, Tuấn A đi đến cửa hàng sửa chữa xe môtô ở A đường C thuộc thôn Y, xã T, huyện T để lấy hàng đi giao. Tuấn A dừng xe mô tô trước cửa hàng, sát mép đường C, đầu xe hướng H, đuôi xe hướng Văn Điển. Do không gặp chủ cửa hàng nên Tuấn A lấy điện thoại di động của mình để gọi cho chủ cửa hàng. Lúc này chị Lương Thị T2 (sinh năm 1998, trú tại tổ dân phố Đ, phường C, thị xã D, tỉnh Hà Nam) điều khiển xe môtô nhãn hiệu Yamaha, loại Nozza màu xanh, gắn BKS 90B3 - 294.82 (chị T2 không có giấy phép lái xe mô tô) lưu thông cùng chiều đã mắc vào bao tải xác rắn màu xanh làm đầu bao tải cuốn vào bánh trước của xe mô tô khiến xe môtô của chị T2 bị đổ ra đường và bị bánh xe hàng thứ 4,5,6 phía bên phải xe ô tô đầu kéo nhãn hiệu ChengLong gắn BKS 29H - 834.20 kéo theo sơ mi rơ moóc nhãn hiệu Xinhongdon gắn BKS 29R - 517.86 do Đinh Hữu D1 (sinh năm 1982, trú tại thôn D, xã T, huyện K, tỉnh Hưng Yên) điều khiển đi cùng chiều chèn qua người chị T2 khiến chị T2 tử vong tại chỗ. Nghe thấy tiếng va chạm và chứng kiến vụ tai nạn giao thông nên Tuấn A sợ hãi và đi vào cửa hàng để xin nước uống. Khoảng 10-15 phút sau thì Tuấn A điều khiển xe môtô BKS 29Y5 – 441.54 đi về cơ sở của Công ty TNHH N tại ngõ F, phố B, quận H, Hà Nội. Sau đó, Tuấn A phát hiện 02 đơn hàng của ông Bùi Đăng K (sinh năm 1997, nơi thường trú tổ dân phố Đ, phường C, thị xã D, tỉnh Hà Nam) mà Tuấn A đã nhận tại cửa hàng của ông K tại địa chỉ B đường P bị mất nên đã bồi thường cho ông K số tiền 1.000.000 đồng. Đến ngày 04/5/2023, Cơ quan CSĐT Công an huyện T đã tiến hành lấy lời khai của Tuấn A, Tuấn A mới biết tay lái xe môtô BKS 90B3 - 294.82 do chị T2 điều khiển đã mắc vào bao tải xác rắn màu xanh buộc phía bên trái thùng đựng hàng trên xe mô tô BKS 29Y5 - 441.54 của Tuấn A gây ra hậu quả như trên.

Biên bản khám nghiệm hiện trường thể hiện:

Tình trạng hiện trường bị xáo trộn một phần do các phương tiện qua lại, nạn nhân chết tại chỗ. Hiện trường của đoạn đường nơi xảy ra tai nạn: Đường dải nhựa, phẳng, đường hai chiều có vạch kẻ sơn dời chia hai phần đường. Đo chiều rộng của đường lần lượt từ trái qua phải theo chiều thị trấn V hướng quận H được lần lượt các số số 05,20 mét và 05,80 mét.

1.1. Ghi nhận việc đánh số thứ tự theo số tự nhiên vị trí nạn nhân, phương tiện, tang vật, dấu vết:

  • Vị trí số 1: Vết cày dài 03,10 mét.
  • Vị trí số 2: Xe mô tô BKS 90B3 – 294.82
  • Vị trí số 3: Vị trí nạn nhân
  • Vị trí số 4: Bao tải màu xanh kích thước (01,00×0,90) mét
  • Vị trí số 5: Đám nhựa vỡ và tổ chức cơ thể người kích thước (06,50×04,00) mét
  • Vị trí số 6: Vết lốp kép kích thước (08,30×0,60) mét
  • Vị trí số 7: Sơ mi rơ moóc BKS 29R – 517.86
  • Vị trí số 8: Ô tô đầu kéo BKS 29H – 834.20

1.2. Xác định điểm mốc và một trong các mép đường nơi xảy ra tai nạn làm chuẩn:

  • - Điểm mốc nơi xảy ra tai nạn làm chuẩn là mép tường nhà bên trái nhà số A đường C thuộc thôn Y, xã T, huyện T, Hà Nội theo chiều từ đường C hướng vào nhà số A đường C.
  • - Mép đường nơi xảy ra tai nạn làm chuẩn là mép đường bên phải theo chiều thị trấn V hướng quận H.

1.3. Mô tả theo số thứ tự vị trí nạn nhân, phương tiện, tang vật, dấu vết

Vị trí số 1: Vết cày dài 03,10 mét. Đầu vết cày hướng Văn Điển, cách mép đường chuẩn là 01,20 mét. Cuối vết cày hướng quận H, cách mép đường chuẩn là 01,45 mét, đồng thời cách tâm trục bánh sau xe mô tô BKS 90B3 – 294.82 là 0,30 mét.

Vị trí số 2: Xe mô tô BKS 90B3 – 294.82 đổ nghiêng sang trái. Đầu xe hướng quận H, đo từ hình chiếu tâm trục bánh trước vào mép đường chuẩn là 0,55 mét, đồng thời cách chân nạn nhân là 0,20 mét, đồng thời cách tâm bao tải màu xanh kích thước (01,00×0,90) mét là 0,50 mét. Đuôi xe hướng Văn Điển, đo từ hình chiếu tâm trục bánh sau vào mép đường chuẩn là 1,55 mét, đồng thời cách tâm đám nhựa vỡ và tổ chức cơ thể người kích thước (06,50×04,00) mét là 3,20 mét, đồng thời cách điểm mốc là 3,90 mét.

Vị trí số 3: Vị trí nạn nhân. Nạn nhân chết tại chỗ trong tư thế nằm sấp, đầu hướng quận H cách mép đường chuẩn là 2,80 mét; chân hướng thị trấn V, chân phải cách mép đường chuẩn là 2,10 mét.

Vị trí số 4: Bao tải màu xanh kích thước (01,00×0,90) mét. Tâm bao tải cách mép đường chuẩn là 0,45 mét; Đầu bao tải cuốn vào bánh trước của xe mô tô BKS 90B3-294.82

Vị trí số 5: Đám nhựa vỡ và tổ chức cơ thể người kích thước (06,50×04,00) mét. Tâm cách mép đường chuẩn là 2,30 mét; cách đầu nạn nhân là 0,70 mét.

Vị trí số 6: Vết lốp kép kích thước (08,30×0,60) mét. Đầu vết lốp kép hướng thị trấn V, cách mép đường chuẩn là 2,50 mét; Cuối vết lốp kép trùng với bánh sau cùng bên phải sơ mi rơ moóc BKS 29R – 517.86. Đầu vết lốp cách đầu nạn nhân là 1,50 mét.

Vị trí số 7: Sơ mi rơ moóc BKS 29R – 517.86 được gắn vào ô tô đầu kéo BKS 29H – 834.20. Đo từ hình chiếu tâm trục bánh giữa bên phải của dàn bánh bên phải sơ mi rơ moóc BKS 29R – 517.86 vào mép đường chuẩn là 3,10 mét.

Vị trí số 8: Ô tô đầu kéo BKS 29H – 834.20 kéo theo sơ mi rơ moóc BKS 29R – 517.86. Đầu ô tô đầu kéo hướng quận H, đo từ hình chiếu tâm trục bánh bên phải vào mép đường chuẩn là 3,00 mét; Đuôi đầu kéo hướng Văn Điển, đo từ hình chiếu tâm trục bánh sau bên phải của dàn bánh sau bên phải đầu kéo vào mép đường chuẩn là 3,00 mét.

Biên bản khám nghiệm tử thi thể hiện:

  • - Vùng đầu, cổ, lưng, mông và vùng ngực, bụng bị va đập, chèn ép, lê quệt bởi vật tày có diện tương đối rộng với lực tác động rất mạnh gây:
    • + Chấn thương sọ não, chấn thương hàm mặt: Biến dạng toàn bộ vùng đầu mặt, không nhận diện được mắt. Rách da, lóc da toàn bộ vùng đầu mặt trên diện 34cm×18cm, qua vết rách da thấy tổ chức não thoát ra ngoài qua vết rách, vỡ phức tạp toàn bộ xương vùng đầu mặt. Vỡ phức tạp toàn bộ xương vòm sọ và xương nền sọ. Không còn nhận thấy tổ chức não trong hộp sọ, kiểm tra thấy có túi nilon đựng tổ chức não dập nát để bên cạnh nạn nhân. Biến dạng, vỡ phức tạp, gãy rời toàn bộ xương hộp sọ, xương hàm mặt ra khỏi cột sống cổ. Biến dạng toàn bộ mũi, miệng. Gãy phức tạp xương hàm trên và xương hàm dưới.
    • + Chấn thương cổ, ngực, bụng, khung chậu: Cổ mất vững. Biến dạng, gãy phức tạp toàn bộ xương cột sống cổ. Tổ chức phần mềm dập nát, không còn nhận diện được bó mạch cảnh hai bên. Bầm tím da toàn bộ vùng cổ, lưng, mông và mặt sau đùi, dọc chân trái trên diện 123cm×57cm, trên vết bầm tím da này có các vết bầm tím da hình lục giác tương đồng nhau dạng vân hoa lốp, kích thước mỗi vết (3cm + 5cm + 3cm + 4cm + 6cm) x ( 0,2cm - 0,3cm). Bầm tím da, rách da, lóc da toàn bộ vùng cổ, ngực trên diện 31cm x 43cm. Qua vết rách da thấy gãy phức tạp toàn bộ xương sườn, các tạng: Tim, phổi, thận, ruột non, đại tràng thoát ra ngoài qua vết rách da. Rách da, lóc da toàn bộ vùng bụng, khung chậu, tầng sinh môn hai bên trên diện 52cm x 37cm. Qua vết rách da thấy nhiều tổ chức cơ dập nát, vỡ phức tạp khung chậu, tử cung thoát ra ngoài qua vết vỡ xương, biến dạng, gãy phức tạp toàn bộ xương ức và xương sườn; Biến dạng gãy phức tạp nhiều đoạn xương cột sống; Vỡ phổi, phổi dập nát, còn nhận diện được một số phần của phổi; Vỡ tim, tim dập nát rời ra khỏi lồng ngực; Vỡ nát gan, còn ít tổ chức gan dập nát; Vỡ thận, không nhận diện được tụy và lách; Dập tử buồng tử rỗng, không nhận diện được bàng quang; vỡ phức tạp toàn bộ khung chậu.
      • Biến dạng xương cánh tay, cẳng tay phải.
      • Biến dạng xương cánh tay, cẳng tay trái.
      • Biến dạng xương đùi phải.
      • Biến dạng xương đùi, cẳng chân, cổ chân trái.

Cơ quan điều tra đã thu giữ đồ vật, tài liệu gồm:

  • - Thu giữ tại hiện trường: 01 xe ô tô đầu kéo biển số 29H-834.20 kéo theo sơ mi rơ moóc 29R – 517.86, trên xe có hàng hoá là gạch nung đỏ; 01 xe mô tô biển số 90B3-294.82 và các mảnh nhựa vỡ; 01 bao tải màu xanh kích thước (01,00×0,90) mét, bên trong bao tải có 02 kiện hàng.
  • - Thu giữ, tạm giữ của Đinh Hữu D1: 01 Giấy phép lái xe hạng E,FC số [...] do Sở Giao thông vận tải tỉnh H cấp ngày 02/10/2022; 01 Giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật phương tiện và bảo vệ môi trường phương tiện giao thông cơ giới đường bộ số 0732466 của sơ mi rơ moóc nhãn hiệu Xinhondong, biển số 29R – 517.86; 01 Giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật phương tiện và bảo vệ môi trường phương tiện giao thông cơ giới đường bộ số 2578743 của xe ô tô đầu kéo nhãn hiệu Chenglong, biển số 29H-834.20; 01 Giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc TNDS của chủ xe ô tô số 0161586 của xe ô tô đầu kéo BKS 29H-834.20.
  • - Thu giữ, tạm giữ của ông Đào Văn T4, sinh năm 1981, trú tại thôn V, xã T, huyện P, Hà Nội: 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 000512 do Công an huyện P cấp ngày 13/9/2022, biển số đăng ký 29H – 834.20; 01 Giấy chứng nhận đăng ký rơ moóc, sơmi rơ moóc số 000010 do Công an huyện P cấp ngày 29/6/2022, biển số đăng ký 29R – 517.86.
  • - Thu giữ, tạm giữ của Nguyễn Tuấn A: 01 xe mô tô Honda, loại Airbalde, gắn BKS 29Y5 – 441.54; 01 đăng ký xe mô tô, xe máy số 023199 do Công an huyện T cấp ngày 26/3/2017 có biển số đăng ký 29Y5 – 441.54; 01 Giấy phép lái xe hạng A1 số AV 978006 mang tên Nguyễn Tuấn A; 01 Giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc TNDS của chủ xe mô tô – xe gắn máy số 3119129; 01 thùng đựng hàng màu vàng, kích thước 84×51×61cm.
  • - Thu giữ, tạm giữ trên xe ô tô BKS 29H - 834.20 02 chiếc thẻ nhớ.
  • - 01 chiếc USB lưu trữ các đoạn video ghi lại nội dung sự việc.

Ngày 09/5/2023, Cơ quan CSĐT - Công an huyện T có Quyết định số 269/QĐ-CQĐT(ĐTTH) trưng cầu giám định dấu vết va chạm trên các phương tiện xe ô tô BKS 29H - 834.20 kéo theo sơ mi rơ moóc BKS 29R - 517.86, xe mô tô BKS 90B3 - 294.82 và xe mô tô BKS 29Y5 - 441.54.

Kết luận giám định số 3401/KL-KTHS ngày 29/5/2023 của Viện Khoa học Hình sự (C09) Bộ công an kết luận: “1. Không xác định được dấu vết va chạm giữa các phương tiện: Xe ô tô đầu kéo biển số 29H-834.20 kéo theo sơ mi rơ moóc 29R – 517.86; xe mô tô biển số 90B3-294.82 và xe mô tô biển số 29Y5-441.54. Vì vậy, không xác định được điểm va chạm đầu tiên của các xe.2. Không xác định được tốc độ của xe ô tô đầu kéo biển số 29H-834.20 kéo theo sơ mi rơ moóc 29R – 517.86; xe mô tô biển số 90B3-294.82 và xe mô tô biển số 90B3-294.82 trước khi xảy ra va chạm”.Ngày 16/5/2023, Cơ quan CSĐT Công an huyện T có Quyết định số 288/QĐ-CQĐT(ĐTTH) trưng cầu giám định tính nguyên vẹn của các đoạn video.

Kết luận số 3981/KL-KTHS ngày 21/6/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự (PC09) - Công an thành phố H kết luận “Không phát hiện dấu vết cắt ghép, chỉnh sửa nội dung hình ảnh trong các tệp video gửi giám định”.

Ngày 03/5/2023, Cơ quan CSĐT Công an huyện T có Quyết định số 267 trưng cầu giám định nguyên nhân tử vong của nạn nhân Lương Thị T2.

Kết luận giám định số 582/520/KLGĐTT-TTPY ngày 30/5/2023 của Trung tâm pháp y - Sở Y tế Hà Nội kết luận: “Nạn nhân Lương Thị T2, sinh năm 1998, tử vong do đa chấn thương: Chấn thương sọ não, chấn thương hàm mặt, chấn thương cột sống cổ, chấn thương ngực, bụng và khung chậu nặng”.

Giám định độc chất: Không thu được mẫu máu của nạn nhân do tử thi dập nát do đó không có mẫu để tiến hành nghiệm Ethanol và ma túy trong máu của nạn nhân.

Ngày 01/8/2023, Cơ quan CSĐT – Công an huyện T có công văn gửi Sở giao thông vận tải tỉnh Thanh Hóa về việc tra cứu Giấy phép lái xe mô tô của chị Lương Thị T2. Ngày 09/8/2023 Sở giao thông vận tải tỉnh T trả lời không có thông tin về Giấy phép lái xe mô tô của chị Lương Thị T2.

Ngày 01/8/2023, Cơ quan CSĐT – Công an huyện T có công văn gửi Sở giao thông vận tải tỉnh H về việc tra cứu Giấy phép lái xe của chị Lương Thị T2. Ngày 14/8/2023 Sở giao thông vận tải tỉnh H trả lời không cấp Giấy phép lái xe cho chị Lương Thị T2.

Ngày 26/6/2023, Cơ quan CSĐT- Công an huyện T có văn bản số 935/CV-CQĐT(ĐTTH) gửi Sở Giao thông vận tải thành phố Y đề nghị xác định làm rõ tại đoạn đường C đoạn qua số nhà A để xác định đoạn đường trên có cấm phương tiện xe ôtô đầu kéo và sơ mi rơ moóc đi vào khung giờ trên hay không? có biển báo hiệu cấm dừng, cấm đỗ xe hay không?. Thời gian cấm nếu có?. Biển báo được đặt ở đâu? Hiệu lực của biển báo đến đâu?. Ngày 19/7/2023 CQĐT nhận được văn bản phúc đáp số 3403 của Sở Giao thông vận tải thành phố Y

“ 1.Đoạn đường C (khu vực trước số nhà A Cầu B) theo hướng từ thị trấn V đi H không có biển báo hiệu cấm phương tiện xe ôtô đầu kéo và sơ mi rơ moóc đi vào trong khung giờ 17h30.

2. Trên đoạn đường C theo hướng từ Cầu T đi H có biển cấm dừng, đỗ không theo giờ”.

Tại cơ quan điều tra:

  • - Nguyễn Tuấn A khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên.
  • - Đối với xe ô tô đầu kéo do anh Đinh Hữu D1 điều khiển đi đúng phần đường, khi xảy ra tai nạn hai phương tiện đi song song nhau, việc chị T2 ngã, bị bánh xe ô tô do D1 điều khiển chèn qua dẫn đến tử vong là sự kiện bất ngờ, do đó Cơ quan CSĐT - Công an huyện T không xử lý.

Về vật chứng:

  • - Đối với xe ô tô đầu kéo BKS 29H-834.20 kéo theo sơ mi rơ moóc 29R – 517.86: quá trình điều tra xác định chủ sở hữu là anh Đào Văn T4 (sinh năm 1981, TQ: T, P, Hà Nội) nên ngày 01/6/2023, Cơ quan điều tra đã trả lại anh T4 01 xe ô tô đầu kéo BKS 29H-834.20 kéo theo sơ mi rơ moóc 29R - 517.86 và các giấy tờ có liên quan, số hàng hoá trên xe ô tô và thẻ nhớ. Anh T4 đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì.
  • - Đối với xe mô tô BKS 90B3-294.82 và các mảnh nhựa vỡ là tài sản của chị Lương Thị T2 nên Cơ quan điều tra đã trao trả cho anh Đỗ Tiến H (chồng của chị T2). Anh H đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì.
  • - Đối với xe mô tô BKS 29Y5 – 441.54 cùng các giấy tờ có liên quan, thùng đựng hàng bằng nhựa màu vàng, bao tải xác rắn màu xanh bên trong có hai kiện hàng là tài sản của Nguyễn Tuấn A nên Cơ quan điều tra đã trao trả cho Tuấn A. Tuấn A đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì.
  • - Đối với Giấy phép lái xe hạng A1 số AV 978006 mang tên Nguyễn Tuấn A và 01 chiếc USB có lưu trữ video vụ việc cần tiếp tục lưu giữ trong hồ sơ vụ án.

Về dân sự:

  • - Bị can Nguyễn Tuấn A đã bồi thường số tiền là 100.000.000 đồng, anh Đinh Hữu D1 đã tự nguyện bồi thường 180.000.000 đồng cho gia đình chị Lương Thị T2. Đại diện gia đình chị T2 là anh Đỗ Tiến H đã nhận số tiền 280.000.000đồng và không có yêu cầu gì khác.

Bản cáo trạng số 193/CT - VKSTT ngày 31/10/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì đã truy tố bị cáo Nguyễn Tuấn Anh về tội “Vi phạm quy định về tham gia phương tiện giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà:

  • * Bị cáo Nguyễn Tuấn A khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên, bị cáo thừa nhận cáo trạng truy tố bị cáo là đúng. Khi được nói lời sau cùng, Bị cáo thể hiện thái độ ăn năn hối cải và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
  • * Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì giữ nguyên quan điểm đã truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử :
    • - Áp dụng điểm a khoản 1 điều 260 Bộ luật hình sự, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điều 65 Bộ luật hình sự, xử phạt Bị cáo từ 16 - 20 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Hạn thử thách từ 32- 40 tháng, kể từ ngày tuyên án.
    • - Phần dân sự: không phải xét.
    • - Trả lại bị cáo giấy phép lái xe.
  • * Người bào chữa cho bị cáo là luật sư Nguyễn Phú T1 lập luận: Cáo trạng truy tố bị cáo Nguyễn Tuấn A với tội danh và điều luật đã viện dẫn là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật. Nguyên nhân xảy ra tai nạn là do lỗi hỗn hợp. Bản thân bị cáo từ giai đoạn điều tra, truy tố và tại phiên tòa xét xử vụ án, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo đã chủ động và tích cực bồi thường thiệt hại cho gia đình người bị hại; bị cáo phạm tội lần đầu, nhân thân chưa có tiền án tiền sự; bố bị cáo được tặng thưởng nhiều huân huy chương. Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, gia đình người bị hại có đơn xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự đối với bị cáo nên đề nghị HĐXX xem xét cho bị cáo được cải tạo ngoài xã hội với mức hình phạt từ 6 – 9 tháng tù nhưng cho hưởng án treo cũng phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra Viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì, Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tội danh của bị cáo: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản khám nghiệm xe liên quan đến tai nạn giao thông, các kết luận giám định và các tài liệu chứng cứ được thu thập trong hồ sơ vụ án – đủ cơ sở xác định: Khoảng 17 giờ 40 phút ngày 03/5/2023, Nguyễn Tuấn A điều khiển xe môtô Honda Airblade, màu đỏ đen, gắn BKS 29Y5 - 441.54 buộc phía sau thùng đựng hàng bằng nhựa màu vàng, có buộc các bao tải xác rắn màu xanh vượt quá giới hạn xếp hàng hóa trên phương tiện giao thông đường bộ khi tham gia giao thông trên đường bộ là 0,1 mét; đỗ xe trên đoạn đường có biển báo hiệu “Cấm dừng xe và đỗ xe” trước cửa hàng sửa chữa xe mô tô ở số A đường C thuộc thôn Y, xã T, huyện T, Hà Nội khiến tay lái bên phải xe môtô BKS 90B3 – 294.82 nhãn hiệu Yamaha, loại Nozza, màu xanh do chị Lương Thị T2 điều khiển lưu thông cùng chiều hướng thị trấn V đi H mắc vào bao tải xác rắn màu xanh buộc phía bên trái thùng đựng hàng trên xe mô tô của Nguyễn Tuấn A làm xe mô tô của chị T2 bị đổ, chị T2 ngã ra đường và bị xe ôtô đầu kéo nhãn hiệu ChengLong BKS 29H - 834.20 kéo theo sơ mi rơ moóc nhãn hiệu Xinhongdon BKS 29R - 517.86 do anh Đinh Hữu D1 điều khiển hướng cùng chiều chèn qua người làm chị T2 tử vong tại chỗ. Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ" quy định tại khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì truy tố bị cáo ra trước Tòa án để xét xử theo tội danh và điều luật đã viện dẫn là có căn cứ pháp lý.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự, an toàn trong hoạt động giao thông đường bộ, đồng thời xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, tài sản của người khác. Do đó, cần thiết phải xử lý bằng pháp luật hình sự đối với bị cáo.

[3] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:

  • - Tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
  • - Tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Bị cáo đã tự nguyện bồi thường, khắc phục hậu quả cho gia đình người bị hại; gia đình bị hại đã có đơn xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự đối với bị cáo; người bị hại có một phần lỗi (thiếu chú ý quan sát, không có giấy phép lái xe); bị cáo phạm tội lần đầu, nhân thân chưa có tiền án tiền sự; bố đẻ bị cáo là ông Nguyễn Văn T được tặng thưởng nhiều huân, huy chương nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[4] Về nhân thân bị cáo: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự.

Trên cơ sở đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy: nguyên nhân xảy ra vụ tai nạn là do lỗi hỗn hợp, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, bị cáo có khả năng tự cải tạo và việc không áp dụng hình phạt tù giam đối với bị cáo không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Hội đồng xét xử cho bị cáo được cải tạo ngoài xã hội cũng đủ tác dụng răn đe, giáo dục đối với bị cáo.

[5] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 260: «Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm» . Xét bị cáo không hành nghề lái xe chuyên nghiệp nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[6] Về dân sự và xử lý vật chứng của vụ án:

  • - Về dân sự: Tại cơ quan điều tra, bị cáo và anh Đinh Hữu D1 đã tự nguyện bồi thường cho gia đình người bị hại 280.000.000đồng, gia đình người bị hại không yêu cầu bồi thường gì thêm và có đơn xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự đối với bị cáo nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
  • - Về vật chứng:
    • + Đối với xe ô tô đầu kéo BKS 29H-834.20 kéo theo sơ mi rơ moóc 29R – 517.86, quá trình điều tra xác định chủ sở hữu là anh Đào Văn T4 (sinh năm 1981, TQ: T, P, Hà Nội) nên ngày 01/6/2023, Cơ quan điều tra đã trả lại tài sản, các giấy tờ có liên quan, số hàng hoá trên xe ô tô và thẻ nhớ cho anh T4. Anh T4 đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì nên HĐXX không xem xét.
    • - Đối với xe mô tô BKS 90B3-294.82 và các mảnh nhựa vỡ là tài sản của chị Lương Thị T2 nên Cơ quan điều tra đã trao trả cho anh Đỗ Tiến H (chồng của chị T2). Anh H đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì nên HĐXX không xem xét.
    • - Đối với xe mô tô BKS 29Y5 – 441.54 cùng các giấy tờ có liên quan, thùng đựng hàng bằng nhựa màu vàng, bao tải xác rắn màu xanh bên trong có hai kiện hàng là tài sản của Nguyễn Tuấn A nên Cơ quan điều tra đã trao trả cho Tuấn A, Tuấn A đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì nên HĐXX không xem xét.
    • - Đối với Giấy phép lái xe hạng A1 số AV 978006 mang tên Nguyễn Tuấn A là giấy tờ tùy thân của bị cáo nên trả lại cho bị cáo sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.
    • - 01 chiếc USB có lưu trữ video ghi lại nội dung vụ việc tiếp tục lưu giữ trong hồ sơ vụ án.

Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí HSST theo các điều 134, 135 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTV Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[8] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, đại diện hợp pháp của người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được kháng cáo bản án theo Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự.

QUYẾT ĐỊNH:

Vì các lẽ trên;

  1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Tuấn A phạm tội «Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ».
  2. Áp dụng: điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điều 65 của Bộ luật hình sự.
  3. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Tuấn A 12 (mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Hạn thử thách 24 (hai mươi bốn) tháng kể từ ngày Tòa tuyên án.

    Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân phường T, thành phố P, Tỉnh Hà Nam quản lý, giáo dục trong thời gian thử thách.

    Bị cáo được hưởng án treo mà thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo các quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

    Trong thời gian thử thách, bị cáo được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án treo đã được hưởng.

  4. Về dân sự: Không xét.
  5. Về vật chứng: Áp dụng điều 47 Bộ luật hình sự, điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
    • - Trả lại bị cáo giấy phép lái xe số AV 978006 mang tên Nguyễn Tuấn A.
    • - Tịch thu lưu hồ sơ vụ án 01 USB ghi lại diễn biến sự việc.
  6. Về án phí: Căn cứ các điều 134, 135 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

    Bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

  7. Về quyền kháng cáo : Căn cứ các điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự:
    • - Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
    • - Đại diện hợp pháp của người bị hại (anh Đỗ Tiến H) có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
    • - Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan (anh Đinh Hữu D1) có quyền kháng cáo những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi của mình trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

    Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 9 Luật thi hành án dân sự ; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Viện kiểm sát nhân dân TP Hà Nội;
  • - Viện kiểm sát nhân dân H. Thanh Trì, TP Hà Nội;
  • - Công an huyện Thanh Trì, TP Hà Nội;
  • - Cơ quan Thi hành án hình sự H.Thanh Trì, Hà Nội;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự H. Thanh Trì, Hà Nội;
  • - Bị cáo;
  • - Đương sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Thị Hoài

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 230/2023/HS - ST ngày 27/12/2023 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH TRÌ - THÀNH PHỐ HÀ NỘI về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (hình sự)

  • Số bản án: 230/2023/HS - ST
  • Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (Hình sự)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/12/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH TRÌ - THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Tuấn A
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger