OÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - HÀ NỘI | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 230/2025/HS-ST Ngày 11 tháng 11 năm 2025 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - HÀ NỘI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đặng Thị Hường.
Các hội thẩm nhân dân: 1. Ông Đường Phan Hiếu .
2. Bà Hoàng Thị Xuân Hường.
Thư ký phiên toà: Ông Trần Quốc Trung, Thư ký Tòa án nhân Khu vực 2 - Hà Nội.
Đại diện VKSND Khu vực 2 – Hà Nội tham gia phiên toà: Ông Lê Hồng Q - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 11 năm 2025, tại Phòng xét xử Tòa án nhân dân Khu vực 2 - Hà Nội, tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 208/2025/HSST ngày 23 tháng 10 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 240/2025/HS-QĐ, ngày 28 tháng 10 năm 2025, đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Duy T, sinh năm 2001; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Nơi đăng ký thường trú: Số A đường A P, phường H, TP .; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Văn hóa: 12/12; Họ tên cha: Nguyễn Duy S, sinh năm 1970; Họ tên mẹ: Nguyễn Thị T1, sinh năm 1981; Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất. D chỉ bản số [...], lập ngày 07/9/2025 tại Trại giam S1 (PC11B), Công an thành phố H.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt quả tang, tạm giữ, tạm giam từ ngày 29/8/2025 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 2 - Công an thành phố H.
(Có mặt tại phiên tòa)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 09 giờ 00 phút ngày 29/8/2025, tổ công tác của Công an phường T, Hà Nội đang làm nhiệm vụ tại khu vực đầu ngõ B L, phường T, Hà Nội thì phát hiện Nguyễn Duy T đang điều khiển xe máy nhãn hiệu Honda Vision màu trắng nâu, biển kiểm soát 29B2-079.90 có biểu hiện nghi vấn nên đã tiến hành kiểm tra hành chính. Khi bị tổ công tác kiểm tra, T đã tự nguyện giao nộp cho tổ công tác 01(một) túi nilong trắng trong chứa các hạt tinh thể màu trắng từ trong ví da màu đen được để trong túi vải T đeo trên vai. Đấu tranh tại chỗ, T khai nhận đó là ma túy đá mang theo để sử dụng nên lực lượng công an đã đưa đối tượng về trụ sở Công an phường để làm rõ.
Cơ quan điều tra tiến hành trưng cầu giám định gói chất bột màu trắng thu giữ của T. Tại Bản kết luận giám định số 5650/KL-KTHS ngày 07/9/2025 của Phòng K - Công an T kết luận:
“-Tinh thể màu trắng bên trong 01 túi nilông là ma túy loại Methamphetamine, khối lượng: 0,260 gam;"
Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Duy T đã khai nhận nguồn gốc của túi ma túy đá trên do T được một người bạn quen qua mạng xã hội Zalo tên S cho vào trưa ngày 28/8/2025 tại một quán nước vỉa hè ở khu vực L, Hà Nội (Thái không nhớ địa chỉ cụ thể). Kết quả xét nghiệm, Nguyễn Duy Thái dương T2 với ma túy.
Đối với đối tượng cho Nguyễn Duy T ma túy, do T khai chỉ biết người này tên S, không biết địa chỉ của người này, hiện T đã hủy kết bạn Z với S và xóa hết tin nhắn với người này nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để làm rõ xử lý.
Vật chứng vụ án: Quá trình điều tra, ngoài gói ma túy đã được giám định, niêm phong, Cơ quan điều tra đã thu giữ của Nguyễn Duy T 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone 11 màu tím; 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Vision màu trắng nâu, biển kiểm soát 29B2-079.90.
Đối với chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Vision màu trắng nâu, biển kiểm soát 29B2-079.90, qua xác minh xác định chủ sở hữu của chiếc xe này là ông Nguyễn Duy S (sinh năm: 1970; trú tại: số A đường A P, phường H, Hà Nội) là bố đẻ của T. Ông S không biết việc T sử dụng chiếc xe máy trên để mang ma túy trong người nên ngày 29/9/2025, Cơ quan điều tra đã ra Quyết định xử lý vật chứng, trao trả lại chiếc xe máy trên cho ông Nguyễn Duy S.
Tại phiên tòa:
Bị cáo Nguyễn Duy T đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng số: 14/CT-VKSKV2, ngày 17 tháng 10 năm 2025 của VKSND Khu vực 2 - Hà Nội đã truy tố.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 2 - Hà Nội luận tội đối với bị cáo:
Khẳng định bản cáo trạng số: 14/CT-VKSKV2, ngày 17 tháng 10 năm 2025 của VKSND Khu vực 2 - Hà Nội là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Nguyễn Duy T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c Khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
Căn cứ vào tính chất hành vi phạm tội của bị cáo, các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân người phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: điểm c khoản 1 Điều 249; Điểm s Khoản 1, Điều 51 khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Duy T mức án từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 29/8/2025.
Về hình phạt bổ sung là hình phạt tiền: Xét thấy bị cáo không có nghề nghiệp, không có tài sản riêng nên đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.
Về vật chứng của vụ án: Đề nghị tịch thu tiêu hủy 01(một) phong bì niêm phong có chữ ký của Giám định viên Trương Trọng V, đối tượng Nguyễn Duy T, cán bộ niêm phong Trần Đức Duy cùng hình dấu tròn của Công an phường T; Đề nghị trả lại cho bị cáo Nguyễn Duy T: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 màu tím.
Bị cáo phải chịu án phí và có quyền kháng cáo theo pháp luật.
Lời nói sau cùng của các bị cáo: Bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Căn cứ vào các tài liệu và chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào lời khai của bị cáo và kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về tố tụng: Các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Cơ quan điều tra Công an phường T, TP .; Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 2 - Hà Nội trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều phù hợp với các quy định của pháp luật.
[2]. Về tội danh và khung hình phạt Viện kiểm sát truy tố đối với bị cáo:
Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, lời khai của người làm chứng; phù hợp với vật chứng được thu giữ; phù hợp với kết luận giám định cùng các chứng cứ khác đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở kết luận:
Khoảng 09 giờ 00 phút ngày 29/8/2025, tại khu vực đầu ngõ B L, phường T, Hà Nội, Tổ công tác của Công an phường T đã phát hiện, bắt quả tang Nguyễn Duy T có hành vi tàng trữ 0,260 gam Methamphetamine, với mục đích để sử dụng.
Hành vi nêu trên của bị cáo Nguyễn Duy T đã đủ dấu hiệu hoàn thành của tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy, tội danh và hình phạt quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025 theo Luật số 86/2025/QH15.
Vì vậy, Bản cáo trạng số: 14/CT-VKSKV2, ngày 17 tháng 10 năm 2025 của VKSND Khu vực 2 - Hà Nội truy tố bị cáo Nguyễn Duy T về tội danh và khung hình phạt là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3]. Xét tính chất hành vi phạm tội:
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã cố ý xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý nhà nước về các chất ma tuý; là nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm khác, gây mất trật tự xã hội, gây bất bình trong quần chúng. Bị cáo phạm tội với lỗi cố ý, biết rõ ma túy là chất bị pháp luật nghiêm cấm nhưng bị cáo vẫn thực hiện hành vi tàng trữ, mục đích sử dụng. Vì vậy, cần phải áp dụng hình phạt nghiêm khắc, đủ tác dụng giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
[4]. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân người phạm tội:
- - Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.
- - Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ là “thành khẩn khai báo”, “ăn năn hối cải”, “Lần đầu bị đưa ra xét xử” được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[5]. Đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nguyên nhân, động cơ phạm tội, và quyết định hình phạt đối với bị cáo.
Đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nguyên nhân, mục đích, động cơ phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ và nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy cần áp dụng mức hình phạt tù giam, cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian đủ để đảm bảo giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
Tuy nhiên, khi lượng hình Hội đồng xét xử thấy bị cáo trong quá trình điều tra và tại phiên tòa đã thành khẩn khai báo, thể hiện sự ăn năn hối cải, nên giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
Về hình phạt bổ sung là hình phạt tiền: Xét thấy bị cáo không có nghề nghiệp, không có tài sản riêng nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.
Đối với đối tượng đưa ma túy cho T qua mạng xã hội Z là S, quá trình điều tra không xác định được nhân thân lai lịch của đối tượng này nên Hội đồng xét xử không xem xét xử lý.
[6]. Về vật chứng:
- + Đối với 01(một) phong bì niêm phong có chữ ký của Giám định viên Trương Trọng V, đối tượng Nguyễn Duy T, cán bộ niêm phong Trần Đức Duy cùng hình dấu tròn của Công an phường T là tang vật chứa chất ma túy Nhà nước cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy.
- + Đối với 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 màu tím là tài sản của bị cáo, không liên quan đến hành vi phạm tội nên cần trả lại cho bị cáo.
- + Đối với 01 xe máy nhãn hiệu Honda Vision màu trắng nâu, biển kiểm soát 29B2-079.90, do ông Nguyễn Duy S không liên quan đến hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của T, cơ quan điều tra đã ra Quyết định xử lý vật chứng bằng hình thức trao trả lại chiếc cho ông S là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.
[7]. Về án phí và quyền kháng cáo:
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Duy T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
1. Về hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điểm s Khoản 1, Điều 51; khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025 theo Luật số 86/2025/QH15.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Duy T 36 (Ba mươi sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 29/8/2025.
2. Về xử lý vật chứng:
Áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;
- - Tịch thu tiêu hủy: 01(một) phong bì niêm phong có chữ ký của Giám định viên Trương Trọng V, đối tượng Nguyễn Duy T, cán bộ niêm phong Trần Đức Duy cùng hình dấu tròn của Công an phường T.
- - Trả lại cho bị cáo Nguyễn Duy T: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 màu tím, bị vỡ mặt kính lưng sau, số I: 353976107769741. Theo biên bản giao nhận vật chứng số 51 ngày 06 tháng 11 năm 2025 của Phòng thi hành án dân sự khu vực 2 – Hà Nội.
3. Về án phí và quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 135, Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Danh mục án phí, lệ phí Tòa án ban hành kèm theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016;
- - Bị cáo Nguyễn Duy T phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- - Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Đặng Thị H | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM |
Bản án số 230/2025/HS-ST ngày 11/11/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - HÀ NỘI về tàng trữ trái phép chất ma túy (hình sự)
- Số bản án: 230/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy (Hình sự)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/11/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Duy T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. 1. Về hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điểm s Khoản 1, Điều 51; khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025 theo Luật số 86/2025/QH15. Xử phạt bị cáo Nguyễn Duy T 36 (Ba mươi sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 29/8/2025. 2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; - Tịch thu tiêu hủy: 01(một) phong bì niêm phong có chữ ký của Giám định viên Trương Trọng V, đối tượng Nguyễn Duy T, cán bộ niêm phong Trần Đức Duy cùng hình dấu tròn của Công an phường T. - Trả lại cho bị cáo Nguyễn Duy T: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 màu tím, bị vỡ mặt kính lưng sau, số I: 353976107769741. Theo biên bản giao nhận vật chứng số 51 ngày 06 tháng 11 năm 2025 của Phòng thi hành án dân sự khu vực 2 – Hà Nội.
