Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BẮC GIANG

Bản án số: 230/2024/DS- PT

Ngày: 25/11/2024

V/v “Tranh chấp quyền sử dụng đất"

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG

Thành phần hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán- chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hương Giang.

Các thẩm phán: Bà Phạm Thị Chuyền;

Bà Triệu Thị Luyện.

Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Ngọc Thương Hiền – Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang: Ông Nguyễn Văn Dũng – Kiểm sát viên.

Trong ngày 25/11/2024, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 138/2024/TLPT- DS ngày 14/10/2024 về việc “Tranh chấp về quyền sử dụng đất và yêu cầu buộc tháo dỡ tài sản trên diện tích đất tranh chấp”.

Do bản án dân sự sơ thẩm số 38/2024/DS-ST ngày 15 tháng 7 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Lạng Giang bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 248/2024/QĐPT-DS ngày 29/10/2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 389/2024/QĐ-PT ngày 12/11/2024 giữa:

  • * Nguyên đơn: Anh Nguyễn Xuân H, sinh năm 1980 (Có mặt)
  • Địa chỉ: Thôn C, xã X, huyện L, tỉnh Bắc Giang
  • Người đại diện theo ủy quyền của anh H: Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1964. Địa chỉ: Thôn C, xã X, huyện L, tỉnh Bắc Giang (Có mặt).
  • * Bị đơn: Ông Nguyễn Ngọc X, sinh năm 1957 (Có mặt)
  • Địa chỉ: Thôn C, xã X, huyện L, tỉnh Bắc Giang
  • * Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
    1. Chị Nguyễn Thị X1, sinh năm 1981 (Vắng mặt)
    2. Anh Nguyễn Xuân H1, sinh năm 2001 (Có mặt)
    3. Chị Nguyễn Thị Thu H2, sinh năm 2004 (Có mặt)
    4. Bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1958 (Vắng mặt)
  • Đại diện theo ủy quyền của bà M: Anh Nguyễn Ngọc K, sinh năm 1979; địa chỉ: Thôn C, xã X, huyện L, tỉnh Bắc Giang theo Văn bản ủy quyền ngày 11/11/2024 (Có mặt).
    1. Anh Nguyễn Văn T1, sinh năm 1986 (Có mặt)
    2. Cùng địa chỉ: Thôn Chùa, xã Xuân Hương, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang
    3. Chị Đào Thị H3, sinh năm 1979 (Có mặt)
    4. Địa chỉ: Thôn Chùa, xã Xuân Hương, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang
    5. Chị Nguyễn Thị Y, sinh năm 1983 (Có mặt)
    6. Địa chỉ: Số nhà A, đường N, tổ C, phường X, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.
    7. Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1932 (Vắng mặt).
    8. Địa chỉ: Thôn C, xã X, huyện L, tỉnh Bắc Giang
    9. Người đại diện theo ủy quyền của bà N: ông Nguyễn Ngọc X là bị đơn trong vụ án (Có mặt)
    10. UBND huyện L, tỉnh Bắc Giang.
    11. Người đại diện theo uỷ quyền tham gia tố tụng: Ông Lương Văn B - Phó Trưởng phòng Tài nguyên và môi trường huyện L theo Quyết định về việc uỷ quyền tham gia tố tụng dân sự số 16286/QĐ-UBND ngày 13/12/2021 (Vắng mặt).
    12. UBND xã X, huyện L, tỉnh Bắc Giang do ông Phạm Văn T2 – Chức vụ: Chủ tịch UBND xã đại diện theo pháp luật (Vắng mặt).
    13. Sở Tài nguyên và môi trường tỉnh B.
    14. Đại diện theo ủy quyền tham gia tố tụng: Ông Phạm Vũ Đ - Giám đốc Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai huyện L (vắng mặt).
  • * Người kháng cáo: Ông Nguyễn Ngọc X là bị đơn.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nguyên đơn là anh Nguyễn Xuân H và đại diện theo ủy quyền là ông Nguyễn Văn T trình bày:

Năm 2017, vợ chồng anh H nhận chuyển nhượng 1265,3m² diện tích đất rừng sản xuất của hộ ông Nguyễn Văn B1 ở cùng thôn C, xã X, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Đến ngày 20/11/2019 thì vợ chồng anh được Sở tài nguyên và môi trường tỉnh B cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với phần diện tích đất đã mua, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CT 607332, thửa đất số 62, tờ bản đồ 19 địa chỉ tại Thôn C, xã X, huyện L, tỉnh Bắc Giang mang tên anh Nguyễn Xuân H và chị Nguyễn Thị X1.

Quá trình sử dụng đất, năm 2020 hộ gia đình ông Nguyễn Ngọc X (có thửa đất giáp ranh với thửa đất này của gia đình anh) hạ thấp mặt bằng thửa đất thì hộ gia đình ông X đã múc đất lấn sang phần đất của gia đình anh diện tích 164m²; ông X đã trồng cây, đóng cọc sắt và cọc tre để làm ranh giới ngăn cách.

Nay, anh yêu cầu Tòa án xem xét buộc hộ gia đình ông X trả lại cho gia đình anh 164m² diện tích đất lấn chiếm tại phần đất giáp ranh hai nhà theo như sơ đồ đo đạc thẩm định ngày 17/4/2023 và buộc tháo dỡ toàn bộ cây trồng, cọc sắt, cọc tre trên phần đất của gia đình nhà anh.

Thị Thu H2 trình bày:

Đều nhất trí hoàn toàn với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và không có yêu cầu gì khác.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Nguyễn Thị Y, chị Nguyễn Thị H4 trình bày:

Các chị không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, nhất trí với ý kiến của ông X và xin vắng mặt toàn bộ trong quá trình giải quyết vụ án.

Ủy ban nhân dân huyện L do ông Lương Văn B – Phó Trưởng phòng Tài nguyên và Môi trường huyện L đại diện theo ủy quyền có văn bản trình bày ngày 20/5/2021 như sau:

Nguồn gốc thửa đất hộ ông Nguyễn Ngọc X:

Theo hồ sơ địa chính xã X lập năm 2004 có thể hiện: hộ ông Nguyễn Ngọc X quản lý và sử dụng thửa đất 48, tờ bản đồ số 19, diện tích 3.910,9m², mục đích sử dụng: Đất Rừng sản xuất. Ngày 24/8/2004, UBND huyện L đã cấp GCNQSD đất cho hộ ông Nguyễn Ngọc X đối với thửa đất nêu trên. Việc cấp GCNQSD đất cho cho hộ ông Nguyễn Ngọc X là đảm bảo đúng quy định pháp Luật Đất đai và các văn bản hướng dẫn thi hành.

Nguồn gốc thửa đất của ông Nguyễn Xuân H, bà Nguyễn Thị X1:

Theo hồ sơ địa chính xã X lập năm 2004 có thể hiện: hộ ông Nguyễn Văn B1 quản lý và sử dụng thửa đất số 62, tờ bản đồ số 19, diện tích 1.256,3m², mục đích sử dụng: Đất Rừng sản xuất. Ngày 24/8/2004, UBND huyện L đã cấp GCNQSD đất cho hộ ông Nguyễn Văn B1 đối với thửa đất nêu trên. Việc cấp GCNQSD đất cho cho hộ ông Nguyễn Văn B1 là đảm bảo đúng quy định pháp Luật Đất đai và các văn bản hướng dẫn thi hành.

Quá trình sử dụng đất đến năm 2019, hộ ông Nguyễn Văn B1 có chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 62, tờ bản đồ số 19, diện tích 1.256,3m², mục đích sử dụng: Đất Rừng sản xuất cho ông Nguyễn Xuân H, bà Nguyễn Thị X1, địa chỉ thôn C, xã X. Ngày 23/4/2019, Chi nhánh Văn phòng Đ đã điều chỉnh trang 4 GCNQSD đất mang tên ông Nguyễn Xuân H, bà Nguyễn Thị X1 là đúng quy định pháp luật.

Ngày 06/8/2019, ông Nguyễn Ngọc X, bà Nguyễn Thị X1 có đơn đề nghị cấp đổi cấp lại GCNQSD đất. Ngày 20/11/2019, Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B đã cấp đổi GCNQSD đất đối với thửa đất số 62, tờ bản đồ số 19, diện tích 1.256,3m², mục đích sử dụng: Đất Rừng sản xuất theo quy định.

Sau khi được cấp GCNQSD đất 02 hộ sử dụng đất ổn định, không có tranh chấp. Đến khoảng năm 2020, khi gia đình ông X hạ thấp độ cao đất rừng tại thửa đất của gia đình được cấp GCN để tiếp tục trồng bạch đàn (trước khi hạ ông có đóng cọc, xác định ranh giới giữa 2 thửa đất), quá trình hạ đất ông H không có ý kiến gì. Đến cuối năm 2022, ông Nguyễn Xuân H có đơn khởi kiện gửi Tòa án nhân dân huyện buộc gia đình ông Nguyễn Ngọc X phải trả lại gia đình ông diện tích gia đình ông X đất lấn chiếm khoảng 100m² của thửa đất số 62, tờ bản đồ số 19. Đề nghị gia đình ông X phải tháo dỡ toàn bộ tài sản trên đất gồm: Cây cối, cọc sắt, cọc tre trên phần diện tích đất đã lấn chiếm.

Quá trình giải quyết vụ án. Ngày 17/4/2023, Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang đã phối hợp cùng các cơ quan chuyên môn của huyện tiến hành xem xét thẩm định tại chỗ và đo đạc lại toàn bộ các thửa đất đang có tranh chấp. Kết quả đo vẽ thửa đất của hộ gia đình như sau:

  • + Đối với thửa đất hộ ông Nguyễn Ngọc X được thể hiện thửa đất số 1, diện tích đo đạc theo hiện trạng sử dụng đất là 3.809,1m².
  • + Đối với thửa đất hộ ông Nguyễn Xuân H được thể hiện thửa đất số 2, diện tích đo đạc theo hiện trạng sử dụng đất là 1.049,9m².

Kiểm tra hiện trạng sử dụng đất của 2 hộ cho thấy:

Hiện trạng sử dụng đất của 2 hộ ông H và ông X thì các ranh giới, mốc giới giáp ranh liền kề được xác định bằng các cọc tre, cọc sắt. Trên phần diện tích đất tranh chấp hiện ông X đang trồng cây bạch đàn.

Căn cứ vào Luật đất đai, nguồn gốc, diễn biến việc sử dụng đất, căn cứ vào hồ sơ địa chính và kết quả thẩm định của Toà án ngày 17/4/2023. Đề nghị Tòa án nhân dân huyện xem xét giải quyết vụ việc theo đúng quy định pháp luật đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự. Do bận công việc nên ông xin vắng mặt toàn bộ trong quá trình giải quyết vụ án.

Ủy ban nhân dân xã X, huyện L do ông Phạm Văn T2 đại diện theo pháp luật trình bày:

Theo hồ sơ địa chính xã X lập năm 2004 có thể hiện:

  • - Hộ ông Nguyễn Ngọc X quản lý và sử dụng thửa đất 48, tờ bản đồ số 19, diện tích 3.910,9m², mục đích sử dụng: Đất Rừng sản xuất. Ngày 24/8/2004, UBND huyện L đã cấp GCNQSD đất cho hộ ông Nguyễn Ngọc X đối với thửa đất nêu trên.
  • - Hộ ông Nguyễn Văn B1 quản lý và sử dụng thửa đất số 62, tờ bản đồ số 19, diện tích 1.256,3m², mục đích sử dụng: Đất Rừng sản xuất. Ngày 24/8/2004, UBND huyện L đã cấp GCNQSD đất cho hộ ông Nguyễn Văn B1 đối với thửa đất nêu trên. Quá trình sử dụng đất, năm 2019, hộ ông B1 có chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 62, tờ bản đồ số 19 cho ông Nguyễn Xuân H, bà Nguyễn Thị X1, địa chỉ thôn C, xã X. Ngày 23/4/2019, Chi nhánh Văn phòng Đ đã điều chỉnh trang 4 GCNQSD đất mang tên ông Nguyễn Xuân H, bà Nguyễn Thị X1. Ngày 06/8/2019, ông Nguyễn Ngọc X, bà Nguyễn Thị X1 có đơn đề nghị cấp đổi cấp lại GCNQSD đất. Ngày 20/11/2019, Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B đã cấp đổi GCNQSD đất đối với thửa đất số 62, tờ bản đồ số 19, diện tích 1.256,3m², mục đích sử dụng: Đất Rừng sản xuất theo quy định.

Sau khi được cấp GCNQSD đất 02 hộ sử dụng đất ổn định, không có tranh chấp. Đến khoảng năm 2020, khi gia đình ông X hạ thấp độ cao đất rừng tại thửa đất của gia đình được cấp GCN để tiếp tục trồng bạch đàn thì đến cuối năm 2022 thì phát sinh tranh chấp.

Hiện trạng sử dụng đất của 2 hộ ông H và ông X thì các ranh giới, mốc giới giáp ranh liền kề được xác định bằng các cọc tre, cọc sắt. Trên phần diện tích đất tranh chấp hiện ông X đang trồng cây bạch đàn.

Căn cứ vào Luật đất đai, nguồn gốc, diễn biến việc sử dụng đất, căn cứ vào hồ sơ địa chính và kết quả thẩm định của Toà án ngày 17/4/2023. Đề nghị Tòa án nhân dân huyện xem xét giải quyết vụ việc theo đúng quy định pháp luật đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự. Do bận công việc nên ông xin vắng mặt toàn bộ trong quá trình giải quyết vụ án.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang ký Hợp đồng với Công ty Cổ phần H7 đo đạc hiện trạng hai thửa đất; lập Hội đồng xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá đối với diện tích đất đang tranh chấp.

Theo Kết quả đo đạc ngày 17/4/2023 của Công ty Cổ phần H7; Kết quả xem xét, thẩm định tài sản tại chỗ và định giá tài sản ngày 17/4/2023, kết quả thẩm định, định giá bổ sung ngày 20/11/2023 xác định được như sau:

  • + Đối với diện tích đất của anh Nguyễn Xuân H: hiện trạng sử dụng đất của anh Nguyễn Xuân H được thể hiện thửa đất số 2, diện tích đo đạc theo hiện trạng sử dụng đất là 1.049,9m² thiếu 215,4m² so với diện tích được cấp ghi trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
  • + Đối với thửa đất hộ ông Nguyễn Ngọc X được thể hiện thửa đất số 1, diện tích đo đạc theo hiện trạng sử dụng đất là 3.809,1m² thiếu 101,8m² so với diện tích được cấp ghi trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Phần diện tích đất tranh chấp được ký hiệu các cạnh là FGHKMNABCDE có diện tích 164,0m².

Trên phần đất tranh chấp, gia đình ông X đã trồng cây bạch đàn

* Kết quả định giá tài sản ngày 17/4/2023 và ngày 20/11/2023 theo yêu cầu của nguyên đơn như sau:

  • - Đất tại khu vực có tranh chấp có giá 500.000đồng/m².
  • - Tài sản diện tích đất tranh chấp gồm:
    • + 125 cây bạch đàn đường kính gốc nhỏ hơn 5cm, cao từ 1-2m có giá: 125 cây x 25.000đ/cây = 3.125.000₫
    • + 15 cây bạch đàn đường kính gốc nhỏ hơn 5cm, cao từ 2-3m có giá là: 15 cây x 34.000đ/cây = 510.000₫
    • + 16 cây bạch đàn đường kính gốc từ 5-7cm có giá là: 16 cây x 40.000đ/cây = 640.000₫
    • + 14 cây bạch đàn có đường kính gốc từ 7-10cm có giá là: 14 cây x 118.000đ/cây = 1.652.000₫
    • + 04 cây bạch đàn có đường kính gốc 15-17cm có giá là 04 cây x 163.000đ/cây = 652.000₫

Tổng giá trị tài sản trên đất là: 6.579.000₫

Với nội dung trên, bản án dân sự sơ thẩm số 38/2024/DS-ST ngày 15 tháng 7 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Lạng Giang đã quyết định:

Căn cứ Điều 98, Điều 99, Điều 100, Điều 166, Điều 170, Điều 179, khoản 1 Điều 203 của Luật đất đai;

Căn cứ Điều 584, Điều 357 và khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự;

Căn cứ khoản 9 Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 144, Điều 147, Điều 155, Điều 157, Điều 158, Điều 163, Điều 165, Điều 166, Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12; điểm b khoản 1 Điều 24; khoản 3 Điều 26; điểm b khoản 2 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:

  1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Nguyễn Xuân H:
  2. Buộc hộ ông Nguyễn Ngọc X và các thành viên khác gồm: Bà Nguyễn Thị M, anh Nguyễn Văn T1, bà Nguyễn Thị N, chị Nguyễn Thị Y, chị Nguyễn Thị H4 phải trả cho anh Nguyễn Xuân H, chị Nguyễn Thị X1 phần diện tích đất lấn chiếm 164,0m² thuộc thửa đất 62, tờ bản đồ số 19 tại thôn C, xã X, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Cụ thể: Diện tích 164,0m² là hình đa giác ký hiệu là FGHKMNABCDE, có các cạnh: FG = 19,5 m; GH = 8,1 m; HK= 35,1 m; KM = 9,6 m; MN = 11,9 m; NA = 2,2 m; AB = 14,2 m; BC = 8,8 m; CD = 14,1 + 5,7 + 10,8 m; DE = 7,6 m; EF= 10,0+6,1+5,6 m (Có sơ đồ kèm theo bản án).

    Giao cho anh Nguyễn Xuân H, chị Nguyễn Thị X1 được quyền sở hữu các tài sản gắn liền trên phần diện tích 164,0m² là hình đa giác ký hiệu là FGHKMNABCDE gồm: 125 cây bạch đàn đường kính gốc nhỏ hơn 5cm, cao từ 1-2m; 15 cây bạch đàn đường kính gốc nhỏ hơn 5cm, cao từ 2-3m; 16 cây bạch đàn đường kính gốc từ 5-7cm; 14 cây bạch đàn có đường kính gốc từ 7-10cm và 04 cây bạch đàn có đường kính gốc 15-17cm. Tổng giá trị tài sản trên đất là: 6.579.000đ (Sáu triệu năm trăm bẩy mươi chín nghìn đồng).

    Anh Nguyễn Xuân H, chị Nguyễn Thị X1 có nghĩa vụ thanh toán trả cho ông Nguyễn Ngọc X, bà Nguyễn Thị M giá trị các tài sản cây cối lâm lộc trồng trên đất là: 6.579.000đ (Sáu triệu năm trăm bẩy mươi chín nghìn đồng).

    Buộc ông Nguyễn Ngọc X và các thành viên khác gồm: Bà Nguyễn Thị M, anh Nguyễn Văn T1, bà Nguyễn Thị N, chị Nguyễn Thị Y, chị Nguyễn Thị H4 tháo dỡ, di dời toàn bộ cọc tre, cọc sắt đã đóng trên phần diện tích 164m² lấn chiếm để trả lại mặt bằng cho anh Nguyễn Xuân H, chị Nguyễn Thị X1.

  3. Về chi phí thẩm định và định giá tài sản:
  4. Buộc ông Nguyễn Ngọc X phải trả cho anh Nguyễn Xuân H số tiền 18.500.000 đồng (Mười tám triệu năm trăm nghìn đồng) tiền chi phí thẩm định, định giá tài sản;

  5. Về án phí dân sự sơ thẩm:
    • - Ông Nguyễn Ngọc X là người cao tuổi nên được miễn án phí dân sự sơ thẩm;
    • - Hoàn trả lại cho anh Nguyễn Xuân H tổng số tiền 1.550.000đ (Một triệu năm trăm năm mươi nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm đã nộp theo biên lai số 0000979 ngày 30/12/2022 và 0005651 ngày 04/8/2023 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Lạng Giang.

    Ngoài ra bản án còn tuyên quyền kháng cáo, quyền thi hành án đối với các đương sự.

Sau khi xét xử sơ thẩm:

Ngày 16/7/2024, ông Nguyễn Ngọc X có đơn kháng cáo, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm hủy án sơ thẩm do đã xét xử không khách quan, vi phạm tố tụng.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, bị đơn giữ nguyên kháng cáo, các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.

Ông Nguyễn Ngọc X trình bày: Diện tích đất tranh chấp là của gia đình ông, đã sử dụng công khai, liên tục từ nhiều năm. Diện tích đất ông đang quản lý ít hơn diện tích được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên không có căn cứ xác định gia đình ông lấn chiếm đất của gia đình anh Nguyễn Xuân H.

Chị Đào Thị H3, chị Nguyễn Thị Y, anh Nguyễn Ngọc K, anh Nguyễn Văn T1, anh K nhất trí với kháng cáo và lời trình bày của ông X.

Anh Nguyễn Xuân H và đại diện theo ủy quyền thống nhất trình bày: Kháng cáo của ông X là không có căn cứ. Trước khi xảy ra tranh chấp, hai bên sử dụng đất không có vấn đề gì nhưng từ năm 2020 khi gia đình ông X hạ độ cao đất đã múc đất sang phần đất của gia đình anh H. Năm 2021, gia đình anh H đã làm đơn ra xã đề nghị giải quyết nhưng không có kết quả nên anh khởi kiện ra Tòa án. Anh H đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của ông X, giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang.

Anh Nguyễn Văn H5 và chị Nguyễn Thị Thu H2 nhất trí với quan điểm của anh Nguyễn Xuân H.

Đại diện VKSND tỉnh Bắc Giang phát biểu:

  • - Về tố tụng: Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang, các đương sự chấp hành đầy đủ quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
  • - Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự, không chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Ngọc X, giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 38/2024/DS-ST ngày 15/7/2024 của Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang.
  • Về án phí dân sự phúc thẩm: Miễn án phí dân sự phúc thẩm cho ông Nguyễn Ngọc X.
  • Kiến nghị khắc phục vi phạm: Không có.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

  1. [1]Về thủ tục tố tụng: Một số người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa mở lần thứ hai. Hội đồng xét xử vắng mặt họ là đảm bảo quy định tại Điều 296 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
  2. [2] Xét kháng cáo của ông Nguyễn Ngọc X:
  3. [3] Về nguồn gốc và quá trình sử dụng các thửa đất tranh chấp: Gia đình anh Nguyễn Xuân H có thửa đất số 62, tờ bản đồ 19 tiếp giáp với thửa đất số 48, tờ bản đồ 19 của hộ ông Nguyễn Ngọc X tại thôn C, xã X, huyện L, tỉnh Bắc Giang về phía Tây thửa đất. Nguồn gốc thửa đất do anh H nhận chuyển nhượng lại của hộ gia đình ông Nguyễn Văn B1. Năm 2003, xã X tổ chức đo đạc bản đồ địa chính chính quy. Thửa đất số 48, tờ bản đồ số 19 của hộ ông X có diện 3.910,9m²; mục đích sử dụng: Đất rừng sản xuất; thửa đất số 62, tờ bản đồ số 19 của hộ ông B1 có diện tích 1.256,3m², mục đích sử dụng: Đất rừng sản xuất. Ngày 24/8/2004, UBND huyện L đã cấp GCNQSD đất cho hộ ông X và hộ ông B1 đối với các thửa đất nêu trên. Năm 2019, hộ ông B1 có chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 62, tờ bản đồ số 19 cho anh Nguyễn Xuân H và vợ là chị Nguyễn Thị X1. Ngày 23/4/2019, Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai huyện L đã điều chỉnh trang 4 GCNQSD đất đã cấp cho hộ ông B1; xác nhận người sử dụng thửa đất số 62, tờ bản đồ số 19 là anh Nguyễn Xuân H và chị Nguyễn Thị X1. Ngày 06/8/2019, anh Nguyễn Xuân H, chị Nguyễn Thị X1 có đơn đề nghị cấp đổi cấp lại GCNQSD đất. Ngày 20/11/2019, Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B đã cấp đổi GCNQSD đất cho anh H và chị X1 (giữ nguyên về số thửa, tờ bản đồ, diện tích, mục đích sử dụng đất).
  4. [4] Từ khi được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đến năm 2020, các hộ gia đình sử dụng đất ổn định, không có tranh chấp. Đến năm 2020, ông X hạ thấp độ cao đất, sau đó ông H cũng hại độ cao đất tại phần đất giáp ranh giữa hai hộ và xảy ra tranh chấp.
  5. [5] Về hiện trạng sử dụng đất: Phần đất tranh chấp giữa nhà anh H và ông X nằm tại vị trí giáp ranh giữa thửa đất số 62 và thửa đất số 48 tờ bản đồ 19 tại thôn C, xã X, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Phía nguyên đơn xác định thời điểm nhà ông X bị đơn trong vụ án tiến hành hạ đất đã lấn chiếm sang diện tích đất của nguyên đơn đã được Nhà nước công nhận quyền sử dụng đất hợp pháp. Bị đơn ông H xác định phần đất nguyên đơn cho rằng gia đình ông lấn chiếm vẫn là đất thuộc quyền sử dụng của hộ gia đình bị đơn sử dụng ổn định từ năm 1988 đến nay, đã được đo đạc năm 2003, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 2004.
  6. [6] Theo kết quả đo vẽ hiện trạng sử dụng đất do Công ty Cổ phần H7: Diện tích đất gia đình anh Nguyễn Xuân H đang quản lý, sử dụng là 1.049,9m² thiếu 215,4m² so với diện tích được ghi trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Diện tích đất gia đình ông Nguyễn Ngọc X đang quản lý, sử dụng là 3.809,1m², thiếu 101,8m² so với diện tích được cấp ghi trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (đã bao gồm phần diện tích đất tranh chấp là 164m² - hình đa giác, được ký hiệu là FGHKMNABCDE). Kiểm tra thực tế, cả hai hộ anh H và ông Xương H6 đều đang quản lý sử dụng diện tích đất ít hơn so với diện tích đất theo giấy chứng nhận.
  7. [7] Trên cơ sở hiện trạng sử dụng đất hiện nay của hai hộ đối chiếu với bản đồ địa chính, mốc giới thửa đất đo vẽ của hai hộ đo đạc năm 2003, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho anh Nguyễn Xuân H và hộ ông Nguyễn Ngọc X thì thấy phần diện tích đất 164m² anh H khởi kiện nằm trong diện tích đất mà gia đình anh H được cấp giấy chứng nhận, không nằm trong phần diện tích đất hộ ông X được đo đạc năm 2003 và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng năm 2004. Việc ông X và thành viên trong hộ gia đình ông X xác định phần diện tích đất tranh chấp nằm trong diện tích đất hộ ông X đã được đo đạc năm 2003 và được UBND huyện L cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 2004 là không có căn cứ.
  8. [8] Diện tích đất ông X đang quản lý, sử dụng thiếu hụt so với diện tích đất ghi trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp là có. Tuy nhiên, nguyên nhân thiếu diện tích là do có sự biến động về ranh giới của thửa đất hộ ông X ở vị trí khác, với các hộ giáp ranh khác. Sau này, nếu có tranh chấp, ông X có quyền khởi kiện bằng vụ án khác.
  9. [9] Từ những phân tích, đủ cơ sở xác định hộ ông Nguyễn Ngọc X đã sử dụng lấn chiếm sang diện tích đất của anh Nguyễn Xuân H, chị Nguyễn Thị X1, phần đất lấn chiếm tại vị trí giáp ranh là hình đa giác được ký hiệu là FGHKMNABCDE có diện tích 164,0m² (theo sơ đồ chồng ghép ngày 17/4/2023). Hội đồng xét xử sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh H là phù hợp với quy định tại Điều 166 của Luật Đất đai năm 2013.
  10. [10]. Đối với tài sản gồm các cây bạch đàn và cọc sắt, cọc tre do hộ ông X trồng, đóng trên phần đất lấn chiếm của nhà anh H từ năm 2020. Tổng giá trị cây đất theo kết quả định giá là: 6.579.000đ (Sáu triệu năm trăm bẩy mươi chín nghìn đồng). Nguyên đơn đồng ý thanh toán giá trị cây do hộ ông X đã trồng trên phần đất lấn chiếm bằng tiền theo giá đã định giá. Hội đồng xét xử sơ thẩm giao toàn bộ số cây này cho anh H, chị X1 sở hữu và buộc anh H, chị X1 trích trả giá trị cây cho hộ ông X là phù hợp, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp cho hai bên đương sự. Đối với cọc sắt, cọc tre hộ ông X đóng trên phần đất lấn chiếm, Hội đồng xét xử sơ thẩm buộc hộ ông X tháo dỡ, di dời để trả lại đất cho anh H, chị X1 là phù hợp.
  11. [11] Tại phiên tòa phúc thẩm, ông X không cung cấp được tài liệu, chứng cứ nào khác để chứng minh kháng cáo là có căn cứ. Do vậy, không có cơ sở chấp nhận kháng cáo của ông X.
  12. [12] Hội đồng xét xử phúc thẩm không xem xét nội dung quyết định của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị.
  13. [13] Về án phí phúc thẩm: Kháng cáo của ông X không được chấp nhận nhưng ông X là người cao tuổi nên được miễn án phí dân sự phúc thẩm theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 29 của Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án; Xử:

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự, không chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Ngọc X; giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 38/2024/DS-ST ngày 15 tháng 7 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang.

Về án phí dân sự phúc thẩm: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 29 của Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, miễn án phí dân sự cho ông Nguyễn Ngọc X.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • -VKSND tỉnh Bắc Giang;
  • -Toà án nhân dân huyện Lạng Giang;
  • -Chi cục THADS huyện Lạng Giang;
  • -Các đương sự;
  • -Lưu HS; VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

Nguyễn Thị Hương Giang

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 230/2024/DS- PT ngày 25/11/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 230/2024/DS- PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 25/11/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: tranh chấp QSD đất
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger