Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 230/2024/HS-ST

Ngày: 27-5-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC – TP HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Viết Nghiêm

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Phạm Văn Phước
  2. Ông Cao Quốc Hưng

- Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thị Hằng Nga – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức tham gia phiên tòa: Ông Lê Phong – Kiểm sát viên

Ngày 27 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 222/2024/HSST ngày 26 tháng 4 năm 2024 theo hình thức trực tuyến, gồm 02 điểm cầu: Điểm cầu trung tâm đặt tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, điểm cầu thành phần đặt tại Nhà tạm giữ Công an thành phố T; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 236/2024/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 05 năm 2024 đối với bị cáo:

Huỳnh Trọng N, sinh ngày 13/9/1995, tại Bạc Liêu; Giới tính: Nam; Đăng ký Hộ khẩu thường trú: Khóm A, Phường G, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu; Nơi cư trú: Không nơi ở nhất định; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Trình độ học vấn: 11/12; Nghề nghiệp: Nhân viên giao hàng; Con ông: Huỳnh Hữu T, sinh 1968 và bà Lê Thị Kim L (chết); Gia đình bị cáo là con duy nhất; Tiền án, tiền sự: không. Đã áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ, tạm giam từ 06/6/2023.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Bị hại: Ông Đỗ Đức T1, sinh năm 2003.

Địa chỉ: E khu phố A, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai (vắng mặt).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Ông Nguyễn Ngọc H, sinh năm 1995.

Địa chỉ: C H, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).

- Bà Nguyễn Thị Thu H1, sinh năm 1979.

Địa chỉ: E khu phố A, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do không có tiền tiêu xài, khoảng 13 giờ 30 phút ngày 02/6/2023, người thanh niên tên Q (chưa rõ lai lịch) rủ Huỳnh Trọng N đi tìm tài sản sơ hở để trộm cắp thì N đồng ý. Sau đó, Q điều khiến xe mô tô hiệu xe Honda Airblade (không rõ biển số) chở N đi tìm tài sản để trộm. Đến 15 giờ 45 phút ngày 02/6/2023, khi đến cửa hàng tiện lợi “Ministop” địa chỉ số E đường H, phường L, thành phố T, Q và N đi vào cửa hàng mua nước uống. Lúc này, Q nhìn thấy anh Đỗ Đức T1 đang ngủ có chìa khóa xe trên bàn nên Q rủ N trộm chìa khóa xe để lấy xe của anh T1 thì N đồng ý. N đi lại ngồi gần bàn của anh T1 đang ngủ, lén lút lấy trộm chùm chìa khóa trên bàn của anh T1 rồi ra ngoài đưa cho Q, Q bấm nút trên chìa khóa để tìm vị trí xe của anh T1, khi xác định vị trí xe của anh T1 thì Q đưa chìa khóa xe của Q cho N điều khiển. Q đi lại xe của anh T1 lấy xe đề nổ máy chạy thoát. N điều khiền xe Airblade của Q chạy trước khoảng 20 mét thì Q chạy xe mô tô SH mode chạy theo kịp N. Q rủ N đi cầm xe mô tô vừa trộm được để lấy tiền tiêu xài thì N đồng ý. Khi đến tiệm C1 tại số E đường H, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh do anh Nguyễn Chương T2 làm chủ, Q mang xe vào gặp anh T2 để cầm nhưng do xe không chính chủ nên anh T2 không đồng ý cầm xe trên. Q tiếp tục rủ N tìm chỗ khác để cầm, Q đưa xe vừa trộm được và Giấy chứng nhận đăng ký cho N để đi cầm, còn Q chạy xe Airblade của Q. Khi đến tiệm C2 địa chỉ C đường H, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh do anh Nguyễn Ngọc H làm chủ. Q cùng N mang xe vào trong tiệm cầm đồ gặp anh Nguyễn Ngọc H đề cầm xe, N đưa giấy đăng ký xe mô tô hiệu Honda SH mode biển số 36B8-799.09, H kiểm tra biển số xe, số khung, số máy. N yêu cầu H cầm với giá 30 triệu đến 35 triệu đồng. anh H yêu cầu N đưa giấy chứng minh tên Huỳnh Trọng N và giấy đăng ký xe cho anh H để làm thủ tục cầm cố.

Sau khi anh Đỗ Đức T1 phát hiện xe mô tô hiệu Honda SH mode biển số 36B8- 799.09 bị mất, anh T1 mở định vị của xe phát hiện xe đang ở địa bàn Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh nên đón xe G đi theo định vị của xe. Trên đường đi, anh T1 gặp anh Dương Tuấn A (sinh năm 1986) và anh Phạm Danh C (sinh năm 1985) là cán bộ Đội Cảnh sát giao thông B nên đã nhờ hai anh hỗ trợ. Khi đi qua tiệm cầm đồ “Dũng H” ở địa chỉ số B H, phường T, Quận A, anh T1 phát hiện xe mô tô của mình đang ở trước cửa tiệm cầm đồ “Dũng H” nên dừng lại. Q và N thấy vậy nên bỏ chạy bộ để tẩu thoát, anh T1 truy hô để người dân cùng anh A, anh C chạy bộ đuổi theo bắt giữ được N còn Q chạy thoát. Anh Đỗ Đức T1 báo công an phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh đến, đưa N cùng xe mô tô hiệu Honda SH mode biển số 36B8-799.09 về trụ sở Công an phường T lập biên bản tạm giữ tài sản đồ vật, tài liệu. Đến 20 giờ 30 phút ngày 02/6/2023, anh Đỗ Đức T1 đến Công an phường L trình báo.

Đối với chiếc xe mô tô Honda Air Blade mà Q sử dụng chở N đi trộm vẫn để lại phía trước tiệm cầm đồ, không có ai phát hiện để đưa về làm việc. Đến khi Công an phường T bàn giao đối tượng N cùng xe mô tô hiệu Honda SH Mode biển số 36B8-799.09 cho Công an phường L để lập hồ sơ theo thẩm quyền thì mới phát hiện còn chiếc xe mô tô Honda AirBlade dùng làm phương tiện đi trộm chưa được thu giữ. Lúc này, Công an phường T quay lại hiện trường thì không phát hiện xe mô tô Honda AirBlade còn ở đó, nên chưa thu giữ được xe mô tô trên.

Ngày 05/6/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T ra lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp đối với Huỳnh Trọng N.

Kết luận định giá tài sản số: 314-KV3/KLDG-HĐĐGTS ngày 08/6/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố T kết luận: 01 xe mô tô hiệu Honda SH mode biển số 36B8-799.09, trị giá 66.667.000 đồng (bút lục 62).

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T, Huỳnh Trọng N khai nhận hành vi phạm tội như trên phù hợp với lời khai của người bị hại và chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Vật chứng thu giữ:

  • - 01 (một) xe mô tô biển số 36B8-799.09, số khung :RLHJK0110NZ719497; số máy: JK01E0322156, Loại xe: SH Mode, nhãn hiệu: Honda, màu sơn: Xám đen; 01 Giấy đăng ký xe mô tô biển số: 36B8-799.09 do bà Nguyễn Thị Thu H1 sinh năm 1979: thường trú tại tổ dân phố V phường Q, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa (là mẹ ruột của Đỗ Đức T1) đứng tên chủ sở hữu. Ngày 15/8/2023, Cơ quan điều tra đã trả lại cho bà H1.
  • - 01 (một) USB chứa 02 đoạn ghi hình tại cửa hàng tiện lợi “Mini Stop" ghi nhận sự việc.

Trách nhiệm dân sự

- Bà Nguyễn Thị Thu H1 và anh Đỗ Đức T1 đã nhận lại tài sản, không yêu cầu được bồi thường.

Đối với đối tượng tên Q, Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thành phố T tiếp tục điều tra truy xét khi nào làm rõ được sẽ xử lý sau.

Đối với anh Nguyễn Ngọc H khi làm thủ tục cầm xe mô tô biển số 36B8-799.09 hiệu Honda SH mode không biết xe này do phạm tội mà có và cũng chưa cầm được nên không có căn cứ xử lý.

Cáo trạng số 216/CT-VKSTP Thủ Đức ngày 23/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố Huỳnh Trọng N về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm c Khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa:

  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức giữ nguyên quan điểm đã truy tố và đề nghị xử phạt bị cáo Huỳnh Trọng N mức án từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù
  • - Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng đã nêu, có thái độ ăn năn hối hận và xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Cơ quan cảnh sát điều tra-Công an thành phố T, của Kiểm sát viên và Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, trong quá trình điều tra truy tố là thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự; Bị cáo, bị hại và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Lời khai nhận tội của bị cáo Huỳnh Trọng N tại phiên tòa phù hợp với nội dung lời khai của bị hại, phù hợp với dữ liệu hình ảnh trích xuất từ Camera đặt tại cửa hàng tiện lợi “Ministop” địa chỉ số E đường H, phường L, thành phố T; Bản ảnh; kết luận định giá tài sản số: 214-KV3/KL-HĐĐGTS ngày 08/6/2023 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự Ủy ban nhân dân thành phố T và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Đã có đủ cơ sở kết luận: vào hồi 15 giờ 45 phút ngày 02/6/2023, tại cửa hàng tiện lợi “Ministop” địa chỉ số E đường H, phường L, thành phố T, bị cáo Huỳnh Trọng N và đối tượng tên Q đã lợi dụng sự sơ hở của anh Đỗ Đức T1 để lén lút chiếm đoạt 01 xe mô tô biển số 36B8-799.09 hiệu Honda SH mode trị giá 66.667.000 đồng. Là Huỳnh Trọng N đã phạm tội Trộm cắp tài sản trong trường hợp chiếm đoạt tài sản có giá trị từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

[3] Huỳnh Trọng Nghĩa là thanh niên, có sức khỏe, có điều kiện lao động, làm việc để có thu nhập ổn định nhưng do tham lam muốn có tiền để tiêu xài nên đã đi vào con đường chiếm đoạt tài sản của người khác, vi phạm pháp luật. Trong vụ án này N đã chiếm đoạt 01 xe mô tô biển số 36B8-799.09 hiệu Honda SH mode có giá trị còn lại là 66.667.000 đồng của anh Đỗ Đức T3.

Hành vi trộm tài sản do Huỳnh Trọng N thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến tài sản hợp pháp của công dân được pháp luật bảo vệ, góp phần gây mất an ninh trật tự tại địa phương. Tuy nhiên cũng xét, tại cơ quan điều tra và tại phiên toà bị cáo khai báo đầy đủ thành khẩn có thái độ ăn năn hối lỗi, tài sản bị chiếm đoạt đã được thu hồi và giao trả đầy đủ cho bị hại. Do đó cần áp dụng điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 quy định khung hình phạt áp dụng; điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017 quy định các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự có hình phạt tù tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội và nhân thân của bị cáo thì mới có đủ tác dụng cải tạo, giáo dục riêng và phòng ngừa chung cho xã hội.

Xét đề nghị của Vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức là có phần phù hợp với tính chất, mức độ phạm tội, nhân thân của bị cáo và nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp thuận một phần.

[4] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại đầy đủ tài sản và không có yêu cầu bị cáo bồi thường trách nhiệm dân sự, do đó Tòa án không phải giải quyết về bồi thường dân sự cho người bị hại.

[5] Xử lý vật chứng:

  • + 01 (một) USB chứa 02 đoạn ghi hình tại cửa hàng tiện lợi “Mini Stop” ghi nhận sự việc lưu theo hồ sơ vụ án.

Đối với đối tượng tên Q, Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thành phố T tiếp tục điều tra truy xét khi nào làm rõ được sẽ xử lý sau.

Đối với anh Nguyễn Ngọc H khi làm thủ tục cầm xe mô tô biển số 36B8-799.09 hiệu Honda SH mode không biết xe này do phạm tội mà có và cũng chưa cầm được nên không có căn cứ xử lý là đúng quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017. Tuyên bố bị cáo Huỳnh Trọng N phạm tội Trộm cắp tài sản.

1.1. Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 173; Điều 50; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt: Huỳnh Trọng N 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 06/6/2023.

2. Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường thêm gì khác.

3. Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Huỳnh Trọng N phải chịu 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo được quyền kháng cáo bản án. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tống đạt hợp lệ bản án.

Nơi nhận:

  • - Tòa án NDTP.HCM;
  • - Viện KSND TP.HCM;
  • - Viện KSND thành phố Thủ Đức;
  • - Công an thành phố Thủ Đức;
  • - Chi cục THADS thành phố Thủ Đức;
  • - Bị hại;
  • - Bị cáo;
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Bùi Viết Nghiêm

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 230/2024/HS-ST ngày 27/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 230/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: xét xử
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger