|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÔNG MÃ TỈNH SƠN LA |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc Lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 230/2024/HS - ST Ngày 22 - 8 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÔNG MÃ, TỈNH SƠN LA
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Hoàng Thị Nhung.
Các hội thẩm nhân dân: Ông Trần Thành Vân, Bà Lò Thị Thành.
- Thư ký phiên toà: Ông Trần Quốc Huy - Thư ký Toà án nhân dân huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La tham gia phiên toà: Ông Quàng Văn Cuộc - Kiểm sát viên
Ngày 22 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Sông Mã xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 222/2024/HSST ngày 25 tháng 6 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 233/2024/QĐXXST - HS ngày 08 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Lò Văn L - Sinh năm 1992; Nơi cư trú: Bản P, xã B, huyện T, tỉnh Sơn La; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Chức vụ đoàn thể, đảng phái: Không; Con ông Lò Văn T1 (đã chết) và con bà Lò Thị T2; Bị cáo chưa có vợ, con; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 28/3/2024, chuyển tạm giam từ ngày 03/4/2024 cho đến nay có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 07 giờ 10 phút, ngày 28/3/2024 tổ công tác Công an thị trấn S làm nhiệm vụ phòng, chống ma túy tại bản G, xã N, huyện S phát hiện Lò Văn L có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Thu giữ từ trong túi quần bên trái đang mặc của L một gói nilon bên trong có chứa chất bột màu hồng (L khai nhận là hồng phiến) tàng trữ nhằm mục đích để sử dụng. Tổ công tác lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và niêm phong vật chứng theo quy định.
Cùng ngày, tại Cơ quan CSĐT Công an huyện Sông Mã đã tiến hành mở niêm phong, cân tịnh xác định khối lượng vật chứng và trích mẫu giám định vật chứng nghi là ma túy thu giữ của L, kết quả: Số chất bột màu hồng thu giữ của L có khối lượng 0,11 gam, đã sử dụng hết làm mẫu giám định ký hiệu T.
Kết luận giám định số 800/KL-KTHS ngày 01/4/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La kết luận:
“Mẫu ký hiệu T gửi giám định là ma túy; Loại Methamphetamine; Khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,11 gam.
Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 0,11 gam, loại Methamphetamine”.
Quá trình điều tra bị cáo Lò Văn L khai nhận: Khoảng 06 giờ, ngày 28/3/2024 khi L đang đi bộ gần khu vực lán nghỉ dành cho công nhân xây dựng công trình sân vận động huyện S ở bản T2, xã N, S thì gặp một người đàn ông dân tộc Thái không biết tên, tuổi, địa chỉ đang dừng xe ven đường. L đến gần người này và hỏi mua được một gói Hồng phiến dạng bột với giá 150.000đ. Mua được ma túy L cất vào trong túi quần phía trước bên trái đang mặc. Đến khoảng 07 giờ 00 phút cùng ngày, khi L đang đi bộ tại công trường xây dựng thì bị tổ công tác của Công an thị trấn Sông Mã làm nhiệm vụ phát hiện bắt quả tang và thu giữ, niêm phong vật chứng như đã nêu trên.
Do có hành vi nêu trên tại bản Cáo trạng số 167/CT-VKSSM ngày 25 tháng 6 năm 2024 Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã đã truy tố ra trước Toà án nhân dân huyện Sông Mã để xét xử Lò Văn L về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý.
Tại phiên toà kiểm sát viên giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Lò Văn L từ 01 năm 02 tháng – 01 năm 06 tháng tù, không áp dụng hình phạt bổ sung. Xử lý vật chứng: tịch thu tiêu hủy 01 mảnh nilon, 01 phong bì thư niêm phong ban đầu đã bóc mở. Miễn án phí hình sự sơ thẩm và tuyên quyền kháng cáo cho bị cáo.
Tại phiên tòa bị cáo nhất trí với nội dung bản cáo trạng; thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và khi được nói lời sau cùng bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt, xin được miễn án phí.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định của cơ quan, người tiến hành tố tụng: Cơ quan Cảnh sát điều tra công an huyện Sông Mã, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do vậy các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về các chứng cứ xác định tội danh: Hành vi phạm tội của bị cáo được chứng minh bằng các căn cứ sau:
- - Biên bản bắt người phạm tội quả tang lập vào hồi 07 giờ 15 phút, ngày 28/3/2024 đối với Lò Văn L cùng vật chứng bị thu giữ là 01 gói lilon bên trong có chứa chất bột màu hồng. Kết luận giám định số 800/KL-KTHS ngày 01/4/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La, kết luận là ma túy: “... Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 0,11 gam, loại Methamphetamine".
- - Lời khai nhận tội của bị cáo về thời gian địa điểm, diễn biến của hành vi phạm tội tại phiên tòa phù hợp với các lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Bị cáo không có thay đổi, bổ sung gì về lời khai làm thay đổi nội dung vụ án và khẳng định việc khai báo tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa là hoàn toàn tự nguyện và đúng với sự việc đã thực hiện.
Từ những căn cứ nêu trên Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Ngày 28/3/2024 khi bị cáo đang có hành vi tàng trữ 0,11 gam ma túy loại Methamphetamine mục đích để sử dụng thì bị phát hiện bắt giữ. Hành vi bị cáo thực hiện đã phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự, có mức hình phạt từ “01 năm đến 05 năm tù”.
Như vậy, nội dung truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã đối với bị cáo là có căn cứ và đúng quy định của pháp luật
[3] Các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị cáo:
Tại phiên toà và tại cơ quan điều tra bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[4] Về tính chất của vụ án, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội:
Hành vi phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp nghiêm trọng, bị cáo nhận thức được việc tàng trữ chất ma tuý là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố tình thực hiện tội phạm để thỏa mãn cơn nghiện ma túy của bản thân, hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm chế độ độc quyền quản lý các chất ma tuý của Nhà nước, xâm phạm trật tự an toàn xã hội, làm ảnh hưởng đến trật tự trị an ở địa phương, là mầm mống phát sinh các loại tội phạm khác, gây bức xúc trong xã hội.
Vì vậy, cần có một mức án tương xứng với tính chất và mức độ của hành vi phạm tội trên cơ sở cân nhắc các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân và khối lượng ma túy bị cáo thực hiện hành vi phạm tội để đưa ra một mức án phù hợp nhất, nhằm giáo dục bị cáo thành người có ích cho xã hội, có ý thức tuân theo pháp luật, đảm bảo biện pháp răn đe, phòng ngừa chung, góp phần thực hiện nhiệm vụ đấu tranh phòng chống tệ nạn ma tuý tại địa phương.
[5] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có tài sản gì có giá trị nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[6] Về vật chứng vụ án: Số ma túy đã sử dụng làm mẫu gửi giám định hết, còn lại 01 mảnh nilon và 01 phong bì thư niêm phong vật chứng ban đầu đã bóc mở là những vật không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.
[7] Về các vấn đề khác có liên quan trong vụ án: Về người đàn ông bị cáo khai là người đã bán ma túy, bị cáo khai không biết rõ tên, địa chỉ cụ thể nên CQCSĐT không mở rộng điều tra vụ án là có căn cứ chấp nhận.
[8] Về án phí: Bị cáo là người đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống tại xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn và đã xin miễn án phí nên được miễn án phí hình sự sơ thẩm theo quy định chung.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về điều luật áp dụng, tội danh và hình phạt:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự tuyên bố bị cáo Lò Văn L phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
Xử phạt bị cáo Lò Văn L 01 năm 01 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 28/3/2024.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
2. Về vật chứng vụ án: Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự:
Tịch thu tiêu hủy: 01 mảnh nilon và 01 phong bì thư niêm phong vật chứng ban đầu đã bóc mở. Tất cả được đựng trong 01 phong bì đã dán kín, niêm phong đúng quy định, mặt sau phong bì trên giấy niêm phong có mã số 080392.
Theo Quyết định chuyển vật chứng số 158/QĐ – VKS ngày 25/6/2024 của VKSND huyện Sông Mã và theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 28/6/2024 giữa Công an và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sông Mã.
4. Về án phí: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội:
Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 22/8/2024).
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Thị Nhung |
Bản án số 230/2024/HS - ST ngày 22/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÔNG MÃ, TỈNH SƠN LA về tàng trữ trái phép chất ma tuý
- Số bản án: 230/2024/HS - ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma tuý
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 22/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÔNG MÃ, TỈNH SƠN LA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị bắt quả tang khi đang có hành vi tàng trữ trái phép ma túy để sử dụng
