|
TÒA PHÚC THẨM TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO TẠI HÀ NỘI Bản án số: 230/2025/DS-PT Ngày: 18/11/2025 V/v: Tranh chấp quyền sử dụng đất. |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ——————— |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA PHÚC THẨM TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO TẠI HÀ NỘI
Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Phương Hạnh;
Các Thẩm phán: Ông Bùi Xuân Trọng;
Ông Võ Hồng Sơn.
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Bích Ngọc, Thẩm tra viên Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội.
Đại diện Viện Công tố và Kiểm sát xét xử phúc thẩm Viện kiểm sát nhân dân tối cao tại Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Lê Văn Hùng, Kiểm sát viên
Ngày 18 tháng 11 năm 2025, tại trụ sở Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 358/2025/TLPT-DS ngày 26 tháng 6 năm 2025 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất” do có kháng cáo của nguyên đơn đối với Bản án dân sự sơ thẩm số 13/2025/DS-ST ngày 15 tháng 4 năm 2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương (nay là Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng).
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 5271/2025/QĐ-PT ngày 04 tháng 11 năm 2025, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Anh Bùi Văn H, sinh năm 1990, ĐKHKTT và nơi ở: Thôn T, xã K, huyện K, tỉnh Hải Dương (nay là thôn T, xã P, thành phố Hải Phòng) (địa chỉ liên hệ: Thôn V, xã K, huyện K, tỉnh Hải Dương), có mặt.
Bị đơn: Anh Trần Văn T, sinh năm 1993, địa chỉ: Thôn V, xã K, huyện K, tỉnh Hải Dương (nay là thôn V, xã P, thành phố Hải Phòng), có mặt.
Người đại diện theo ủy quyền của anh T: Anh Trần Mạnh T1, sinh năm 1995, địa chỉ: Thôn V, xã K, huyện K, tỉnh Hải Dương (nay là thôn V, xã P, thành phố Hải Phòng), có mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- + Anh Trần Mạnh T1, sinh năm 1995. địa chỉ: Thôn V, xã K, huyện K, tỉnh Hải Dương (nay là thôn V, xã P, thành phố Hải Phòng), có mặt.
- + Bà Ngô Thị N, sinh năm 1971, địa chỉ trước khi xuất cảnh: Thôn V, xã K, huyện K, tỉnh Hải Dương (nay là thôn V, xã P, thành phố Hải Phòng), nơi cư trú hiện nay: Đài Loan.
Người đại diện theo ủy quyền của bà N: Anh Trần Văn T, sinh năm 1993, địa chỉ: Thôn V, xã K, huyện K, tỉnh Hải Dương (nay là thôn V, xã P, thành phố Hải Phòng), có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 20/9/2024 và quá trình tố tụng, nguyên đơn là anh Bùi Văn H và người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là chị Nguyễn Thị T2 trình bày:
Ngày 03/3/2022, anh H và bà Trần Thị C ký kết Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất có nội dung: Bà C chuyển nhượng cho anh H diện tích 197m² đất ở thuộc thửa đất số 309, tờ bản đồ số 18 ở thôn V, xã K, huyện K, tỉnh Hải Dương với giá 200.000.000đ, hợp đồng được UBND xã K chứng thực. Anh H đã thanh toán đủ tiền nhận chuyển nhượng đất cho bà C theo thỏa thuận và bà C đã thực hiện các thủ tục sang tên chủ sử dụng đất, bàn giao đất cho anh H. Ngày 30/3/2022, Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất huyện K (nay là Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện K) thực hiện đăng ký biến động, ghi nhận anh H là chủ sử dụng hợp pháp thửa đất số 309 tại trang 4 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BQ 483993, số vào sổ cấp GCN: CH00915, do UBND huyện K cấp ngày 11/01/2016 đứng tên bà Trần Thị C.
Khi làm thủ tục chuyển nhượng hai bên không tiến hành đo đạc để xác định diện tích đất thực tế mà chỉ căn cứ diện tích đất được ghi nhận tại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Khoảng tháng 9 năm 2023, anh H có nhu cầu xây nhà nên đã thuê đơn vị đo đạc tiến hành đo khảo sát thì phát hiện nhà anh Trần Văn T đã xây nhà một tầng lấn chiếm một phần diện tích thửa đất số 309. Vì vậy, anh H khởi kiện yêu cầu buộc anh Trần Văn T, bà Ngô Thị N, anh Trần Mạnh T1 phải tháo dỡ công trình để trả lại cho anh diện tích 23,4m² đất ở. Kết quả xem xét thẩm định tại chỗ thửa đất anh H nhận chuyển nhượng xác định diện tích đất lấn chiếm là 20,7m². Anh H yêu cầu anh Trần Văn T, bà Ngô Thị N, anh Trần Mạnh T1 trả 20,7m² đất hoặc thanh toán giá trị quyền sử dụng diện tích đất lấn chiếm theo giá thị trường là 15.000.000 đồng/m².
Bị đơn là anh Trần Văn T, đồng thời là đại diện theo ủy quyền của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Ngô Thị N trình bày: Thửa đất số 285 và thửa số 309, tờ bản đồ số 18 ở thôn V, xã K, huyện K, tỉnh Hải Dương (nay là thôn V, xã P, thành phố Hải Phòng) có nguồn gốc là của cụ Trần Văn C1. Sau khi cụ C1 chết thì ông Trần Văn N1 cùng những người thừa kế khác của cụ C1 đã tiến hành chia thừa kế thửa đất của cụ C1 và nhờ cán bộ địa chính xuống đo đạc xác định ranh giới, mốc giới đất của người được hưởng thừa kế. Theo đó, ông N1 được hưởng 460m² đất ở thuộc thửa đất số 285 và bà Trần Thị C được hưởng 197m² đất ở thuộc thửa đất số 309. Thực tế từ trước đến nay chỉ có gia đình ông N1 trực tiếp quản lý, sử dụng đất; bà C không sử dụng đất. Sau này bà C chuyển nhượng thửa đất số 309 cho người khác, nhưng cũng chưa có ai đến ở trên đất. Năm 2011, vợ chồng ông Trần Văn N1, bà Ngô Thị N xây dựng nhà mái bằng 01 tầng trên thửa đất số 285 về phía giáp với thửa đất số 309 của bà C nhưng không đo đạc, kiểm tra lại ranh giới, mốc giới đất và cũng không có ai có ý kiến về ranh giới, mốc giới đất. Hiện kết quả đo đạc của cơ quan chuyên môn xác định ngôi nhà mái bằng 01 tầng của gia đình ông N1 xây lấn sang một phần diện tích thửa đất số 309 hiện do anh Bùi Văn H là chủ sử dụng. Để đảm bảo giá trị sử dụng của ngôi nhà, bị đơn đề nghị được thanh toán giá trị phần đất lấn chiếm cho anh H theo giá của Hội đồng định giá cấp sơ thẩm.
Tòa án nhiều lần triệu tập nhưng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Trần Mạnh T1 vắng mặt và không gửi cho Tòa án văn bản ghi quan điểm về các nội dung liên quan đến vụ án.
Qua xác minh tại UBND xã K thể hiện:
- - Ngày 22/5/1998, UBND huyện K cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (sau đây viết tắt GCNQSDĐ) số I 909984, đứng tên ông Trần Văn C1 đối với 710m² đất thuộc các thửa đất số 289, số 306 và số 307, tờ bản đồ số 4.
- - Ngày 30/5/1998, UBND huyện K cấp GCNQSDĐ số I 909983 đứng tên ông Trần Văn M đối với diện tích 198m² đất thuộc các thửa đất số 306, số 307B, tờ bản đồ số 4 và cấp GCNQSDĐ số I 909982 đứng tên ông Trần Văn C1 đối với diện tích 512m² đất thuộc các thửa đất số 289, số 307, tờ bản đồ số 4.
- - Căn cứ đơn đề nghị của ông Trần Văn N1 và bà Trần Thị C, ngày 07/5/2010 và ngày 14/5/2010, UBND xã K mời đại diện các ngành, đoàn thể, đại diện gia đình ông Trần Văn C1 để thống nhất phân chia thừa kế theo di chúc của ông C1 để lại cho cháu nội là ông N1, bà C. Ngày 27/7/2010, UBND xã thông báo công khai hồ sơ thừa kế quyền sử dụng đất của ông C1 để lại cho ông N1, bà C. Ngày 18/8/2010 kết thúc công khai hồ sơ, UBND xã không nhận được đơn thư khiếu nại về đất đai của ông C1. Ngày 20/10/2010, UBND xã lập hồ sơ thừa kế quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất của ông C1 để lại cho ông N1, bà C.
- - Ngày 11/01/2016, UBND huyện K cấp GCNQSDĐ số BQ 483994, số vào sổ cấp GCN: CH 00914, đứng tên ông Trần Văn N1 đối với thửa đất số 285, tờ bản đồ số 18, diện tích 460m² đất ở và cấp GCNQSDĐ số BQ 483993, số vào sổ cấp GCN: CH 00915, đứng tên bà Trần Thị C đối với thửa đất số 309, tờ bản đồ số 18, diện tích 197m² đất ở.
- - Ngày 03/3/2022, bà Trần Thị C chuyển nhượng 197m² đất thuộc thửa đất số 309, tờ bản đồ số 18 cho anh Bùi Văn H. Ngày 30/3/2022, Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất huyện K thực hiện đăng ký biến động ghi nhận anh Bùi Văn H là chủ sử dụng thửa đất số 309, tờ bản đồ số 18.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 13/2025/DS-ST ngày 15 tháng 4 năm 2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương (nay là Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng) đã quyết định: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là anh Bùi Văn H:
- - Buộc anh Trần Văn T, anh Trần Mạnh T1, bà Ngô Thị N phải tháo dỡ phần lán tôn có diện tích 3,3m² (theo hình A5A6A13A16) và tháo dỡ phần gian bán mái lợp proximang có diện tích 04m² (theo hình A12A14A15A1) để trả lại anh Bùi Văn H diện tích 7,3m² đất ở thuộc thửa đất số 309, tờ bản đồ số 18 tại thôn V, xã K, huyện K, tỉnh Hải Dương (có sơ đồ kèm theo).
- - Buộc anh Trần Văn T, anh Trần Mạnh T1, bà Ngô Thị N phải thanh toán trả anh Bùi Văn H giá trị 13,4m² đất ở thuộc thửa đất số 309, tờ bản đồ số 18 tại thôn V, xã K, huyện K, tỉnh Hải Dương thành tiền là 58.960.000đ (năm mươi tám triệu chín trăm sáu mươi nghìn đồng). Anh T, anh H, bà N, mỗi người phải thanh toán trả anh H số tiền 19.653.300đ (làm tròn).
Ngoài ra, bản án còn quyết định về trách nhiệm do chậm thi hành án, về án phí, chi phí tố tụng và thông báo quyền kháng cáo của đương sự theo quy định của pháp luật.
Ngày 17/4/2025, nguyên đơn là anh Bùi Văn H có đơn kháng cáo không đồng ý bản án sơ thẩm chỉ buộc bị đơn tháo dỡ một phần công trình lấn chiếm và thanh toán giá trị một phần mà không buộc tháo dỡ toàn bộ công trình.
Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn là anh Bùi Văn H và bị đơn là anh Trần Văn T, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Trần Mạnh T1 đã thống nhất thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án. Theo đó, anh T, bà N và anh T1 đồng ý thanh toán giá trị quyền sử dụng diện tích 20,7m² đất lấn chiếm cho anh H theo giá thị trường là 15.000.000 đồng/m² để tiếp tục sử dụng diện tích 20,7m² đất và được anh H đồng ý. Đồng thời, hai bên thống nhất mỗi bên chịu một nửa chi phí định giá tại giai đoạn xét xử phúc thẩm số tiền 2.000.000 đồng, nguyên đơn là anh H và bị đơn là anh T cùng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà N và anh T1 mỗi bên phải chịu 1.000.000 đồng tiền chi phí định giá. Số tiền này anh H đã nộp nên anh T, bà N và anh T1 phải có trách nhiệm hoàn trả cho anh H 1.000.000 đồng.
Đại diện Viện Công tố và Kiểm sát xét xử phúc thẩm Viện kiểm sát nhân dân tối cao tại Hà Nội sau khi nghe ý kiến của các đương sự tại phiên tòa đã kết luận: Tại phiên tòa phúc thẩm, các bên đương sự đã thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án. Việc thỏa thuận của các đương sự là tự nguyện, không trái pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm, công nhận sự thỏa thuận của đương sự; giao toàn bộ diện tích 20,7m² đất lấn chiếm cho anh T, bà N, anh T1 và anh T, bà N, anh T1 thanh toán giá trị quyền sử dụng 20,7m² đất lấn chiếm cho anh H theo giá trị trường 15.000.000 đồng/m². Về chi phí định giá tại giai đoạn xét xử phúc thẩm: Ghi nhận mỗi bên chịu một nửa chi phí định giá, anh H 1.000.000 đồng và anh T, bà N, anh T1 phải chịu 1.000.000 đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã thẩm tra tại phiên tòa, ý kiến trình bày của các bên đương sự và ý kiến của đại diện Viện Công tố và Kiểm sát xét xử phúc thẩm Viện kiểm sát nhân dân tối cao tại Hà Nội tham gia phiên tòa, Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy:
[1] Về thủ tục tố tụng:
- - Về thời hạn và thủ tục kháng cáo: Đơn kháng cáo của anh Bùi Văn H đảm bảo thời hạn, có nộp tiền tạm ứng án phí nên được chấp nhận xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
[2] Về nội dung:
Thửa đất số 309, tờ bản đồ số 18, diện tích 197m² đất anh H đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và thửa đất số 285, tờ bản đồ số 18, diện tích 460m² đất tại thôn V, xã K, huyện K, tỉnh Hải Dương (nay là thôn V, xã P, thành phố Hải Phòng) ông Trần Văn N1 được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 11/01/2016 có nguồn gốc do ông Trần Văn N1 và bà Trần Thị C được hưởng thừa kế từ ông nội của ông N1, bà C là cụ Trần Văn C1. Ngày 03/3/2022, bà C chuyển nhượng toàn bộ thửa đất số 309, diện tích 197m² đất theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất bà C được cấp ngày 11/01/2016 cho anh Bùi Văn H, hai bên đã giao đất, nhận tiền, hoàn tất thủ tục sang tên quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật; còn thửa đất của ông N1 sau khi ông N1 chết (04/12/2017) thì vợ ông N1 là bà Ngô Thị N và hai con của ông N1 là anh Trần Văn T, anh Trần Mạnh T1 quản lý, sử dụng.
Tại Biên bản xác minh hiện trạng nhà, đất ngày 20/10/2010 của UBND xã K để thực hiện phân chia thừa kế thửa đất của cụ Trần Văn C1 cho ông Trần Văn N1 và bà Trần Thị C, có sơ đồ hiện trạng và kích thước diện tích đất phân chia thể hiện diện tích đất tách cho ông N1 là 460m² và diện tích đất tách cho bà C là 197m², có chữ ký của ông N1 và bà C, đại diện UBND xã K và Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất huyện K, tỉnh Hải Dương.
Quá trình giải quyết vụ án, anh Bùi Văn H cho rằng thời điểm nhận chuyển nhượng không đo đạc xác định diện tích thực tế thửa đất mà chỉ căn cứ diện tích đất được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho đến năm 2023 đo đạc lại diện tích thửa đất nhận chuyển nhượng thì phát hiện bị thiếu 20,7m² đất so với diện tích được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do gia đình bà N (vợ ông N1) xây dựng nhà cấp bốn 01 tầng mái bằng lấn chiếm một phần sang đất của anh. Bị đơn là anh T, đồng thời là đại diện theo ủy quyền của bà N trình bày năm 2011 gia đình bị đơn xây nhà mái bằng 01 tầng không xin phép xây dựng, không có ai đến đo đất và thừa nhận xây nhà lấn sang đất của anh H, đề nghị được thanh toán giá trị quyền sử dụng diện tích đất lấn chiếm theo giá Hội đồng định giá cấp sơ thẩm xác định.
Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn là anh H và bị đơn là anh T đồng thời là người đại diện theo ủy quyền của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Ngô Thị N, anh Trần Mạnh T1 (là các đồng thừa kế của ông Trần Văn N1) đã thống nhất thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án. Theo đó, anh T, bà N và anh T1 đồng ý thanh toán giá trị quyền sử dụng diện tích 20,7m² đất lấn chiếm cho anh H theo giá thị trường là 15.000.000 đồng/m² với tổng số tiền là 310.500.000 đồng để giữ nguyên hiện trạng phần nhà xây dựng trên diện tích đất lấn chiếm của anh H. Anh H đồng ý nhận thanh toán giá trị quyền sử dụng diện tích 20,7m² đất gia đình anh T lấn chiếm theo giá thị trường là 15.000.000 đồng/m². Sau khi bà N, anh T, anh T1 thực hiện xong nghĩa vụ thanh toán giá trị diện tích đất lấn chiếm nêu trên cho anh H thì bà N, anh T và anh T1 được quyền sử dụng diện tích 20,7m² đất tại thửa đất số 309, tờ bản đồ số 18 trên đó có một phần nhà mái bằng 01 tầng, một phần nhà bán mái lợp proximang, lán tôn của gia đình anh T, bà N, anh T1 và anh T, bà N, anh T1 được quyền liên hệ với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để thực hiện thủ tục kê khai đăng ký quyền sử dụng đất đối với diện tích đất lấn chiếm theo quy định của pháp luật. Xét thấy việc thỏa thuận của các bên đương sự là tự nguyện, không trái pháp luật nên công nhận sự thỏa thuận của các đương sự nêu trên.
Về chi phí định giá: Tại giai đoạn phúc thẩm, anh H đã nộp 2.000.000 đồng tiền chi phí định giá theo ủy thác của Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao. Tại phiên tòa phúc thẩm, anh H và anh T (đồng thời là người đại diện theo ủy quyền của bà N), anh T1 thống nhất thỏa thuận mỗi bên chịu một nửa chi phí định giá. Anh H chịu 1.000.000 đồng tiền chi phí định giá, anh T, bà N và anh T1 chịu 1.000.000 đồng tiền chi phí định giá và 03 người có tên nêu trên có trách nhiệm hoàn trả 1.000.000 đồng tiền chi phí định giá cho anh H.
Về án phí phúc thẩm: Tại phiên tòa phúc thẩm các đương sự thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án nên nguyên đơn là anh H kháng cáo phải chịu toàn bộ án phí dân sự phúc thẩm theo khoản 5 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ Điều 300; khoản 2 Điều 308; Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; khoản 5 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
1. Chấp nhận kháng cáo của anh Bùi Văn H; sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 13/2025/DS-ST ngày 15/4/2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương (nay là Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng), công nhận sự thỏa thuận của các đương sự, cụ thể như sau:
- - Bà Ngô Thị N, anh Trần Văn T, anh Trần Mạnh T1 phải thanh toán cho anh Bùi Văn H giá trị quyền sử dụng 20,7m² đất ở thuộc thửa đất số 309, tờ bản đồ số 18 tại thôn V, xã K, huyện K, tỉnh Hải Dương (nay là thôn V, xã P, thành phố Hải Phòng) số tiền là 310.500.000 đồng (Ba trăm mười triệu, năm trăm nghìn đồng). Bà N, anh T và anh T1, mỗi người phải thanh toán cho anh H số tiền là 103.500.000 đồng (Một trăm linh ba triệu, năm trăm nghìn đồng).
- - Anh Bùi Văn H được nhận số tiền là 310.500.000 đồng thanh toán giá trị quyền sử dụng diện tích 20,7m² đất lấn chiếm từ bà Ngô Thị N, anh Trần Văn T, anh Trần Mạnh T1.
- - Sau khi thực hiện xong nghĩa vụ thanh toán giá trị quyền sử dụng diện tích đất lấn chiếm và tiền chi phí định giá tại giai đoạn xét xử phúc thẩm cho anh Bùi Văn H, bà Ngô Thị N, anh Trần Văn T, anh Trần Mạnh T1 được quyền sử dụng diện tích 20,7m² đất ở thuộc thửa đất số 309, tờ bản đồ số 18 được giới hạn hạn bởi các điểm A5, A6, A13, A14, A12, A1, A15, A16, A5 theo sơ đồ của bản án sơ thẩm và bà Ngô Thị N, anh Trần Văn T, anh Trần Mạnh T1 được quyền liên hệ với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để thực hiện thủ tục kê khai đăng ký quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành xong, tất cả các khoản tiền hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
2. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ thời điểm hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
3. Về án phí: Anh Bùi Văn H phải chịu án phí dân sự phúc thẩm; được đối trừ số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng anh H đã nộp tại Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí số 0001794 ngày 21/4/2025 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Hải Dương.
- - Về chi phí định giá tại giai đoạn xét xử phúc thẩm: Buộc bà Ngô Thị N, anh Trần Văn T, anh Trần Mạnh T1 phải hoàn trả cho anh Bùi Văn H số tiền 1.000.000 đồng (Một triệu đồng). Bà N, anh T và anh T1 mỗi người phải trả cho anh H số tiền 333.300 đồng (làm tròn là 333.000 đồng - Ba trăm ba mươi ba nghìn đồng)
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Phương Hạnh |
Bản án số 230/2025/DS-PT ngày 18/11/2025 của TÒA PHÚC THẨM TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO TẠI HÀ NỘI về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Số bản án: 230/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 18/11/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA PHÚC THẨM TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO TẠI HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: anh Hiếu khởi kiện yêu cầu buộc anh Trần Văn Tùng, bà Ngô Thị Ngát, anh Trần Mạnh Trung phải tháo dỡ công trình để trả lại cho anh diện tích 23,4m2 đất ở. Kết quả xem xét thẩm định tại chỗ thửa đất anh Hiếu nhận chuyển nhượng xác định diện tích đất lấn chiếm là 20,7m2. Anh Hiếu yêu cầu anh Trần Văn Tùng, bà Ngô Thị Ngát, anh Trần Mạnh Trung trả 20,7m2 đất hoặc thanh toán giá trị quyền sử dụng diện tích đất lấn chiếm theo giá thị trường là 15.000.000 đồng/m2
