Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

-

Bản án số: 230/2024/HS-PT

Ngày 24 - 7- 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Thương Huyền

Các Thẩm phán: Ông Phan Thanh Nguyễn

Ông Ngô Đức Thụ

- Thư ký phiên tòa: Bà Đào Thùy Linh – Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh gia phiên tòa: Bà Lê Thủy Tiên - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 7 năm 2024 tại Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số:192/2024/TLPT-HS ngày 14 tháng 6 năm 2024 đối với bị cáo Lưu Văn C do có kháng cáo của bị cáo Lưu Văn C đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 30/2024 /HS-ST ngày 05 tháng 02 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh.

Bị cáo kháng cáo:

Họ và tên: Lưu Văn C, sinh năm: 1960 tại tỉnh Phú Yên; nơi thường trú: Số B Đ, tổ D, ấp C, xã N, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh; chỗ ở hiện nay: Số A B, ấp G, xã A, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lưu Văn M, sinh năm: 1933 (đã chết) và bà Trần Thị H, sinh năm: 1938; bị cáo có vợ tên Ngô Thị C1; có 02 con, lớn nhất sinh năm 1987, nhỏ nhất sinh năm 1991; tiền án: Không; tiền sự: Không.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo có mặt tại phiên toà.

(Bị hại: Bà Vũ Thị Thanh H1, sinh năm 1974 và Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Lưu Thành Đ, sinh năm 1991 không có kháng cáo)

1


NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 07 giờ 20 phút ngày 22/02/2023, Lưu Văn C đến trụ sở Tòa án nhân dân huyện Củ Chi thuộc Khu phố G, thị trấn C, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh để tiến hành nhận kết quả xử lý đơn khởi kiện ly hôn giữa con ruột tên Lưu Thành Đ và con dâu tên Lê Thị T.

Khi đến trụ sở Tòa, Lưu Văn C đến phòng tiếp dân của Tòa án để làm thủ tục. Tại đây, C nhìn thấy có 01 túi xách da màu nâu do bà Vũ Thị Thanh H1 là chủ sở hữu được để trên băng ghế nhựa màu xanh trước cửa phòng tiếp dân. Lưu Văn C đi bộ ra ngoài trước sảnh Tòa án có gặp và hỏi 03 người phụ nữ (không rõ lai lịch) về việc túi xách da có để quên trên ghế trước phòng tiếp dân hay không, 03 người phụ nữ này nói không phải. Sau đó, Lưu Văn C liền tiến đến ngồi ghế bên cạnh chỗ để túi xách, quan sát xung quanh không có ai để ý. Do nghĩ trong túi xách sẽ có tiền và tài sản, Lưu Văn C đã nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản. Quan sát xung quanh không có ai để ý, Lưu Văn C đã dùng tay phải cầm lấy túi xách da màu nâu cất giữ để vào trong cặp táp của mình nhằm mục đích che dấu tránh bị phát hiện. Sau khi lấy được tài sản, Lưu Văn C đã đi ra phía ngoài hành lang bên trái của Tòa án (lối đi nội bộ của Tòa án) ra bãi đậu xe bên ngoài lấy xe gắn máy biển số 59Y2-825.32 điều khiển đến xã B, thị xã T, tỉnh Tây Ninh để làm dịch vụ thủ tục đất đai cho khách hàng.

Trên đường đi, Lưu Văn C nhận được cuộc điện thoại của bà Vũ Thị Thanh H1 gọi hỏi bị cáo có giữ túi xách da của bà H1 không, bị cáo Lưu Văn C nói không lấy rồi tắt máy. Sau đó bà H1 tiếp tục điện thoại lại cho C và nói đã xem camera ở Tòa án nhìn thấy C trộm túi xách da của mình, lúc này Lưu Văn C mới thừa nhận đã lấy trộm túi xách da của bà H1, bị cáo Lưu Văn C nói có công việc cần giải quyết nên khi nào giải quyết xong công việc thì sẽ đem trả lại nhưng bà H1 không đồng ý và làm đơn trình báo Công an thị trấn C, huyện C.

Vào khoảng 12 giờ 00 phút cùng ngày, sau khi làm xong công việc ở tỉnh Tây Ninh, Lưu Văn C điều khiển xe gắn máy về nhà tại số A B, ấp G, xã A, huyện C để tắm rửa. Khi về Lưu Văn C có mở túi xách da ra xem thì nhìn thấy có giấy căn cước công dân mang tên Vũ Thị Thanh H1. Sau đó, Lưu Văn C điều khiển xe gắn máy mang theo túi xách đi trả, đi được khoảng 20 mét thì bị lực lượng Công an mời lên làm việc.

Kết luận định giá tài sản số 113/KL-HĐĐGTS ngày 10/5/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thuộc Ủy ban nhân dân huyện C kết luận: 01 cái bóp da màu nâu có hình đầu con nai, kích thước 18cm x 10cm x 2cm trị giá 95.000₫ và 01 cái túi xách da màu nâu hiệu MIEAHL KGPS, kích thước 25cm x 18cm x 10cm trị giá 130.000đ.

2


Vật chứng thu giữ:

  • 01 chiếc xe mô tô biển số 59Y2-825.32, số máy: JC52E4318917, số khung: 5211CY220445, nhãn hiện Honda, màu sơn đỏ đen bạc, số loại WAVE S là xe của con bị cáo tên Lưu Thành Đ;
  • 01 cái cặp táp màu đen, kích thước 32cm x 42cm;
  • 01 căn cước công dân mang tên Lưu Văn C, 01 điện thoại Realme 5Pro có số Imel 1: 865071045130890, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C đã trả lại cho bị cáo;
  • 01 túi xách nữ màu nâu vàng cát bên trong có chứa: 01 ví da màu vàng cát có 8.450.000₫, 01 căn cước công dân mang tên Vũ Thị Thanh H1 và 01 thẻ ngân hàng A mang tên Vũ Thị Thanh H1, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C đã trả lại cho bị hại;
  • 01 USB chứa đoạn video ghi lại diễn biến vụ án.

Tại Bản án số 30/2024/HS-ST ngày 05/02/2024 của Tòa án nhân dân huyện củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh đã quyết định:

Tuyên bố bị cáo Lưu Văn C phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Căn cứ vào Khoản 1 Điều 173, Điểm i, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Lưu Văn C 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành án.

Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên xử lý vật chứng, nghĩa vụ chịu án phí và quyền kháng cáo.

Ngày 26/02/2024 Tòa án nhân dân huyện Củ Chi nhận đơn kháng cáo của bị cáo Lưu Văn C.

Lý do kháng cáo: xin được hưởng án treo để có điều kiện chăm sóc mẹ già.

Tại phiên tòa phúc thẩm: Bị cáo giữ nguyên yêu cầu kháng cáo và thừa nhận thực hiện hành vi bản án sơ thẩm đã nêu và trình bày: việc Tòa án sơ thẩm xét xử bị cáo về tội Trộm cắp tài sản là đúng, không oan sai.

Ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát tại phiên tòa: Bị cáo Lưu Văn C đã lén lút trộm cắp tài sản của bị hại nên Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” là đúng quy định của pháp luật. Bị cáo kháng cáo quá hạn nhưng đã được Hội đồng xét kháng cáo quá hạn Tòa án nhân dân Thành phố hồ Chí Minh

3


chấp nhận kháng cáo quá hạn. Về yêu cầu kháng cáo của bị cáo: Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét tính chất mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ để xử bị cáo mức thấp nhất của khung hình phạt. Tuy nhiên, do bị cáo tuổi đã cao, có nơi cư trú rõ ràng, việc cho bị cáo được hưởng án treo không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Do vậy, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điểm e Khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, sửa bản án sơ thẩm: Xử phạt bị cáo 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 01 năm tính từ ngày tuyên án.

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo đã nhận thức rõ hành vi của mình là sai trái, xấu hổ về hành vi của mình, xin Hội đồng xét xử khoan hồng cho bị cáo được hưởng án treo để chăm sóc mẹ già.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. Đơn kháng cáo của bị cáo nộp quá thời hạn luật định. Tòa án nhân dân huyện Củ Chi đã lập hồ sơ chuyển Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét kháng cáo quá hạn. Tại Quyết định số 39/2024/HSPT-QĐ ngày 17/4/2024 Hội đồng xét kháng cáo quá hạn của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã chấp nhận kháng cáo quá hạn của bị cáo nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử phúc thẩm vụ án theo thủ tục chung.
  2. Việc điều tra, truy tố và xét xử tại cấp sơ thẩm đúng trình tư, thủ tục theo quy định của pháp luật nên hợp pháp.
  3. Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo khai nhận hành vi như trong quá trình điều tra, truy tố và bản án sơ thẩm đã nêu trên. Bị cáo khai nhận: Bị cáo thường xuyên đến Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Củ Chi để làm việc, do bị cáo là đại diện ủy quyền và tư vấn pháp lý. Khoảng 07 giờ 20 phút ngày 22/02/2023 bị cáo đến trụ sở Tòa án nhân dân huyện Củ Chi để nhận kết quả xử lý đơn khởi kiện ly hôn giữa con ruột bị cáo. Khi đến Tòa án, bị cáo đến phòng tiếp dân để làm thủ tục nhưng lúc này phòng tiếp dân chưa làm việc. Bị cáo lại băng ghế nhựa màu xanh trước cửa phòng tiếp dân ngồi thì thấy có 01 túi xách da màu nâu để trên băng ghế nhựa màu xanh, bị cáo không biết túi xách của ai, bị cáo đi bộ ra trước sảnh Tòa án có gặp và hỏi 03 người phụ nữ (bị cáo không biết là ai) có để quên túi xách trên ghế trước phòng tiếp dân hay không, 03 người phụ nữ này nói không phải. Bị cáo nảy sinh lòng tham nên đến ngồi ghế bên cạnh chỗ để túi xách, nhìn xung quanh không có ai để ý nên bị cáo dùng tay phải cầm lấy túi xách bỏ vào trong cặp táp của mình nhằm tránh bị phát hiện. Sau khi lấy được túi xách bị cáo

4


đi ra phía ngoài hành lang bên trái của Tòa án ra bãi đậu xe lấy xe gắn máy biển số 59Y2-825.32 điều khiển đến xã B, thị xã T, tỉnh Tây Ninh để làm thủ tục đất đai cho khách hàng của bị cáo, trên đường đi bị cáo nhận được điện thoại của chị H1 gọi hỏi bị cáo là “Có giữ túi xách da của tôi không?”, bị cáo nói “Không có lấy túi xách”, sau đó bà H1 tiếp tục điện thoại lại cho bị cáo và nói “Đã xem camera ở Tòa án nhìn thấy ông trộm túi xách da”, lúc này bị cáo thừa nhận đã lấy úi xách da của bà H1, vì bận công việc cần giải quyết nên bị cáo nói khi nào giải quyết xong công việc thì sẽ đem trả lại nhưng chị H1 bắt phải trả liền. Đến khoảng 12 giờ 00 phút cùng ngày khi xong công việc ở tỉnh Tây Ninh, bị cáo chạy xe về nhà tại số A B, ấp G, xã A, huyện C để tắm rửa, bị cáo có mở túi xách da ra xem thì nhìn thấy có giấy căn cước công dân mang tên Vũ Thị Thanh H1. Khi bị cáo chạy xe mang theo túi xách đi trả được khoảng 20 mét thì Công an yêu cầu dừng xe, đưa bị cáo đến Công an làm việc.

Xét lời khai của bị cáo là phù hợp với lời khai của bị hại là bà Vũ Thị Thanh H1 tại cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C thể hiện: Khoảng 07 giờ 10 phút bà đến trụ sở Tòa án nhân dân huyện Củ Chi để làm việc, bà ngồi tại băng ghế nhựa màu xanh trước phòng tiếp dân và nói chuyện với đồng nghiệp, sau đó bà để túi xách da màu nâu tại băng ghế màu xanh và đi bộ tới bàn bảo vệ cách băng ghế màu xanh khoảng 05m để uống cà phê, khoảng 7 giờ 25 phút bà thấy ông C đi vào Tòa án và đến ngồi tại băng ghế màu xanh gần túi xách của bà trước phòng tiếp dân, bà không biết ông C có thấy bà hay không, đến khoảng 7 giờ 40 phút khi bà đi lại băng ghế màu xanh định lấy túi xách lên phòng làm việc thì không thấy túi xách nữa, bà nghĩ đồng nghiệp đùa giỡn cất túi xách của bà nhưng khi bà hỏi thì không có ai cất túi xách, khi kiểm tra lại camera bà mới thấy ông C là người lấy túi xách của bà. Khoảng 9 giờ 00 phút cùng ngày, bà điện thoại cho ông C hỏi: “Anh có nhặt túi xách da của tôi không?”, ông C nói không có lấy, sau đó ông C điện thoại lại cho bà và nói: “Anh lỡ lòng tham lấy túi xách da của em, để tối anh ghé nhà trả lại”, bà không đồng ý và yêu cầu ông C đúng 10 giờ 00 phút phải đem túi xách trả lại cho bà, ông C nói: “Tui nhặt của rơi sao làm khó tui” rồi tắt máy. Bà tiếp tục điện thoại, nhắn tin cho ông C yêu cầu trả túi xách nhưng ông C tắt máy, bà đến Công an thị trấn C, huyện C trình báo. Bà đã được nhận lại túi xách, trong đó có 01 bóp da màu nâu, 8.450.000đ, 01 căn cước công dân và 01 thẻ ATM của A. Bà không yêu cầu ông C bồi thường gì, bà đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho ông C vì ông C đã lớn tuổi.

Như vậy có đủ căn cứ để kết luận:

Khoảng 07 giờ 20 phút ngày 22/02/2023 bị cáo Lưu Văn C có hành vi trộm cắp 01 túi xách của bà Vũ Thị Thanh H1 để ở băng ghế nhựa màu xanh trước cửa phòng tiếp dân của Tòa án nhân dân huyện Củ Chi. Trong túi xách có

5


8.450.000đồng và một số giấy tờ cá nhân. Theo Kết luận số 113/KL-HĐĐGTS của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Ủy ban nhân dân huyện C ngày 10/5/2023 : 01 túi xách nữ màu nâu vàng cát có giá 130.000đồng, 01 ví da màu vàng cát có giá 95.000đồng. Tổng trị giá tài sản bị cáo trộm cắp là 8.675.000 đồng. Do vậy, Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo Lưu Văn C về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại Khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017 là có căn cứ, đúng pháp luật.

  1. Xem xét yêu cầu kháng cáo của bị cáo:

Xét thấy, bị cáo Lưu Văn C thực hiện hành vi trộm cắp tài sản mang tính cơ hội, tài sản đã được thu hồi trả cho bị hại. Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ: phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo có cha mẹ được tặng huân chương kháng chiến; bản thân là người cao tuổi. Bị cáo có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng đủ điều kiện cho hưởng án treo. Việc cho bị cáo được hưởng án treo không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Do vậy, Hội đồng xét xử áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự, Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 và Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao chấp nhận kháng cáo của bị cáo và đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa, sửa bản án sơ thẩm cho bị cáo được hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách đối với bị cáo là phù hợp.

  1. Về án phí: Do chấp nhận kháng cáo của bị cáo nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
  2. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

  1. Căn cứ điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo: Sửa bản án hình sự sơ thẩm số 30/2024/HS-ST ngày 05/02/2024 của Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh.
  2. Căn cứ khoản 1 Điều 173; các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017:

Xử phạt bị cáo Lưu Văn C 06 (sáu) tháng nhưng cho bị cáo được hưởng án treo về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời gian thử thách 01 (một) năm tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.

Giao bị cáo Lưu Văn C cho Ủy ban nhân dân xã A, huyện C,Thành phố Hồ Chí

6


Minh để giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Bị cáo phải thực hiện các nghĩa vụ trong thời gian thử thách theo quy định của Luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, bị cáo Lưu Văn C cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 (hai) lần trở lên thì Tòa án có thể buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp phạm tội mới thì Tòa án buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Trường hợp bị cáo Lưu Văn C thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.

  1. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Các nội dung khác của Bản án hình sự sơ thẩm không bị kháng cáo kháng nghị có hiệu lực pháp luật.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.

(Chủ tọa phiên tòa đã giải thích chế định án treo).

Nơi nhận:

  • - TAND tối cao; (1)
  • - TAND cấp cao tại TP.HCM; (1)
  • - VKSND TP.HCM; (3)
  • - VKSND H. Củ Chi; (1)
  • - P.PV06 - CATP; (1)
  • - Bị cáo; (1)
  • - THA H. Củ Chi; (1)
  • - TAND H. Củ Chi; (2)
  • - Công an H. Củ Chi; (1)
  • - UBND nơi BC cư trú; (1)
  • - Sở Tư pháp; (1)
  • - Lưu, Tòa Hình sự, hồ sơ (20) (5).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Thị Thương Huyền

7

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 230/2024/HS-PT ngày 24/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự phúc thẩm (trộm cắp tài sản)

  • Số bản án: 230/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (Trộm cắp tài sản)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 24/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lưu Văn C và sửa bản án sơ thẩm.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger