|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỐNG ĐA THÀNH PHỐ HÀ NỘI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 230/2024/HS-ST
Ngày: 22/7/2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỐNG ĐA - THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Vương Thùy Dương
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Lan Hương
Bà Dương Tú Anh
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thu Hương – Thư ký Tòa án nhân dân quận Đống Đa, Thành phố Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa, Thành phố Hà Nội tham gia phiên toà: Bà Lương Thúy Hà – Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 7 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận Đống Đa, Thành phố Hà Nội xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 200/2024/TLST-HS ngày 28 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 212/2024/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo:
1. TRẦN TUẤN H, sinh ngày: 15/3/1998; giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; Nơi ĐKHKTT: thôn Đ, xã H, huyện T, tỉnh Hải Dương. Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ văn hóa: 10/12; Con ông: Trần Công H, sinh năm 1966; Con bà: Vũ Thị M, sinh năm 1971. Gia đình có 03 con, bị cáo là con út. Danh chỉ bản số 247 lập ngày 27/3/2024 tại Công an quận Đ, thành phố Hà Nội. Tiền án, tiền sự: Không. Bị bắt ngày 17/3/2024. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 1 - Công an thành phố H. Có mặt tại phiên tòa.
2. TRẦN THANH P, sinh ngày 02/11/2002; giới tính: Nam, Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; Quê quán: K, K, Hà Tĩnh; Nơi ĐKHKTT: Tổ dân phố E, thị trấn T, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh. Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ văn hóa: 9/12; Con ông: Trần Công C, sinh năm 1972; con bà Hồ Thị N, sinh năm 1974. Gia đình có 02 con, bị cáo là con út. D chỉ bản số 246 lập ngày 27/3/2024 tại Công an quận Đ, thành phố Hà Nội. Tiền án, tiền sự: Không. Bị bắt ngày 17/3/2024. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 1 – Công an thành phố H. Có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 22 giờ 20 phút ngày 16/3/2024, tại khách sạn B (Địa chỉ: Số A, ngõ A Xã Đ, phường P, quận Đ, thành phố Hà Nội), Công an phường P tiến hành kiểm tra hành chính, phát hiện tại sảnh chờ tầng 1 của khách sạn có 02 người đang ngồi chờ là Trần Tuấn H và An Thị Thu H1 (sinh năm 2000; trú tại P, xã N, huyện N, tỉnh Hải Dương - là bạn gái của H) cùng 01 nhân viên tại quầy lễ tân là Trần Thanh P. Quá trình kiểm tra, Trần Tuấn H khai H đến khách sạn B để cùng sử dụng ma tuý với Trần Thanh P. Sau đó, P cũng đã thừa nhận sự việc trên và dẫn cơ quan Công an đến thu giữ trên giường trong phòng nghỉ của nhân viên khách sạn tại tầng 1 có 01 gói giấy màu trắng kích thước khoảng (04x04) cm bên trong có 02 viên nén màu xanh và 01 túi nilon màu trắng kích thước khoảng (02x02) cm chứa các khai nhận đó là ma tuý mà P mua về để cùng sử dụng với H. Cơ quan Công an đã tiến hành lập biên bản thu giữ, niêm phong tang vật và đưa H, P, H1 về trụ sở để làm rõ.
Ngoài ra, cơ quan công an còn thu giữ của Trần Tuấn H 01 điện thoại di động Iphone 13 Promax màu xanh; thu giữ của Trần Thanh P 01 điện thoại di động Iphone X màu trắng.
Tại Kết luận giám định số 2150/KL-KTHS ngày 26/3/2024 của Phòng K - Công an T kết luận: 01 gói giấy màu trắng bên trong có:
- + Tinh thể màu trắng bên trong 01 túi nilông là ma túy loại Ketamine, khối lượng: 1,230 gam.
- + 02 viên nén màu xanh đều là ma tuý loại MDMA, tổng khối lượng: 0,854 gam.
Tại cơ quan điều tra, Trần Tuấn H và Trần Thanh P đều khai nhận hành vi phạm tội của mình, cụ thể như sau: Do có nhu cầu sử dụng ma tuý, khoảng 20 giờ ngày 16/3/2024, H gọi điện thoại cho P rủ P cùng sử dụng tuý, P đồng ý. Do không biết chỗ mua ma tuý nên H bảo P ứng tiền rồi mua ma tuý luôn, tiền mua ma tuý sẽ chia đều cho cả hai, P đồng ý. Sau đó, P liên hệ với một người nam giới tên Q (là khách hàng đã từng nghỉ tại khách sạn B theo số điện thoại 0989.823.xxx. Sau đó, P nhắn tin thống nhất với H qua ứng dụng Zalo để mua 01 chỉ "ke" với giá 2.500.000 dòng và 02 viên "kẹo" loại 300.000 đồng/01 viên và 300.000 đồng tiền vận chuyển. P chuyển khoản số tiền 3.400.000 đồng đến tài khoản ngân hàng TMCP Q3 (M1) số 0989823363, chủ tài khoản "MAI NGỌC QUANG". Đến khoảng 22h00 cùng ngày, có 01 người nam giới (chưa xác định) điều khiển xe máy Honda Vision màu đen (P không nhớ biển kiểm soát xe) đến giao cho P 01 gói giấy ăn màu trắng kích thước khoảng (04x04) cm bên trong có 02 viên nén màu xanh là “kẹo” và 01 túi nilon màu trắng kích thước khoảng (02x02) cm chứa các tinh thể màu trắng là ma tuý “ke”. Sau đó P gọi điện báo cho H là đã lấy được ma tuý. H gọi điện cho H1 rủ H1 cùng đi khách sạn B để ngủ, H1 đồng ý nên H gọi xe taxi qua đón H1 rồi cùng đến khách sạn B. Khoảng 22H10 phút cùng ngày, H, H1 đến khách sạn B, trong lúc ngồi đợi P ở sảnh tầng 1 khách sạn thì bị cơ quan công an kiểm tra như đã nêu trên.
Đối với An Thị Thu H1, qua lời khai của H, H1 đều thống nhất H1 không tham gia, không biết việc H, P mua ma tuý. H1 chỉ được H rủ đến khách sạn B để ngủ cùng nhau, không đề cập hay biết gì về việc cùng sử dụng ma tuý. Do đó, cơ quan công an không xử lý hình sự đối với H1.
Đối với đối tượng tên Q là người bán ma tuý cho P, qua xác minh xác định chủ tài khoản ngân hàng M1 số 0989823363 và người sử dụng số thuê bao 0989823363 đều là Mai Ngoc Q1 (Sinh năm: 1995; Trú tại: Thôn B, xã N, huyện T, thành phố Hà Nội). Tại cơ quan điều tra, Q1 khai: Số điện thoại 0989.823.xxx là của Q1 sử dụng từ lâu nhưng không đăng ký tên chính chủ, còn số tài khoản ngân hàng là của Q1 đăng ký và sử dụng. Q1 không quen biết gì với Trần Thanh P. Về nguồn gốc số tiền mà P chuyển vào tài khoản của Q1, do đã lâu nên Q1 không nhớ rõ nội dung nhưng Q1 khẳng định không thực hiện bất kỳ việc gì liên quan đến mua bán trái phép chất ma tuý đối với Trần Thanh P. Tài khoản ngân hàng của Q1 hay được mọi người chuyển tiền vào nhờ rút hộ nên Q1 cũng không biết nguyên nhân tại sao P lại chuyển tiền cho Q1. Cơ quan điều tra đã tiến hành cho Mai Ngọc Q2 và Trần Thanh P đối chất tuy nhiên Q2 và P vẫn giữ nguyên lời khai, do đó, cơ quan điều tra không có căn cứ để xử lý hình sự đối với Mai Ngọc Q2.
Đối với số ma túy, 01 điện thoại di động Iphone X màu trắng thu giữ của Trần Thanh P; 01 điện thoại di động Iphone 13 Promax màu xanh thu giữ của Trần Tuấn H, Cơ quan điều tra đã chuyển Chi cục thi hành án dân sự quận Đống Đa để xử lý theo quy định của pháp luật.
Bản Cáo trạng số 208/CT-VKSĐĐ ngày 25/6/2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa truy tố Trần Tuấn Hưởng và Trần Thanh Phương về tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý" theo điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa: Bị cáo khai nhận hành vi phạm tội phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa sau khi phân tích, đánh giá tính chất mức độ hành vi phạm tội cũng như xem xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo vẫn giữ nguyên quan điểm như Cáo trạng truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249 điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt : Trần Tuấn H từ 26 tháng đến 30 tháng tù; Trần Thanh P từ 26 tháng đến 30 tháng tù; Miễn hình phạt bổ sung đối với các bị cáo. Tịch thu sung quỹ Nhà nước điện thoại là tang vật đã thu giữ của các bị cáo. Tịch thu tiêu huỷ số ma tuý đã thu giữ.
Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Đ, thành phố Hà Nội, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội và tội danh:
Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai của người làm chứng, Kết luận giám định số 2150/KL-KTHS ngày 26/3/2024, vật chứng đã thu giữ và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:
Khoảng 22 giờ 20 phút ngày 16/3/2024, tại phòng nghỉ tầng 1 khách sạn B (Địa chỉ: Số A, ngõ A Xã Đ, phường P, quận Đ, thành phố Hà Nội), Trần Tuấn H và Trần Thanh P đã có hành vi tàng trữ trái phép 1,230 gam ma túy Ketamine và 0,854 gam ma tuý MDMA mục đích để sử dụng cho bản thân thì bị Công an phường P kiểm tra, phát hiện, bắt giữ.
Hành vi của Trần Tuấn H và Trần Thanh P đã phạm vào vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa, thành phố Hà Nội truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.
[3] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội, khi phạm tội các bị cáo chưa có tiền án, tiền sự nên Hội đồng xét xử áp dụng điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
Bị cáo không có việc làm và thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
[5] Về nhân thân: Không có tiền án và tiền sự (như đã nêu ở trang 01)
[6] Về hình phạt: Hành vi của các bị cáo là rất nghiêm trọng, nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm chính sách độc quyền về quản lý các chất ma túy của Nhà nước, không những gây mất trật tự trị an xã hội, đồng thời là nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm khác, làm cho tệ nạn ma túy ngày càng gia tăng. Vì vậy, khối lượng ma túy do bị cáo tàng trữ tuy không lớn, nhưng thể hiện các bị cáo là người coi thường pháp luật nên cân xử phạt nghiêm, cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ tác dụng giáo dục và răn đe, phòng ngừa chung.
[7] Về vật chứng:
Tịch thu tiêu huỷ số ma túy đã thu giữ của các bị cáo; tịch thu sung công 01 điện thoại Iphone 13 Promax màu xanh và 01 điện thoại Iphone X màu trắng là tang vật trong vụ án.
[8] Các vấn đề khác:
Đối với đối tượng bán ma túy cho P, Cơ quan Điều tra không làm rõ để xử lý được, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Đối với An Thị Thu H1, qua lời khai của H, H1 đều thống nhất H1 không tham gia, không biết việc H, P mua ma tuý. H1 chỉ được H rủ đến khách sạn B để ngủ cùng nhau, không đề cập hay biết gì về việc cùng sử dụng ma tuý. Do đó, cơ quan công an không xử lý hình sự đối với H1.
[9] Về án phí và quyền kháng cáo:
Mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí án phí hình sự sơ thẩm.
Các bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 47 Bộ luật Hình sự;
Tuyên bố: Bị cáo Trần Tuấn H và Trần Thanh P phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Xử phạt:
- - Bị cáo Trần Tuấn H 22 (hai mươi hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 17 tháng 3 năm 2024.
- - Bị cáo Trần Thanh P 22 (hai mươi hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 17 tháng 3 năm 2024.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự;
- Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước :
- + 01 điện thoại Iphone 13 Promax màu xanh (bị vỡ ốp lưng, không mở khóa được Icloud, không kiểm tra chất lượng và nội dung bên trong).
- + 01 điện thoại Iphone X màu trắng (không mở khóa được Icloud, không kiểm tra chất lượng và nội dung bên trong).
- Tịch thu tiêu huỷ: 01 bao phong niêm phong có chữ ký của giám định viên Lê Khắc N1, chữ ký của cán bộ Nguyễn Ngọc Đ, chữ ký đối tượng Trần Thanh P, Trần Tuấn H, chữ ký người chứng kiến An Thị Thu H1 cùng hình dấu tròn theo đúng quy định.
(Theo Biên bản giao nhận vật chứng số 254 ngày 09/7/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Đống Đa).
3. Về án phí: Áp dụng Điều 135 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH4 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án
Mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự
Các bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vương Thùy Dương |
Bản án số 230/2024/HS-ST ngày 22/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỐNG ĐA - THÀNH PHỐ HÀ NỘI về hình sự sơ thẩm
- Số bản án: 230/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 22/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỐNG ĐA - THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 47 Bộ luật Hình sự; Tuyên bố: Bị cáo Trần Tuấn Hưởng và Trần Thanh Phương phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Xử phạt: - Bị cáo Trần Tuấn Hưởng 22 (hai mươi hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 17 tháng 3 năm 2024. - Bị cáo Trần Thanh Phương 22 (hai mươi hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 17 tháng 3 năm 2024. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
