Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - hạnh phúc

Bản án số: 230/2024/DS-PT

Ngày: 23/5/2024

V/v “Tranh chấp lối đi; Yêu cầu

hủy bản cam kết”.

NHÂN DANHNƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Dương Thúy Hằng

Các Thẩm phán: Bà Phạm Ngọc Giàu

Ông Trần Thanh Tòng

Thư ký phiên tòa: Bà Lê Mai Hương - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Bà Đặng Thị Châu - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh xét xử công khai vụ án dân sự phúc thẩm thụ lý số: 522/2023/TLPT-DS, ngày 18 tháng 12 năm 2023 về việc “Tranh chấp lối đi và Yêu cầu hủy bản cam kết”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 169/2023/DS-ST ngày 30 tháng 10 năm 2023, của Toà án nhân dân huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 137/2024/QĐ-PT ngày 13 tháng 3 năm 2024, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn:Trần Hoàng O, sinh năm: 1992. Địa chỉ: Tổ A, ấp P, xã P, huyện G, tỉnh Tây Ninh, có mặt.
  2. Người đại diện theo ủy quyền của bà Trần Hoàng O: Ông Đặng Tấn L, sinh năm: 1975. Địa chỉ: ấp B, xã T, huyện G, tỉnh Tây Ninh (hợp đồng ủy quyền ngày 26-10-2023), có mặt.

  3. Bị đơn: Ông Trần Trung N, sinh năm: 1974 và bà Nguyễn Thị Hồng N1, sinh năm: 1978. Cùng địa chỉ: Tổ A, ấp P, xã P, huyện G, tỉnh Tây Ninh.
  4. Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn: Ông Lê Phước Ý, sinh năm: 1995. Địa chỉ: số E, khu phố H, phường H, thành phố T, tỉnh Tây Ninh. Tạm trú: số A, đường H, khu phố D, phường L, thị xã H, tỉnh Tây Ninh (hợp dồng ủy quyền ngày 12-12-2022), có mặt.

  5. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
    1. Ông Bùi Phước S, sinh năm: 1987. Địa chỉ: Tổ A, ấp P, xã P, huyện G, tỉnh Tây Ninh.
    2. Người đại diện theo ủy quyền của ông Bùi Phước S:

      1. Trần Hoàng O, là nguyên đơn trong vụ án (hợp đồng ủy quyền ngày 13-12-2022).
      2. Ông Đặng Tấn L, sinh năm: 1975. Địa chỉ: ấp B, xã T, huyện G, tỉnh Tây Ninh (hợp đồng ủy quyền ngày 26-10-2023), có mặt.
    3. Đặng Thu T, sinh năm: 1968, vắng mặt.
    4. Ông Trần Văn T1, sinh năm: 1965, vắng mặt.

Tất cả ngụ cùng địa chỉ: ấp P, xã P, huyện G, tỉnh Tây Ninh.

Người kháng cáo: ông Trần Trung N, bà Nguyễn Thị Hồng N1 là bị đơn.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Nguyên đơn bà Trần Hoàng O cùng người đại diện theo ủy quyền của bà O là ông Đặng Tấn L trình bày: Bà O yêu cầu ông Trần Trung N (là chú của bà) cùng vợ ông Nghĩa 1Nguyễn Thị Hồng N1 là có nghĩa vụ mở lối đi có diện tích 136,2 m², nằm trong diện tích đất 3934 m², thuộc thửa đất số 298, tờ bản đồ số 07, có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do ông N đứng tên, được Ủy ban nhân dân huyện G cấp ngày 24-8-2017, số CS 03096. Đồng thời tháo dỡ mái che trên không gian diện tích này để mở lối đi cho thông thoáng.

Lý do yêu cầu: Đất của ông N, giáp với đường nhựa 782, bà và chồng bà (là ông Bùi Phước S) có phần đất giáp với mặt hậu của đất ông N, có diện tích 3772,4 m², thuộc thửa đất số 585, tờ bản đồ số 07, vợ chồng bà nhận chuyển nhượng của bà Đặng Thị Thu T2. Bà T2 là vợ là ông Trần Văn L1 (chết năm 2016), ông L1 là chú của bà (tức cha bà, ông L1 và ông Nghĩa 1 anh em ruột).

Lối đi có nguồn gốc của ông bà nội bà để lại cho ông L1 và ông N. Lối đi có từ năm 1992 cho đến nay. Lúc đầu, ông L1 sử dụng để trồng lúa, sau đó thì lập vườn trồng cây ăn trái, ông L1 dùng lối đi để vận chuyển nông sản ra đường G. Năm 2006, ông L1 cất nhà và tiếp tục sử dụng lối đi này vừa vận chuyển nông sản

vừa phục vụ cho nhu cầu đi lại hàng ngày của gia đình ông L1. Lúc ông L1 còn sống và chưa chuyển nhượng đất cho vợ chồng bà, phía ông N đã làm hàng rào, rào toàn bộ đất phần còn lại của ông N lại và chừa lối đi cho ông L1 ở phía trong đi ra đường công cộng (đường G).

Năm 2006, ông L1 mở quán cà phê sân vườn, khách ra vào nhiều ông N không đồng ý nên rào lối đi lại, dẫn đến ông L1 và ông N gây gỗ, xô xát và đánh nhau, ông N dùng cây đánh ông L1 phải cắt bỏ 01 lá lách.

Sau đó, thay vì ông L1 gửi đơn yêu cầu Công an giải quyết, ngày 15-9-2006 giữa ông L1 và ông N có lập tờ cam kết. Theo đó, ông N chừa lối đi có chiều ngang 1,5 mét x dài 100 mét cho ông L1, ông L1 chừa đường mương nước cho ông N, kèm điều kiện “ông L1 không được bán đường xe cho người ngoài”. Bản chính tờ cam kết bà cung cấp cho Tòa án cấp phúc ngày 15/5/2024.

Năm 2016 ông L1 chết. Bà T2 tiếp tục sinh sống trên đất, trên đất có nhà bà T2, 03 căn phòng cho thuê và nhiều loại cây ăn trái khác. Ngày 25-10-2022, vợ chồng bà nhận chuyển nhượng đất từ bà T2. Kèm thủ tục chuyển nhượng, bà T2 bàn giao cho vợ chồng bà lối đi nói trên (theo biên bản bàn giao nhà và đất, tài sản khác trên đất ghi ngày 25-10-2022).

Đầu tháng 12 năm 2022, bà T2 di dời đi nơi ở mới và giao đất cho vợ chồng bà. Ngày 03-12-2022, vợ chồng ông N đổ cát, đá bít lối đi, không cho gia đình bà đi nên bà khởi kiện vợ chồng ông N yêu cầu mở lối đi, kèm đơn yêu cầu Tòa án ra quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, vợ chồng ông N mới mở lối đi cho gia đình bà và những người thuê nhà đi cho đến nay.

Theo sơ đồ hiện trạng phần đất vợ chồng bà nhận chuyển nhượng từ bà T2 ở phía cuối đất có 01 con đường đất, từ con đường này ra đường C mét, từ đường C ra đường G khoảng 500-600 mét. Trên thực tế tại vị trí đất của bà lối đi gập ghềnh, sình lầy, không thuận tiện nên rất khó khăn trong việc đi lại (gần như không tồn tại con đường) nên bà T2 trước đây và bà hiện tại không ai đi trên con đường này. Lối đi bà yêu cầu mở hiện là lối đi thuận tiện nhất để đi ra đường công cộng.

Mặt khác, theo tờ cam kết, các bên có đề cập đến nội dung là ông N chừa lối đi với điều kiện ông L1 không được bán cho người ngoài, bà không phải là người ngoài. Việc bà nhận chuyển nhượng đất từ bà T2 là bà muốn giữ đất tông chi của ông bà tổ tiên để lại.

Với những lý do trên, bà yêu cầu ông N và bà N1 phải có nghĩa vụ để lối đi cho bà tiếp tục đi. Đồng thời, tháo dỡ mái che có diện tích 23,6 m² trên không gian lối đi để việc đi lại được thuận tiện và thông thoáng.

Ngoài ra, bà yêu cầu ông Trần Văn T1 có nghĩa vụ mở lối đi có diện tích 24,7 m² + 0,8 m² = 25,5 m², thuộc thửa đất số 114, tờ bản đồ số 07, có giấy chứng

nhận quyền sử dụng đất do ông T1 đứng tên. Cũng tương tự như đất của ông N, đất của ông T1 nằm trong diện tích lối đi cùng thời gian với lối đi nằm trong đất ông N.

Khi ông N chừa đất cho bà T2 làm lối đi, cả ông T1 và ông N đều chỉ ranh cho bà T2 xây dựng 02 hàng gạch kéo dài theo hai bên lối đi (một bên đất ông N và 01 bên đất ông T1). Khi có kết quả đo đạc ông T1 mới biết có diện tích này nằm trong đất của ông. Vì vậy, bà yêu cầu ông T1 mở lối đi diện tích 25,5 m² cho gia đình bà thuận tiện trong việc đi lại. Diện tích này không lớn nhưng nếu bỏ ra thì tại vị trí đầu lối đi giáp với đất của bà chiều ngang bị hẹp lại nên sẽ khó khăn cho việc đi lại của gia đình bà.

Bà không đồng ý bồi thường giá trị quyền sử dụng đất cho ông N và ông T1 vì lối đi đã tồn tại từ rất nhiều năm nay, không phải đến bây giờ ông N và ông T1 mới phải cắt đất mở đường cho vợ chồng bà đi.

Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn ông Trần Trung N và bà Nguyễn Thị Hồng N1 là ông Lê Phước Ý trình bày:

Ông yêu cầu Hội đồng xét xử giải quyết khiếu nại của ông về việc bị đơn có yêu cầu đo đạc và nghiệm thu lại lối đi đang tranh chấp. Vì theo ông, lối đi được đo đạc nhiều lần và cho ra các kết quả khác nhau, cho nên việc Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh T - Chi nhánh G nghiệm thu kết quả đo đạc là không đúng. Bên cạnh đó, tranh chấp này là loại tranh chấp đất đai nên thuộc trường hợp phải hòa giải ở cơ sở. Vì vậy, ông yêu cầu vụ việc tranh chấp này phải được hòa giải cơ sở trước khi đưa ra giải quyết tại Tòa án.

Việc ông N được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng với diện tích 3934,0 m², thuộc đất số 298, tờ bản đồ số 07 (trong đó có diện tích lối đi đang tranh chấp) là hợp pháp. Ông N cùng vợ là bà N1 cũng đang sử dụng đất hợp pháp. Theo bản đồ địa chính thể hiện, đất của ông N các hướng đều giáp các thửa đất khác nhau, không có hướng nào giáp lối đi chung hay đường công cộng.

Lối đi có từ năm 2006, ông N chừa đất của ông để cho vợ chồng ông L1T2 có lối ra đường 782, đất của ông L1T2 thuộc thửa đất số 585, tờ bản đồ số 07, diện tích 3.772,4 m² (nay là của vợ chồng bà O), vị trí thửa đất 585 có hướng Tây giáp đường công cộng là đường đất. Trước đây, theo hướng Tây là đất ruộng không có đường, sau này mới có đường đất theo bản đồ địa chính, hiện nay xe chở vật liệu xây dựng vẫn chạy ra vào được con đường này.

Ông S và bà O nhận chuyển nhượng đất của bà T2, theo hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 25-10-2022 thì các bên có cam kết tại điều 6 của hợp đồng “Hai bên cam kết không khiếu nại, khiếu kiện, tranh chấp về vị trí thửa

đất, tờ bản đồ, diện tích tăng hoặc giảm theo thực tế khi đo đạc” nên bà O yêu cầu mở lối đi trên đất ông NN1 là không có căn cứ.

Đối với Tờ cam kết ghi ngày 15-9-2006, bên bị đơn đồng ý có các nội dung như nguyên đơn trình bày. Nhưng do có sự cắt ghép tại trước của tờ cam kết nên còn thiếu nội dung “Không được bán cho người khác sử dụng, chỉ 01 mình gia đình anh L1, bà T2 được sử dụng”. Bị đơn yêu cầu nguyên đơn cung cấp bản chính bản cam kết để làm rõ yêu cầu của bị đơn. Hai bên tự nguyện viết tờ cam kết và không có sự việc ông N đánh ông L1 như bên nguyên đơn trình bày.

Đối với mương thoát nước, cho đến hiện tại vợ chồng ông N không cần đường thoát nước qua bên đất bà T2 (nay là đất bà O) nên không có yêu cầu gì với mương thoát nước này.

Do vậy, bị đơn không đồng ý mở lối đi theo yêu cầu của nguyên đơn. Vì lối đi mà nguyên đơn yêu cầu mở không phải là lối đi duy nhất. Ngoài lối đi này, trong giấy đất của nguyên đơn còn có lối đi khác để đi ra đường công cộng.

Trường hợp Tòa án chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, vợ chồng ông N yêu cầu vợ chồng bà O có nghĩa vụ bồi thường giá trị lối đi cho vợ chồng ông N theo giá mà hội đồng định giá đã định.

Ngoài ra, bị đơn có yêu cầu phản tố, yêu cầu hủy bỏ “Tờ cam kết” ghi ngày 15-9-2006, lý do: Nội dung thỏa thuận có ghi “Ông L2, bà T2 không được bán đường xe cho người ngoài”, “không được bán cho người khác sử dụng, chỉ 01 mình gia đình anh L1, bà T2 được sử dụng” được hiểu là chỉ ông L2, bà T2 được sử dụng, không được giao cho người khác sử dụng. “Thời gian cho đường xe và mương nước là không thời hạn”. Tức con đường này và mương nước được sử dụng không thời hạn chỉ có giá trị và hiệu lực giữa ông N, bà N1 và ông L2, bà T2. Ngoài ra không có giá trị đối với người nào khác, kể cả vợ chồng bà O. Tuy nhiên, bà T2 đã chuyển nhượng thửa đất số 585 cho vợ chồng bà O, tức bà T2 đã vi phạm các điều kiện thỏa thuận trong Tờ cam kết nên cần phải hủy bỏ Tờ cam kết này.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Đặng Thị Thu T2 trình bày: Lối đi đang tranh chấp có từ năm 1992, lúc đầu là lối đi nhỏ hẹp, ẩm thấp, chỉ đi bộ ra vào được. Vợ chồng bà sử dụng để vận chuyển nông sản, khoảng thời gian này vợ chồng bà cất nhà và sinh sống ở nơi khác gần phần đất giáp lối đi đang tranh chấp. Đến năm 2006 vợ chồng bà về phần đất (nay đã chuyển nhượng co bà O) cất nhà, dọn dẹp cây cối, đổ đá mi và xây 02 hàng gạch ống theo chiều dài 02 bên lối đi. Cùng năm 2006 vợ chồng bà mở quán cà phê sân vườn, khách ra vào nhiều ông N không đồng ý nên rào lối đi lại. Dẫn đến chồng bà (ông L1) và ông N gây gỗ và đánh nhau. Ông N dùng tuýp sắt đánh ông L1 phải cắt bỏ 01 lá lách. Sau đó để

thương lượng với ông L1, ông N và ông L1 viết tờ cam kết có nội dung như nguyên đơn trình bày. Vợ chồng bà sử dụng lối đi đến năm 2016 thì chồng bà chết. Bà tiếp tục sử dụng đến cuối năm 2022 thì chuyển nhượng đất cho vợ chồng bà O. Theo bà, việc thỏa thuận “Anh L1 không được bán đất cho người ngoài” tức là có con cháu trong nhà. Do vậy vợ chồng bà O được tiếp tục sử dụng lối đi không có thời hạn như tờ cam kết đã ghi.

Phía sau đất của bà (nay là đất bà O) có 01 lối đi nhưng lối đi bà ít sử dụng vì không thuận tiện cho việc đi lại (đất gồ ghề, khó đi lại), chủ yếu bà đi theo lối đi đang có tranh chấp.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trần Văn T1 trình bày: Chiều dài của lối đi một bên giáp đất ông N, 01 bên giáp với đất của ông (thuộc thửa đất số 114). Khi bà T2 dọn dẹp đất để mở lối đi trước đây và sau này khi bà O nhận chuyển nhượng đất của bà T2 đều có xác định ranh lối đi với ông, tại vị trí giáp ranh đất của ông. Ông cũng xác định ranh như đo đạc thực tế đã thể hiện, tức có 01 phần diện tích đất của ông nằm trong lối đi. Vấn đề này trước đây ông không biết, sau khi có kết quả đo đạc ông mới biết.

Nay ý kiến của ông là để giải quyết ổn thỏa và không mất lòng ai thì đất của người nào được cấp giấy để cho người đó được tiếp tục sử dụng. Tức ông không đồng ý mở lối đi trên đất của ông như yêu cầu của bà O. Trường hợp Tòa án chấp nhận yêu cầu mở lối đi của bà O thì ông không có ý kiến gì về việc có yêu cầu bồi thường giá trị đất hay không. Ông yêu cầu Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Người đại diện theo ủy quyền của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Bùi Phước S (là bà Trần Hoàng O và ông Đặng Tấn L) có lời trình bày thống nhất với lời trình bày của bà O.

Tại bản án số 169/2023/DS-ST ngày 30/10/2023 của TAND huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh đã quyết định:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện bà Trần Hoàng O đối với ông Trần Trung N và bà Nguyễn Thị Hồng N1.
  2. Buộc ông Trần Trung N và bà Nguyễn Thị Hồng N1 có nghĩa vụ mở lối đi có diện tích 138,1 m², bao gồm:

    Diện tích 33,7 m². Tứ cận: Đông giáp đường 782 dài 1,48 mét, Tây giáp thửa đất số 298 dài 1,52 mét, Nam giáp thửa đất số 114 dài (6,57 mét + 4,59 mét + 6,39 mét + 5,09 mét) 22,64 mét, Bắc giáp thửa đất số 298 dài (6,66 mét + 15,81 mét) 22,47 mét;

    Diện tích 104,4 m². Tứ cận: Đông giáp thửa 298 dài 1,52 mét, Tây giáp thửa đất số 585 dài 1,01 mét, Nam giáp thửa đất số 114 dài 84 mét, Bắc giáp thửa đất số 298 dài (57,15 mét + 21,12 mét + 6,26 mét) 84,53 mét.

    Thuộc 01 phần thửa đất số 298, tờ bản đồ số 07, có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do ông Trần Trung N đứng tên, được Ủy ban nhân dân huyện G cấp ngày 24-8-2017, số CS 03096.

  3. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện bà Trần Hoàng O đối với ông Trần Văn T1.
  4. Buộc ông Trần Văn T1 có nghĩa vụ mở lối đi có diện tích 25,5 m², bao gồm:

    Diện tích 24,7 m². Tứ cận: Đông giáp thửa đất số 298 dài 0,18 mét, Tây giáp thửa đất số 585 dài 0,48 mét, Nam giáp thửa đất số 114 dài (64,27 mét + 4,60 mét + 15,07 mét) 83,94 mét, Bắc giáp thửa đất số 298 dài 84 mét.

    Diện tích 0,8 m². Tứ cận: Đông = 00 mét; Tây giáp thửa đất số 298 dài 0,18 mét, Nam giáp thửa đất số 114 dài 9,74 mét, Bắc giáp thửa đất số 298 dài (5,09 mét + 4,59 mét) 9,68 mét.

    Thuộc 01 phần thửa đất số 114, tờ bản đồ số 07, có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do ông Trần Văn T1 đứng tên, được Ủy ban nhân dân huyện G cấp ngày 01-11-1999, số 01997/QSDĐ/346/QĐ-UB(H).

    Kiến nghị Ủy ban nhân dân huyện GSở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T thu hồi các diện tích đất tại các Mục 1 và Mục 2 phần quyết định đã tuyên khi bản án có hiệu lực pháp luật.

  5. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Hoàng O về việc yêu cầu ông Trần Trung N và bà Nguyễn Thị Hồng N1 có nghĩa vụ tháo dỡ mái che trên không gian lối đi có diện tích 23,6 m².
  6. Không chấp nhận yêu cầu phản tố của ông Trần Trung N và bà Nguyễn Thị Hồng N1 về việc yêu cầu hủy bản cam kết ghi ngày 15-9-2006.
  7. Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của bà Trần Hoàng O đối với diện tích 11,9 m² (trên tổng diện tích 150 m² theo đơn khởi kiện) đối với yêu cầu mở lối đi tại phần đất như Mục 1 của phần quyết định đã nêu.
  8. Tiếp tục duy trì Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời số 06/2022/QĐ-BPKCTT ngày 12-12-2022 của Tòa án nhân dân huyện Gò Dầu cho đến khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Ngoài ra bản án còn tuyên về chi phí tố tụng, án phí sơ thẩm và quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định của pháp luật.

Ngày 08/11/2023 bà Trần Hoàng O kháng cáo đề nghị ông N, bà N1 tháo dỡ mái che trên không gian lối đi chung để cho lối đi thông thoáng.

Ngày 01/11/2023 ông Trần Trung N, bà Nguyễn Thị Hồng N1 kháng cáo không đồng ý mở lối đi cho bà O. Hủy Hợp đồng với tên gọi Tờ cam kết đề ngày 15/9/2006 giữa ông N với bà T2, ông L1.

Tại phiên toà phúc thẩm:

Nguyên đơn rút yêu cầu kháng cáo về việc tháo dỡ mái che trên không gian lối đi chung để cho lối đi thống thoáng.

Bị đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh:

Về tố tụng: Thẩm phán thụ lý vụ án, chuẩn bị xét xử và quyết định đưa vụ án ra xét xử đều đảm bảo đúng quy định về thời hạn, nội dung, thẩm quyền của Bộ luật Tố tụng dân sự; Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa thực hiện đúng trình tự, thủ tục đối với phiên tòa dân sự. Những người tham gia tố tụng đều thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình, chấp hành tốt nội quy phiên tòa;

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử đình chỉ đối với yêu cầu kháng cáo của bà Trần Hoàng O. Chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn, sửa bản án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, tính án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Bà Đặng Thị Thu T2 và ông Trần Văn T1 có đơn xin vắng mặt, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt đương sự là phù hợp với khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Xét yêu cầu kháng cáo của ông Trần Trung N, bà Nguyễn Thị Hồng N1 thấy rằng:

Phần lối đi tranh chấp có diện tích 170,6 m². Trong đó, diện tích 33,6 m² + 104,6 m² = 138,1 m² thuộc 01 phần thửa số 298. Diện tích 24,7 m² + 0,8 m² = 25,5 m², thuộc 01 phần thửa 114 và diện tích 7,0 m² thuộc đường giao thông, thuộc tờ bản đồ số 07 (BĐ 2005), tọa lạc tại ấp P, xã P, huyện G, tỉnh Tây Ninh.

Thửa đất số 298 có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do ông Trần Trung N đứng tên, được Ủy ban nhân dân huyện G cấp ngày 24-8-2017, số CS 03096, diện tích được cấp là 3.934 m².

Thửa đất số 114 có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do ông Trần Văn T1 đứng tên, được UBND huyện G cấp ngày 01-11-1999, số 01997/QSDĐ/346/QĐ-UB(H), diện tích được cấp 32.636,8 m².

Tại thời điểm xem xét thẩm định tại chỗ, lối đi là đất trống có thể đi lại được, 02 bên lối đi đã được xây bờ gạch để xác định ranh giữa vị trí lối đi với các ranh đất liền kề. Các ranh đất liền kề với lối đi đã được xây nhà kiên cố và làm hàng rào. Lối đi được đổ đá mi. Trên không gian lối đi có 01 mái che có diện tích 23,6 m² do vợ chồng ông N xây dựng (là mái che của căn nhà ngói).

Đất có giá thực tế là: 9.800.000 đồng/m². Theo đó, quyền sử dụng đất của ông N nằm trong diện tích lối đi là 138,1 m² x 9.800.000 đồng/m²=1.353.380.000 đồng. Quyền sử dụng đất của ông T1 nằm trong diện tích lối đi là 25,5 m² x 9.800.000 đồng/m²=249.000.000 đồng.

Mái che trên không gian lối đi (gắn liền với phía bên hông nhà ông N) không định giá được vì gắn liền với kết cấu căn nhà.

[3] Xét yêu cầu kháng cáo của ông N, bà N1 thấy rằng:

[3.1] Nguồn gốc phần đất tranh chấp là của ông Trần Văn H cho ông N. Ngày 24/2/2004 ông H chết, đến ngày 06/5/2004 bà Hồ Thị D cùng 09 người con là Trần Văn Đ, Trần Văn H1, Trần Văn D1, Trần Văn L3, Trần Văn L4, Trần Thị H2, Trần Thị H3, Trần Thị T3, Trần Thị P có văn bản giao lại phần diện tích đất 9.280 m² ông Trần Trung N quản lý sử dụng (bản trích lục bản đồ ngày 2/7/2004 gồm các thửa 1720, 1711, 1712, 1717, 1718, 972, 975 diện tích 9.280 m²). Ngày 02/7/2004 ông N có đơn xin đăng ký QSDĐ diện tích 9.280 m² gồm các thửa trên. Ông N được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 12/8/2004 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ cấp giấy chứng nhận số: 03003QSDD/327/2004/QĐ-CT, diện tích 9.280 m², phần diện tích tranh chấp là thửa 972, 975.

Ngày 10/7/2009 ông N có đơn cấp đổi lại giấy chứng nhận QSDĐ thửa 1720, 1711, 1712, 1717, 1718 diệt tích 5.260 m² sang thửa 297 diện tích 5.963 m²; thửa 972, 975 diện tích 4.110 m² sang thửa 298 diện tích 3.934 m². Ngày 21/10/2009 ông N được cấp 02 giấy chứng nhận QSDĐ 02 thửa đất 297 và 298.

Ngày 11/8/2017 ông N có đơn cấp đổi lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa 298, tờ bản đồ 7 diện tích 3.934 m² theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS03096 ngày 24/8/2017.

Như vậy từ diện tích đất ông Trần Văn H được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, chuyển sang cho ông Trần Trung N, ông N chỉnh lý biến động nhiều

lần, mỗi lần biến động điều đo vẽ xác định bản trích đo, thể hiện ranh giáp đất giữa ông N và ông T1 không có lối đi chung.

[3.2] Phần đất có diện tích 3.772,4m² thuộc thửa đất số 585, tờ bản đồ 7, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do bà Đặng Thị Thu T2 đứng tên, do Sở Tài nguyên và M trướng tỉnh Tây Ninh cấp ngày 22/3/2019, được điều chỉnh biến động ngày 03/11/2022 (trang 4) chuyển quyền sang cho ông Bùi Phước S và bà Trần Hoàng O đứng tên.

Theo biên bản xác minh ngày 19/9/2023 của UBND xã P, huyện G, tỉnh Tây Ninh thể hiện phần đất diện tích 3.934 m² theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS03096 ngày 24/8/2017, theo bản đồ 299 và bản đồ 2005 thửa đất có hướng Đông giáp đường nhựa 782. Phần đất diện tích 3.772,4m² thuộc thửa đất số 585, tờ bản đồ 7 theo bản đồ 2005 thửa đất có lối đi giáp hướng Tây của phần đất.

Theo như trích lục bản đồ địa chính (BL 129) trong hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh T – chi nhánh huyện G cung cấp, xác minh qua ông Nguyễn Thành L5 – Trưởng ấp P, xã P, huyện G, tỉnh Tây Ninh, ngày 12/12/2020, lấy lời khai của Nguyễn Bình T4, Nguyễn Thị N2 và bà T2, bà O cũng thừa nhận, phần đất hiện bà O, ông S đang quản lý, sử dụng có tiếp giáp với 01 đường đất để đi ra đường P, P (Cầu Ô).

Tại Công văn số 923/UBND-NC ngày 10/5/2024 của UBND huyện G thể hiện “phần đất diện tích: 3.772,4m², thuộc thửa đất số 585, tờ bản đồ số 7, đất tọa lạc tại ấp P, xã P, huyện G theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS 05516 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T cấp ngày 22/3/2019 cho bà Đặng Thị T2. Hồ sơ địa chính thể hiện hướng Tây thửa số 585, tờ bản đồ số 7 tiếp giáp đường đất là đường đi công cộng. Ngày 03/11/2022, Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh T – Chi nhánh huyện G đã thực hiện đăng ký biến động quyền sử dụng đất từ bà Đặng Thị T2 chuyển nhượng lại cho ông Bùi Phước S, sinh năm 1987 và bà Trần Hoàng O, sinh năm 1992”. Như vậy phần đất của bà O hướng Tây tiếp giáp đường đất là đường đi công cộng.

[3.3] Năm 2006 ông L1 về cất nhà ở trên đất giữa ông N với ông L1 xảy ra tranh chấp nên ngày 15/9/2006, ông N và bà N1 có lập tờ cam kết với nội dung “Ông N để cho anh L1 cùng vợ Đặng Thị Thu T2 một đường xe 1,5m x 100m (hết khung rào), ngược lại anh L1 phải chừa cho tôi mương nước để thoát nước, với điều kiện anh L1 không được bán đường xe cho người ngoài, thời

gian cho đường xe và mương nước là không thời hạn”, mục đích của việc ông N, bà N1 viết tờ cam kết là cam kết chừa cho bà T2, ông L1 một phần đất để đi ra đường công cộng. Tuy nhiên, ngày 10/3/2016 ông L1 chết, ngày 25/10/2022, bà T2 đã chuyển nhượng phần đất của bà T2 và ông L1 cho bà O, ông S; bà O và ông S cũng đã đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và quản lý, sử dụng đất, hiện bà T2 cũng không sử dụng phần đất tranh chấp nêu trên làm lối đi. Bà T2 đã vi phạm cam kết “Với điều kiện anh L1 không được bán đường xe cho người ngoài” tại biên bản bàn giao nhà và đất, tài sản khác trên đất của bà T2 cho bà O, bà T2 đã bàn giao luôn lối đi có diện tích 1,5m x100m kết nối đường DT782 khi chưa có sự đồng ý của ông N, bà N1 là ảnh hưởng đến quyền lợi của ông N, bà N1.

Mặc khác, bà T2 thừa nhận (tại bút lục số 198) khi sử dụng lối đi năm 2006, trước khi vợ chồng bà T2 xây gạch ống 02 bên lối đi, đổ đá mi trên phần đất tranh chấp để nâng cấp lối đi cũng đã có hỏi ý kiến ông N, bà N1 chứng tỏ phần đất tranh chấp này vẫn do ông N, bà N1 quản lý sử dụng.

[3.4] Từ những phân tích trên cho thấy việc thỏa thuận giữa ông N với ông L1 là có điều kiện, ông N chỉ cho gia đình ông L1 đi qua phần đất tranh chấp, ông L1 không được bán đường xe cho người ngoài, nay ông L1 chết bà T2 chuyển nhượng phần đất và chuyển nhượng luôn lối đi cho bà O, khi phần diện tích lối đi nằm trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp cho ông Nghĩa là vi phạm cam kết giữa ông N với ông L1, mặc khác bà O, ông S vẫn có lối đi ra đường công cộng, vì vậy yêu cầu khởi kiện của bà O không có cơ sở chấp nhận theo quy định tại Điều 254 Bộ luật dân sự 2015.

[3.5] Xét yêu cầu hủy tờ cam kết đề ngày 15/9/2006 thấy rằng: các đương sự đều thừa nhận ông L1, bà T2 và ông N, bà N1 có viết tờ cam kết với nội dung như trên, (giai đoạn phúc thẩm bà O đã cung cấp bản chính Tờ cam kết) khi viết tờ cam kết, ông L1 vẫn còn sống và ông L1, bà T2 là người trực tiếp và có nhu cầu sử dụng phần đất tranh chấp do ông N đứng tên để làm lối đi. Tuy nhiên hiện nay ông L1 đã chết, bà T2 cũng không còn sử dụng phần đất này làm lối đi. Mặc khác ông N, bà N1 cũng đã tự đào hầm để thoát nước, không cần đường thoát nước bên

đất bà T2 (hiện là đất của bà O). Vì vậy việc ông N yêu cầu hủy bỏ Tờ cam kết là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều 372 BLDS 2015.

Đối với yêu cầu khởi kiện của bà O đối với ông T4, tại cấp sơ thẩm ông T4 không đồng ý yêu cầu khởi kiện của bà O và có yêu cầu đề nghị xét xử theo quy định của pháp luật, mặc dù ông T4 không kháng cáo, nhưng do yêu cầu khởi kiện của bà O, ông S đối với ông N, bà N1 không được chấp nhận, phần diện tích lối đi của ông T4 có diện tích nhỏ 25,5m², nên yêu cầu của bà O đối với ông T4 cũng không được chấp nhận.

[4] Xét yêu cầu kháng cáo của bà O buộc ông N, bà N1 tháo dỡ mái che thấy rằng:

Tại phiên tòa bà O rút toàn bộ yêu cầu kháng cáo, Hội đồng xét xử xét thấy việc rút yêu cầu kháng cáo của bà O là tự nguyện, không bị ép buộc nên Hội đồng xét xử đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với yêu cầu kháng cáo của bà O.

[5] Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử xét thấy có căn cứ chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông N, bà N1. Đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh là có căn cứ chấp nhận.

Do yêu cầu của bà O, ông S không được chấp nhận nên bà O, ông S phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 1.200.000 đồng và chi phí tố tụng là 26.300.000 đồng.

Do yêu cầu kháng cáo được chấp nhận nên ông N, bà N1 không phải chịu án phí phúc thẩm.

O phải chịu án phí phúc thẩm là 300.000 đồng.

O phải chịu 2.000.000 đồng (hai triệu đồng) tiền chi phí xem xét thẩm định tại chỗ ở giai đoạn phúc thẩm. Do ông N, bà N1 đã tạm nộp nên bà O, ông S hoàn trả cho ông N, bà N1 2.000.000 đồng.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 2, 5 Điều 308, Điều 309 Bộ luật Tố tụng dân sự;

  • - Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với yêu cầu kháng cáo của bà Trần Hoàng O.
  • - Chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Trần Trung N, bà Nguyễn Thị Hồng N1.

Sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 169/2023/DS-ST ngày 30 tháng 10 năm 2023, của Toà án nhân dân huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh.

Căn cứ vào các điều 92, 95, 101, 111, 112, 127, 147, 217, 218 và 219 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 688 của Bộ luật Dân sự 2005, các điều 117, 122, 254, 372 của Bộ luật Dân sự năm 2015; các điều 1 và 2 Luật của Đất đai năm 1993; Điều 50 của Luật Đất đai năm 2003; các điều 95, 100, 171 và 202 của Luật Đất đai năm 2013; Điều 26 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án:

  1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Hoàng O đối với ông Trần Trung N và bà Nguyễn Thị Hồng N1 về việc tranh chấp lối đi.
  2. Đối với lối đi có diện tích 138,1 m², bao gồm:

    Diện tích 33,7 m². Tứ cận: Đông giáp đường 782 dài 1,48 mét, Tây giáp thửa đất số 298 dài 1,52 mét, Nam giáp thửa đất số 114 dài (6,57 mét + 4,59 mét + 6,39 mét + 5,09 mét) 22,64 mét, Bắc giáp thửa đất số 298 dài (6,66 mét + 15,81 mét) 22,47 mét;

    Diện tích 104,4 m². Tứ cận: Đông giáp thửa 298 dài 1,52 mét, Tây giáp thửa đất số 585 dài 1,01 mét, Nam giáp thửa đất số 114 dài 84 mét, Bắc giáp thửa đất số 298 dài (57,15 mét + 21,12 mét + 6,26 mét) 84,53 mét.

    Thuộc 01 phần thửa đất số 298, tờ bản đồ số 07, có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do ông Trần Trung N đứng tên, được Ủy ban nhân dân huyện G cấp ngày 24-8-2017, số CS 03096.

  3. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Hoàng O đối với ông Trần Văn T1 về việc tranh chấp lối đi. Đối với diện tích 25,5 m², bao gồm:
  4. Diện tích 24,7 m². Tứ cận: Đông giáp thửa đất số 298 dài 0,18 mét, Tây giáp thửa đất số 585 dài 0,48 mét, Nam giáp thửa đất số 114 dài (64,27 mét + 4,60 mét + 15,07 mét) 83,94 mét, Bắc giáp thửa đất số 298 dài 84 mét.

    Diện tích 0,8 m². Tứ cận: Đông = 00 mét; Tây giáp thửa đất số 298 dài 0,18 mét, Nam giáp thửa đất số 114 dài 9,74 mét, Bắc giáp thửa đất số 298 dài (5,09 mét + 4,59 mét) 9,68 mét.

    Thuộc 01 phần thửa đất số 114, tờ bản đồ số 07, có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do ông Trần Văn T1 đứng tên, được Ủy ban nhân dân huyện G cấp ngày 01-11-1999, số 01997/QSDĐ/346/QĐ-UB(H).

  5. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Hoàng O về việc yêu cầu ông Trần Trung N và bà Nguyễn Thị Hồng N1 có nghĩa vụ tháo dỡ mái che trên không gian lối đi có diện tích 23,6 m².
  6. Chấp nhận yêu cầu phản tố của ông Trần Trung N và bà Nguyễn Thị Hồng N1 về việc yêu cầu hủy Tờ cam kết ghi ngày 15-9-2006.
  7. Hủy Tờ cam kết ngày 15-9-2006 giữa ông Trần Trung N, bà Nguyễn Thị Hồng N1 với ông Trần Văn L1.

  8. Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của bà Trần Hoàng O đối với diện 11,9m² (trên tổng diện tích 150 m² theo đơn khởi kiện) đối với yêu cầu mở lối đi tại phần đất như Mục 1 của phần quyết định đã nêu.
  9. Về án phí dân sự sơ thẩm:
  10. Buộc bà Trần Hoàng O phải chịu 1.200.000 đồng. Ghi nhận bà O đã nộp 600.000 đồng tiền tạm ứng án phí theo các biên lai thu gồm: biên lai thu số 024995 ngày 08-12-2022 số tiền 300.000 đồng và biên lai thu số 0025570 ngày 06-6-2023 số tiền 300.000 đồng nên được khấu trừ. Bà O còn phải nộp 600.000 đồng (sáu trăm nghìn đồng).

    Hoàn trả cho ông N và bà N1 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0025146 ngày 03-02-2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Gò Dầu tỉnh Tây Ninh.

  11. Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản tranh chấp: Buộc bà O, ông S phải chịu 26.300.000 đồng, ghi nhận đã nộp và chi phí xong.
  12. O, ông S hoàn trả cho ông N, bà N1 2.000.000 đồng chi phí xem xét thẩm định tại chỗ giai đoạn phúc thẩm.

  13. Kể từ ngày bản án này có hiệu lực pháp luật thì Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời số 06/2022/QĐ-BPKCTT ngày 12-12-2022 của Tòa án nhân dân huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh trong quá trình giải quyết vụ án bị hủy bỏ.
  14. Về án phí dân sự phúc thẩm:
  15. Trần Hoàng O phải chịu 300.000 đồng, khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí bà O đã nộp 300.000 đồng theo biên lai thu số: 0013321 ngày 13/11/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh, ghi nhận bà O đã nộp xong.

    Hoàn trả ông Trần Trung N, bà Nguyễn Thị Hồng N1 300.000 đồng, tiền tạm ứng án phí ông N, bà N1 đã nộp 300.000 đồng theo biên lai thu số: 0013303 ngày 09/11/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh.

    Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

    Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Tây Ninh;
  • - Phòng KTNV.TAT;
  • - TAND huyện Gò Dầu;
  • - CCTHADS huyện Gò Dầu;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu hồ sơ vụ án;
  • - Lưu tập án; Lưu VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đã ký

Dương Thúy Hằng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 230/2024/DS-PT ngày 23/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH về tranh chấp lối đi; yêu cầu hủy bản cam kết

  • Số bản án: 230/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp lối đi; Yêu cầu hủy bản cam kết
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 23/05/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: “Tranh chấp lối đi và Yêu cầu hủy bản cam kết”.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger