|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 230/2025/DS-PT Ngày: 31/12/2025 V/v: “Tranh chấp kiện đòi tài sản” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH
Thành phần hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hương Giang.
Các thẩm phán: Ông Nguyễn Thanh Bình;
Bà Trần Thị Hà.
Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Văn Hoan - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Bắc Ninh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh: Bà Nguyễn Thị Việt Anh - Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Bắc Ninh xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 352/2025/TLPT - DS ngày 10/11/2025 về việc: “Tranh chấp kiện đòi tài sản”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số 05/2025/DS-ST ngày 22/7/2025 của Toà án nhân dân khu vực 8 – Bắc Ninh bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 156/2025/QĐ-PT ngày 04/12/2025, Quyết định hoãn phiên tòa số 134/2025/QĐ-PT ngày 19/12/2025 giữa:
* Nguyên đơn:
- Ông Nguyễn Bá C, sinh năm 1979 (Có đơn xin xét xử vắng mặt)
- Bà Hoàng Thị L, sinh năm 1980 (Có đơn xin xét xử vắng mặt)
- Cùng địa chỉ: Khu phố Q, phường Q, tỉnh Bắc Ninh.
* Bị đơn: Bà Phạm Thị H, sinh năm 1979 (Vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn P, phường Đ, tỉnh Bắc Ninh.
* Người đại diện theo ủy quyền của bà Phạm Thị H:
- Bà Nguyễn Thị Thanh L1, sinh năm 1975 (Có mặt)
- Địa chỉ: Khu phố C, phường Q, tỉnh Bắc Ninh.
- - Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1991 (Có mặt)
- Địa chỉ: Thôn Đ, xã N, thành phố Hà Nội.
Người kháng cáo: Bà Phạm Thị H là bị đơn trong vụ án.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyên đơn là ông Nguyễn Bá C trình bày:
Ông và bà Phạm Thị H, sinh năm 1979 ở thôn P, xã Đ, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh có quen biết nhau. Sau thời gian quen, bà H biết ông làm kinh doanh và có tiền nên đã hỏi mượn tiền của ông nhiều lần. Vì là chỗ quen biết, đồng thời bà H là bạn của bạn ông nên ông rất tin tưởng, ông đã chuyển khoản cho bà H mượn tiền nhiều lần. Lúc chuyển cho nhau vay mượn tiền hai bên không thỏa thuận lãi suất và thời gian thanh toán. Từ ngày 15/10/2024, ông đã chuyển khoản từ tài khoản số 2600205007131 của ông là Nguyễn Bá C đến số tài khoản 2609205142787 của bà Phạm Thị H (đều tại Ngân hàng N – A) các lần chuyển sau:
- Ngày 15/10/2024 ông chuyển khoản số tiền 10.000.000 đồng
- Ngày 21/10/2024, ông chuyển khoản số tiền 10.000.000 đồng.
- Ngày 04/11/2024, ông chuyển khoản số tiền 100.000.000 đồng;
- Ngày 11/12/2024, ông chuyển khoản số tiền 50.000.000 đồng;
- Ngày 19/12/2024 ông chuyển khoản số tiền 45.000.000 đồng;
- Ngày 20/01/2025, ông chuyển khoản số tiền 80.000.000 đồng;
- Ngày 17/02/2025, ông chuyển khoản số tiền 133.000.000 đồng;
Sau nhiều lần chuyển tiền cho bà H vay nhưng không thấy bà H nói đến việc trả lại thì ông đã dừng cho vay và đòi tiền bà H rất nhiều lần. Bà H cũng hẹn ông tới để trả tiền nhiều lần nhưng khi ông tới thì bà H lại không trả và khất nợ. Ngày 12/3/2025, bà H đã chuyển trả ông số tiền 20.000.000 đồng và có nhắn tin lại với nội dung “Tôi trả ông sau tôi trả lốt”, “Tổng cộng bao nhiêu tiền tôi gửi trả”.
Do bà H mượn tiền nhưng không có ý thức trả nên ông đề nghị Tòa án giải quyết buộc bà H phải có nghĩa vụ trả ông số tiền ông đã chuyển khoản cho bà H mượn số tiền là 428.000.000 đồng và xác nhận số tiền bà H đã chuyển khoản trả được 20.000.000 đồng còn lại 408.000.000 đồng (Bốn trăm linh tám triệu đồng).
Ngoài ra, ông không có yêu cầu nào khác.
Về án phí: Đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.
Nguyên đơn là bà Hoàng Thị L trình bày:
Bà biết bà H là bạn của chồng bà nên mỗi lần bà H hỏi mượn tiền ông C thì ông C đều nói với bà. Tính đến nay, ông C đã chuyển tiền cho bà H mượn số tiền là 428.000.000 đồng (Bốn trăm hai mươi tám triệu đồng). Sau này, do ông C đòi nhiều lần thì bà H đã chuyển khoản trả ông C được 20.000.000 đồng. Do bà H không có ý thức trả nên vợ chồng bà làm đơn khởi kiện để Tòa án giải quyết buộc bà H phải thanh toán trả vợ chồng bà số tiền nợ còn lại là 408.000.000 đồng (Bốn trăm linh tám triệu đồng).
Về án phí: Đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.
Bị đơn là bà Phạm Thị H và người đại diện theo ủy quyền của bị đơn trình bày:
Bị đơn (bà H) xác nhận việc ông Nguyễn Bá C đã nhiều lần chuyển tiền từ tài khoản số 2600205007131 của ông C đến tài khoản số 2609205142787 của bà H nhiều lần, cụ thể:
- Ngày 15/10/2024, ông Nguyễn Bá C chuyển cho bị đơn số tiền 10.000.000 đồng.
- Ngày 21/10/2024, ông Nguyễn Bá C chuyển khoản cho bị đơn số tiền 10.000.000 đồng.
- Ngày 04/11/2024, ông Nguyễn Bá C chuyển khoản cho bị đơn số tiền 100.000.000 đồng;
- Ngày 11/12/2024, ông Nguyễn Bá C chuyển khoản cho bị đơn số tiền 50.000.000 đồng;
- Ngày 19/12/2024, ông Nguyễn Bá C chuyển khoản cho bị đơn số tiền 45.000.000 đồng;
- Ngày 20/01/2025, ông Nguyễn Bá C chuyển khoản cho bị đơn số tiền 80.000.000 đồng;
- Ngày 17/02/2025, ông Nguyễn Bá C chuyển khoản cho bị đơn số tiền 133.000.000 đồng.
Tổng số tiền ông C đã chuyển khoản cho bà H như ông C trình bày là đúng. Ông C và bị đơn có quan hệ tình cảm và có thời gian chung sống với nhau như vợ chồng. Ông C thường ở nhà bị đơn, ăn ngủ tại đó và hai người đi du lịch cùng nhau nhiều lần. Mục đích ông C chuyển tiền cho bị đơn là để chi trả những chi phí chung trong sinh hoạt, mua sắm, đi chơi...; có nhiều khoản tiền bị đơn chi trả trước, sau đó ông C mới chuyển lại cho bị đơn. Trong nội dung chuyển khoản chỉ thể hiện “NGUYEN BA CHIEU chuyển tiền” mà hoàn toàn không có nội dung cụ thể nên không có cơ sở thể hiện bị đơn vay mượn tiền từ ông C. Bị đơn xác định không vay tiền của ông C và ông C cũng không bao giờ nói gửi tiền cho bị đơn giữ hộ. Bị đơn và bà L không quen biết, bị đơn không gặp bà L, không hỏi vay mượn tiền từ bà L và bà L cũng không chuyển tiền cho bị đơn. Ông C và bà L làm đơn khởi kiện đòi tiền bị đơn là không có cơ sở. Bị đơn không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Ngoài ra, trong thời gian quan hệ tình cảm với ông C, bị đơn cũng chuyển tiền từ tài khoản của bị đơn đến tài khoản của ông C để cho vay, cụ thể:
- Ngày 25/02/2025, bị đơn chuyển số tiền 500.000 đồng;
- Ngày 01/3/2025, bị đơn chuyển số tiền 3.000.000 đồng;
- Ngày 04/3/2025, bị đơn chuyển số tiền 30.000.000 đồng (nội dung ghi là Pham Thi Hien chuyen tien ban ghe).
- Ngày 04/3/2025, bị đơn chuyển số tiền 2.000.000 đồng;
- Ngày 05/3/2025 bị đơn chuyển số tiền 2.000.000 đồng;
- Ngày 06/3/2025, bị đơn chuyển số tiền 7.500.000 đồng;
- Ngày 10/3/2025, bị đơn chuyển số tiền 3.000.000 đồng;
- Ngày 12/3/2025, bị đơn chuyển khoản số tiền 20.000.000 đồng;
- Ngày 16/3/2025, bị đơn chuyển số tiền 8.000.000 đồng;
- Ngày 20/3/2025, bị đơn chuyển số tiền 1.000.000 đồng;
- Ngày 22/3/2025, bị đơn chuyển số tiền 2.000.000 đồng;
- Ngày 26/3/2025, bị đơn chuyển số tiền 1.500.000 đồng;
- Ngày 17/3/2025, bị đơn chuyển số tiền 200.000 đồng;
- Ngày 05/4/2025, bị đơn chuyển 1.000.000 đồng (nội dung ck: PHAM THI HIEN chuyen tien cho chieu vay di co)
- Ngày 06/4/2025, bị đơn chuyển 2.000.000 đồng (Nội dung ck: PHAM THI HIEN chuyen tien chieu vay choi bao)
- Ngày 10/4/2025, bị đơn chuyển 1.000.000 đồng (Nội dung ck: PHAM THI HIEN chuyen tien chieu vay 1 tr)
Ngoài ra, bị đơn còn chuyển vào tài khoản V số tiền 11.403.936 đồng để trả tiền sửa chữa, bảo dưỡng xe cho ông C.
Tổng số tiền bị đơn đã chuyển cho ông C là 96.103.936 đồng. Bị đơn có đơn phản tố yêu cầu ông C phải thanh toán số tiền là 96.103.936 đồng.
Tại phiên tòa sơ thẩm, bà Hoàng Thị L rút yêu cầu khởi kiện. Nguyên đơn là ông Nguyễn Bá C xác định số tiền ông chuyển cho bà H vay là 428.000.000 đồng. Ông xác nhận từ ngày 25/02/2025 đến ngày 10/4/2025, bà H đã chuyển vào tài khoản của ông số tiền 84.700.000 đồng và trong đó có khoản tiền 30.000.000 đồng là tiền bà H chuyển để ông trả tiền bàn ghế giúp bà H; 20.000.000 đồng là tiền bà H chuyển trả ông ngày 12/3/2025. Còn các mã chuyển khoản khác ông nhận từ bà H, nếu bà H đồng ý thì ông nhất trí đối trừ vào khoản bà H còn nợ. Phía bị đơn không đồng ý thì ông đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Đối với yêu cầu phản tố của bị đơn, ông xác định ông không vay tiền bà H nên ông không có trách nhiệm trả, song ông cũng đồng ý đối trừ một phần nghĩa vụ của bà H đối với ông.
Tại phiên tòa sơ thẩm, đại diện theo ủy quyền của bị đơn không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Do có nội dung trên, Bản án dân sự sơ thẩm số 05/2025/DS-ST ngày 22/7/2025 và Quyết định sửa chữa, bổ sung bản án số 05/2025/QĐ-SCBSBA ngày 06/8/2025 của Toà án nhân dân khu vực 8 – Bắc Ninh quyết định:
Áp dụng: khoản 2 Điều 26; Khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 147, Điều 220; Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 244, Điều 266, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Các Điều 163, 164, 166, 221 Bộ luật dân sự năm 2015. Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội. Xử:
- - Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của bà Hoàng Thị L.
- - Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Bá C.
- Buộc bà Phạm Thị H có trách nhiệm trả ông Nguyễn Bá C số tiền 408.000.000 đồng (Bốn trăm linh tám triệu đồng)
- - Bác một phần yêu cầu phản tố của bà Phạm Thị H.
- - Chấp nhận một phần yêu cầu phản tố của bà Phạm Thị H.
- Buộc ông Nguyễn Bá C phải có trách nhiệm trả cho bà H số tiền 34.700.000 đồng (Ba mươi tư triệu bảy trăm nghìn đồng).
- Sau khi đối trừ nghĩa vụ của bà Phạm Thị H với ông Nguyễn Bá C. Bà H phải có trách nhiệm thanh toán trả ông C số tiền 373.300.000 đồng (Ba trăm bảy mươi ba triệu, ba trăm nghìn đồng).
- Kể từ khi người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong, hàng tháng người phải thi hành án còn phải chịu lãi suất của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự;
- - Về án phí: Ông Nguyễn Bá C phải chịu 1.735.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Nhưng được khấu trừ vào số tiền ông C đã nộp là 10.160.000 đồng theo biên lai thu số 0003368 ngày 21/4/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Quế Võ (nay là Phòng thi hành án dân sự khu vực 8). Trả lại ông C và bà L số tiền 8.425.000đ.
- Bà Phạm Thị H phải chịu 23.390.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền bà H đã nộp tạm ứng án phí là 2.117.000 đồng theo biên lai thu số 0003478 ngày 06/6/2025 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Quế Võ (nay là Phòng thi hành án dân sự khu vực 8). Bà Phạm Thị H còn phải nộp 21.273.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Ngoài ra bản án còn tuyên quyền kháng cáo và hướng dẫn thi hành án cho các bên đương sự.
* Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 04/8/2025, bị đơn bà Phạm Thị H nộp đơn kháng cáo, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm hủy Bản án sơ thẩm số 05/2025/DS-ST ngày 22/7/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 8 – Bắc Ninh.
Tại phiên tòa phúc thẩm: Nguyên đơn ông Nguyễn Bá C giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và xin xét xử vắng mặt. Đại diện theo ủy quyền của bị đơn giữ nguyên kháng cáo. Các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.
Đại diện theo ủy quyền của bà Phạm Thị H trình bày: Việc thu thập và đánh giá chứng cứ của Tòa án cấp sơ thẩm không đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tòa án chỉ căn cứ vào chứng cứ chuyển tiền giữa ông C, bà H (không ghi nội dung chuyển tiền để cho vay), tin nhắn zalo giữa ông C, bà H mà buộc bà H phải chuyển tiền cho ông C là không có cơ sở. Bà H xác nhận có được ông C chuyển số tiền như ông C trình bày nhưng đa số là tiền để chi tiêu, sinh hoạt chung. Bà H đã ứng cho ông C những chi phí cho chuyển đi chơi chung, chi tiêu chung rồi sau đó ông C gửi tiền trả bà H. Bà Nguyễn Thị L1 – đại diện theo ủy quyền của bị đơn tại phiên tòa cũng là bạn của bà H đã nhiều lần đi chơi chung cùng ông C, bà H và chứng kiến họ đã chung sống như vợ chồng. Tuy nhiên, Tòa án cấp sơ thẩm chưa lấy lời khai của bà L1 với tư cách người làm chứng. Do đó, bà H đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm hủy án sơ thẩm hoặc sửa án theo hướng không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Đại diện VKSND tỉnh Bắc Ninh phát biểu quan điểm:
- - Về tố tụng: Toà án nhân dân tỉnh Bắc Ninh và các đương sự đã chấp hành đầy đủ quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- - Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự, không chấp nhận kháng cáo của bà Phạm Thị H, giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 05/2025/DS-ST ngày 22/7/2025 và Quyết định sửa chữa, bổ sung bản án số 05/2025/QĐ-SCBSBA ngày 06/8/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 8 – Bắc Ninh.
- - Về án phí dân sự phúc thẩm: bà Phạm Thị H phải chịu án phí dân sự phúc thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm đã nộp.
- - Kiến nghị khắc phục vi phạm: Không có.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về việc vắng mặt của các đương sự tại phiên tòa: Nguyên đơn đã có đơn xin xét xử vắng mặt. Bị đơn vắng mặt nhưng đã có người đại diện theo ủy quyền tham gia phiên tòa. Hội đồng xét xử phúc thẩm quyết định xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn là đảm bảo quy định tại khoản 3 Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Xét nội dung kháng cáo của bị đơn đề nghị hủy bản án dân sự sơ thẩm hoặc sửa án theo hướng không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thì thấy:
[3] Ông Nguyễn Bá C khai từ ngày 15/10/2024 đến ngày 17/02/2025, ông C đã chuyển tiền từ tài khoản của mình số 2600205007131 mở tại A – chi nhánh tỉnh B đến tài khoản của bị đơn là bà Phạm Thị H số tài khoản 2609205142787 mở tại A – chi nhánh Q, tỉnh Bắc Ninh với tổng số tiền 428.000.000 đồng. Bà H thừa nhận việc ông C chuyển khoản cho mình số tiền nêu trên nên đây là tình tiết không phải chứng minh theo quy định tại Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[4] Ông C cho rằng số tiền ông C chuyển cho bà H nhằm mục đích cho bà H vay và chứng minh được việc chuyển tiền cho bà H. Bà H cho rằng số tiền ông C chuyển cho bà nhằm mục đích chuyển trả tiền sinh hoạt, mua sắm, đi chơi chung trong thời gian hai người có quan hệ tình cảm và chung sống như vợ chồng nhưng bà H và đại diện ttheo ủy quyền không cung cấp được tài liệu chứng cứ chứng minh về việc bà H và ông C có thỏa thuận góp tiền để chi tiêu, sinh hoạt chung hay bà H đã chi trả thay cho ông C (tiền sinh hoạt phí, tiền ăn uống và đi chơi chung) với số tiền 428.000.000 đồng.
[5] Ngoài ra, đại diện theo ủy quyền của bà H xác nhận tin nhắn ngày 12/3/2025 bà H1 gửi cho ông C là đúng; trong đó có hình ảnh chụp giao dịch bà H chuyển 20.000.000 đồng vào tài khoản của ông C và tin nhắn văn bản đi kèm “Tôi trả ông sau tôi trả lốt” và “Tổng cộng bao nhiêu tiền tôi gửi trả”. Như vậy, có căn cứ xác định tại thời điểm ngày 12/3/2025, bà H xác nhận có nợ tiền ông C, đã trả được 20.000.000 đồng và có hẹn trả tiếp số tiền còn nợ. Hội đồng xét xử sơ thẩm chấp nhận yêu cầu của ông C, buộc bà H trả ông C tiếp số 408.000.000 đồng là có căn cứ.
[6] Đối với yêu cầu phản tố của bị đơn buộc nguyên đơn phải trả số tiền đã vay là 96.103.936 đồng: Ngày 12/3/2025, bà H chuyển tiền cho ông C với số tiền 20.000.000 đồng đồng thời gửi tin nhắn xác nhận đây là số tiền bà H trả nợ cho ông C theo phân tích tại mục [5] nên Hội đồng xét xử không buộc ông C trả bà H số tiền này cho bị đơn là phù hợp.
[7] Đối với mã chuyển khoản ngày 04/3/2025, bà H chuyển cho ông C 30.000.000 đồng (nội dung chuyển khoản có ghi: Pham Thi H2 chuyen tien ban ghe). Quá trình giải quyết vụ án, ông C và đại diện theo ủy quyền của bà H đều xác nhận đây là khoản tiền bà H chuyển trả ông C để ông C trả tiền bàn ghế giúp bà H. Do đó, Hội đồng xét xử sơ thẩm không buộc ông C trả bà H số tiền này là phù hợp.
[8] Đối với số tiền 11.403.936 đồng bà H cho rằng đã chuyển vào tài khoản của Công ty TNHH Ô để thanh toán tiền bảo dưỡng xe ô tô của ông C. Tuy nhiên, bà H không cung cấp được tài liệu, chứng cứ, chứng minh cho việc trả tiền bảo dưỡng xe của ông C. Ông C không thừa nhận nội dung này. Hội đồng xét xử sơ thẩm không buộc ông C trả bà H số tiền này là có căn cứ.
[9] Đối với các mã chuyển khoản thực hiện vào các ngày 25/02/2025, 01/3/2025, 04/3/2025, 05/3/2025, 06/3/2025, 10/3/2025, 16/3/2025, 17/3/2025, 20/3/2025, 22/3/2025, 26/3/2025, 05/4/2025, 06/4/2025 và 10/4/2025 với tổng số tiền là 34.700.000 đồng: tại phiên tòa, ông C thừa nhận được bà H chuyển số tiền trên, đồng ý đối trừ vào số tiền bà H còn nợ ông. Hội đồng xét xử sơ thẩm chấp nhận yêu cầu phản tố của bà H, buộc ông C phải trả bà H số tiền 34.700.000 đồng và đối trừ nghĩa vụ của bà H đối với ông C là đúng pháp luật.
[10] Bà Phạm Thị H cho rằng Tòa án cấp sơ thẩm vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 vì bà H và đại diện theo ủy quyền của bà H không được thông báo và tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải đối với yêu cầu phản tố của bà (được thụ lý bổ sung ngày 06/6/2025). Tuy nhiên, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử thấy: Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải số 205/TB-TA ngày 09/6/2025 của Tòa án nhân dân thị xã Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh (nay là Tòa án nhân dân khu vực 8 – Bắc Ninh) ấn định thời gian mở phiên họp và hòa giải vào ngày 10/6/2025, thông báo này được tống đạt cho các đương sự ngày 09/6/2025 trong đó có người đại diện theo ủy quyền của bà Phạm Thị H là anh Nguyễn Bỉnh H3 (tại bút lục 100, 101). Tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và phiên hòa giải vào ngày 10/6/2025, đại diện theo ủy quyền của bà H là anh Nguyễn Bỉnh H3 có mặt (tại bút lục 123 – 128). Bà Phạm Thị H ký hợp đồng ủy quyền cho chị Nguyễn Thị P vào ngày 20/6/2025. Do đó việc bà H cho rằng bà và người đại diện theo ủy quyền của bà là chị Nguyễn Thị P không được Tòa án cấp sơ thẩm thông báo và tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải đối với yêu cầu phản tố của bà là không có căn cứ chấp nhận.
[11] Từ những phân tích đánh giá nêu trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận thấy không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bà Phạm Thị H về việc hủy hoặc sửa bản án sơ thẩm, cần giữ nguyên bản án sơ thẩm như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh theo quy định tại khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[12] Về án phí dân sự phúc thẩm: Do kháng cáo của bà Phạm Thị H không được chấp nhận nên bà H phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định tại Điều 148 của Bộ luật Tố tụng dân sự và Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, nộp án phí, lệ phí tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự, không chấp nhận kháng cáo của bà Phạm Thị H, giữ nguyên án dân sự sơ thẩm số 05/2025/DS-ST ngày 22/7/2025 và Quyết định sửa chữa, bổ sung bản án số 05/2025/QĐ-SCBSBA ngày 06/8/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 8 – Bắc Ninh.
- Về án phí dân sự phúc thẩm: Bà Phạm Thị H phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp là 300.000 đồng theo Biên lai thu tiền số 0003787 ngày 05/8/2025 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Ninh (nay là Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Ninh).
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Hương Giang |
Bản án số 230/2025/DS-PT ngày 31/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH về tranh chấp kiện đòi tài sản
- Số bản án: 230/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp kiện đòi tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 31/12/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: vụ Ch - H tranh chấp kiện đòi tài sản
