Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BẮC GIANG

TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 230/2024/HS-ST

Ngày 14-11-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG, TỈNH BẮC GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lan

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Tư, bà Nguyễn Thị Vượng

Thư ký phiên tòa: Ông Lê Hoàng Tùng - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Mạnh - Kiểm sát viên

Ngày 14 tháng 11 năm 2024, tại điểm cầu trung tâm là Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang và điểm cầu thành phần là Trại tạm giam Công an tỉnh B, Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 214/2024/TLST-HS ngày 17 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 220/2024/QĐXXST-HS ngày 31 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Văn T, sinh năm 1992; nơi thường trú và nơi cư trú: Tổ dân phố V, phường V, thị xã V, tỉnh Bắc Giang; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Tự do; Văn hoá: 9/12; con ông Nguyễn Văn N, sinh năm 1967 và bà Nguyễn Thị C, sinh năm 1970; Gia đình có 02 anh em, bị cáo là thứ nhất; Vợ: Đỗ Thị H, sinh năm 1996; con: Có 02 con, lớn sinh năm 2018, nhỏ sinh năm 2020. (Có mặt)

Tiền án: Bản án hình sự sơ thẩm số 32 ngày 17/3/2021 của Tòa án nhân dân huyện Việt Yên (nay là thị xã V), tỉnh Bắc Giang xử phạt 02 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Chấp hành xong án phạt tù ngày 21/11/2022.

Nhân thân: Bản án hình sự sơ thẩm số 73 ngày 27/9/2013 của Tòa án nhân dân huyện Việt Yên (nay là thị xã V), tỉnh Bắc Giang xử phạt 03 năm 03 tháng tù về tội “Lưu hành tiền giả”, đã chấp hành xong bản án và được xoá án tích; ngày 07/02/2016 bị Công an xã T, thành phố B xử phạt vi phạm hành chính về hành vi trộm cắp tài sản; Bản án hình sự sơ thẩm số 139 ngày 30/8/2016 của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang xử phạt 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, đã chấp hành xong bản án và được xoá án tích.

Tiền sự: Không

Bị cáo bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, tạm giữ, tạm giam từ ngày 20/8/2024. Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B.

* Bị hại: Ông Nguyễn Văn T1, sinh năm 1959 (Vắng mặt)

Nơi cư trú: Số nhà E, đường B, thôn L, xã T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Anh Dương Ngô V, sinh năm 1994 (Vắng mặt)

Nơi cư trú: Tổ dân phố Vân Cốc 2, phường Vân Trung, thị xã Việt Yên, tỉnh Bắc Giang

2. Ông Trần Văn H1, sinh năm 1972 (Vắng mặt)

Nơi cư trú: Thôn P, xã P, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Văn T đã bị kết án về tội “Trộm cắp tài sản” chưa được xoá án tích. Khoảng 12 giờ ngày 20/8/2024, T điều khiển xe mô tô Honda Wave RSX không gắn biển kiểm soát đi đến nhà Dương Ngô Việt đón V đi chơi. Đến nơi, V nói với T là “đi chơi đi”, ý của V là rủ đi trộm cắp thì T đồng ý. T điều khiển xe mô tô chở V đi trên các tuyến đường tìm tài sản có sơ hở thì trộm cắp. Khi đi đến cửa hàng bán đồ tạp hóa của ông Nguyễn Văn T1 thì T và V nhìn thấy có nhiều hàng hoá là đồ dùng gia dụng được bày bán trước cửa nhà, có một người phụ nữ đang nằm ngủ. Thấy vậy, V bảo T dừng xe lại để trộm cắp tài sản. T dừng xe lại đỗ xe trước cửa gian bán hàng. V xuống xe đi vào bê 01 chồng ghế gồm 14 chiếc ghế Inox nhãn hiệu Xuân Hòa rồi đặt lên yên xe mô tô để T dùng tay giữ. Sau đó, V tiếp tục đi vào lấy thêm 01 chiếc giá để hàng bằng sắt rồi quay lại đặt lên trên chồng ghế. Sau đó, V điều khiển xe chở T ngồi sau dùng tay giữ chồng ghế và chiếc giá sắt để đem đi bán. Khi V chở T đi đến địa phận tổ dân phố C, phường T, thị xã V thì bị Công an phường T phát hiện và lập biên bản thu giữ vật chứng gồm: 14 chiếc ghế bằng kim loại màu bạc, trên mặt ghế có chữ “X”, 01 giá đèo hàng bằng kim loại màu đen (loại lắp mô tô); 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RSX màu sơn đen đỏ, không gắn biển kiểm soát và 01 điện thoại di động N1 màu đen, lắp sim số 0383.767.565 của Dương Ngô V.

Công an phường T đã bàn giao đối tượng, vật chứng đã thu giữ cho Công an xã T, thành phố B sau đó chuyển cho Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thành phố B giải quyết.

Kết luận định giá tài sản 207/KL-HĐ ngày 22/8/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố B kết luận: “14 chiếc ghế inox màu bạc có

đường kính mặt ghế 27cm, cao 34cm, đường kính đế 38,7cm, trên mặt ghế có chữ “Xuân Hòa”, chưa qua sử dụng có giá trị tại thời điểm ngày 20/8/2024 là 700.000 đồng; 01 giá chở hàng bằng kim loại màu đen (loại lắp mô tô) do nhiều đoạn ống kim loại được hàn lại với nhau có kích thước mặt trên là (63x40)cm, mặt dưới là (63x66,5)cm, khối lượng 5,5kg chưa qua sử dụng có giá trị tại thời điểm ngày 20/8/2024 là 250.000 đồng.Tổng trị giá tài sản là 950.000 đồng”

Cơ quan điều tra đã cho Dương Ngô V và Nguyễn Văn T xác định hiện trường và thực nghiệm điều tra. Kết quả V và T xác định địa điểm trộm cắp 14 chiếc ghế inox và 01 giá chở hàng bằng kim loại ở trước cửa số nhà E đường B thuộc thôn L, xã T, thành phố B. V thực hiện động tác trộm cắp ghế, giá sắt cho lên xe máy; T thực hiện động tác ngồi sau giữ để V điều khiển xe đi như đã khai. Cơ quan điều tra đã cho ông Nguyễn Văn T1 quan sát ảnh vật chứng gồm 14 chiếc ghế inox và 01 giá chở hàng bằng kim loại đã thu giữ. Kết quả ông T1 xác định đây là những tài sản của ông T1 bị trộm cắp ngày 20/8/2024.

Tại bản Cáo trạng số 219/CT-VKS ngày 16/10/2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn T về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

* Tại phiên tòa:

- Bị cáo T trình bày: Nội dung, diễn biến hành vi phạm tội của bị cáo như cáo trạng nêu là đúng. Ngày 20/8/2024 bị cáo điều khiển xe mô tô Honda Wave RSX chở anh V đi trộm cắp của ông T1 được 14 chiếc ghế bằng kim loại có chữ “X”, 01 giá đèo hàng tổng trị giá là 950.000 đồng. Chiếc xe mô tô bị cáo chở V là xe bị cáo mua của một người không quen biết ở Bắc Ninh, khi mua hai bên không lập văn bản, giấy tờ gì. Trước khi phạm tội bị cáo làm lao động tự do nhưng ít khi có việc làm nên không có thu nhập. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo khai báo tự nguyện, không bị ép cung, dùng nhục hình. Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, không oan.

- Hội đồng xét xử công bố lời khai của những người tham gia tố tụng vắng mặt tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến gì đối với các lời khai được công bố.

- Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

+ Về hình phạt: Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T từ 07 tháng đến 10 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày 20/8/2024. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

+ Về vật chứng, tài sản tạm giữ: Căn cứ điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Trả lại anh Dương Ngô V 01 điện thoại di động Nokia màu đen đã qua sử dụng.

+ Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

+ Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự, bị cáo, bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định.

- Bị cáo không có ý kiến tranh luận với bản luận tội của Viện kiểm sát.

- Bị cáo nói lời sau cùng: Đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt để bị cáo sớm được trở về chăm sóc, nuôi dưỡng 02 con còn nhỏ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo, bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng nên các quyết định, hành vi này đều hợp pháp.

[2] Về sự vắng mặt của người tham gia tố tụng: Bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do. Những người vắng mặt đã có đầy đủ lời khai trong hồ sơ vụ án, sự vắng mặt của những người này không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án. Căn cứ khoản 1 Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử quyết định tiếp tục xét xử vụ án.

[3] Xét hành vi của bị cáo: Căn cứ đơn trình báo của ông Nguyễn Văn T1, biên bản tiếp nhận nguồn tin về tội phạm do Công an xã T lập hồi 16 giờ 20 phút ngày 20/8/2024, bản tự khai/bản tường trình ngày 20/8/2024 của Nguyễn Văn T và Dương Ngô V, các biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ ngày 20/8/2024, Kết luận định giá tài sản 207/KL-HĐ ngày 22/8/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố B; căn cứ lời khai của bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có trong hồ sơ vụ án, lời khai của bị

cáo tại phiên toà và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử thấy: Lời khai của bị cáo tại phiên toà là thống nhất với lời khai tại Cơ quan Điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan về thời gian, địa điểm, loại tài sản mà bị cáo đã chiếm đoạt và phù hợp với các chứng cứ khác phản ánh tại hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở kết luận: Ngày 17/3/2021 Nguyễn Văn T bị Toà án nhân dân huyện Việt Yên (nay là thị xã V), tỉnh Bắc Giang xử phạt 02 (hai) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, bị cáo chấp hành xong án phạt tù ngày 21/11/2022. Khoảng hơn 12 giờ ngày 20/8/2024 (bị cáo T chưa được xoá án tích), bị cáo điều khiển xe mô tô Honda Wave RSX chở anh Dương Ngô V đi trộm cắp tài sản. Lợi dụng sự sơ hở trong việc quản lý tài sản của bị hại, bị cáo và anh V đã lén lút trộm cắp 14 chiếc ghế inox và 01 giá chở hàng bằng kim loại có trị giá 950.000 đồng của ông Nguyễn Văn T1 bày bán trước cửa số nhà E đường B thôn L, xã T, thành phố B. Bị cáo T và anh V chưa kịp bán tài sản trộm cắp thì bị Công an phường T, thị xã V phát hiện lập biên bản thu giữ vật chứng. Do vậy hành vi bị cáo T thực hiện ngày 20/8/2024 thuộc trường hợp “Đã bị kết án về tội này, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm” theo điểm b khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng đã thực hiện hành vi với lỗi cố ý. Hành vi trộm cắp của bị cáo đã có đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang truy tố bị cáo về tội danh theo điểm, khoản, điều luật trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[4] Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phương, gây tâm lý hoang mang, lo lắng, bức xúc trong quần chúng nhân dân. Do vậy, cần phải xử lý bị cáo bằng pháp luật hình sự để đảm bảo tính giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

[5] Xét về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.

[6] Xét tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo khai báo thành khẩn và ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Đây là tình tiết giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho bị cáo khi lượng hình được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

[7] Xét về nhân thân của bị cáo thì thấy: Bị cáo có 01 tiền án về tội trộm cắp tài sản và là người có nhân thân xấu (ngày 27/9/2013 bị xử phạt 03 năm 03 tháng tù về tội “Lưu hành tiền giả”, ngày 07/02/2016 bị xử phạt vi phạm hành chính về

hành vi “Trộm cắp tài sản”, ngày 30/8/2016 bị xử phạt 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”) nhưng không lấy đó làm bài học mà tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội.

[8] Sau khi xem xét hành vi, tính chất, mức độ, nhân thân, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy: Bị cáo là đối tượng khó giáo dục, cải tạo và cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo với mức hình phạt như đề nghị của Viện Kiểm sát là phù hợp, đảm bảo giáo dục, răn đe bị cáo để vừa có tác dụng giáo dục, cải tạo riêng, vừa có tác dụng đấu tranh phòng ngừa chung.

[9] Về hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt chính lẽ ra cần áp dụng khoản 5 Điều 173 của Bộ luật Hình sự để phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng nộp ngân sách Nhà nước, xong Hội đồng xét xử thấy trước khi phạm tội bị cáo không có công ăn việc làm, không có thu nhập nên cần miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo là phù hợp với quy định pháp luật.

[10] Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Trả lại anh Dương Ngô V 01 điện thoại di động Nokia màu đen đã qua sử dụng.

[11] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[12] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của khoản 1, khoản 4 Điều 331; Điều 332 và khoản 1, khoản 3 Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự

[13] Về các vấn đề khác có liên quan:

[13.1] Về trách nhiệm dân sự: Cơ quan điều tra đã trả lại ông Nguyễn Văn T1 14 chiếc ghế inox và 01 giá chở hàng bằng kim loại đã thu giữ. Đến nay ông T1 không yêu cầu gì đối với bị cáo nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

[13.2] Đối với anh Dương Ngô V cùng với bị cáo T tham gia trộm cắp tài sản trị giá 950.000 đồng; anh V chưa từng bị xử phạt vi phạm hành chính và chưa từng bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản nên hành vi của anh V không cấu thành tội phạm. Công an thành phố B đã quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi trộm cắp tài sản này là có căn cứ.

[13.3] Đối với chiếc xe mô tô Honda Wave RSX không gắn biển kiểm soát mà bị cáo sử dụng làm phương tiện đi trộm cắp tài sản, bị cáo khai mua của

người không quen biết ở tỉnh Bắc Ninh, không có giấy tờ mua bán. Kết quả xác minh xe có đăng ký mang tên Trần Văn H1, sinh năm 1972, trú tại thôn P, xã P, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh. Anh H1 khai khoảng tháng 5/2024 đi xe đến xã Y, huyện Y, tỉnh Bắc Giang thì bị trộm cắp nhưng anh H1 không trình báo. Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thành phố B đã có văn bản để chuyển vật chứng nêu trên cho Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện Y giải quyết theo thẩm quyền là có căn cứ.

[14] Căn cứ khoản 1, khoản 3 Điều 329 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử quyết định tiếp tục tạm giam bị cáo 45 ngày để đảm bảo thi hành án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 38 của Bộ luật Hình sự;

Căn cứ vào điểm a khoản 3 Điều 106; khoản 2 Điều 136; khoản 1 Điều 292; khoản 1, khoản 4 Điều 331; Điều 332; khoản 1, khoản 3 Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

Căn cứ vào Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 09 (chín) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày 20/8/2024. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo

2. Xử lý vật chứng, tài sản tạm giữ: Trả lại anh Dương Ngô V 01 (một) điện thoại di động N1 màu đen đã qua sử dụng.

(Theo quyết định chuyển vật chứng số 161/QĐ-VKS ngày 16/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang và Biên bản giao nhận vật chứng lập giữa bên giao Đội cảnh sát Thi hành án hình sự và Hỗ trợ tư pháp Công an thành phố B với bên nhận Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bắc Giang)

3. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn T phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

5. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án,

quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Bắc Giang;
  • - VKSND thành phố Bắc Giang;
  • - Công an thành phố Bắc Giang;
  • - Cơ quan Cảnh sát Điều tra (CATP. Bắc Giang);
  • - TAND tỉnh Bắc Giang;
  • - Chi cục THADS thành phố Bắc Giang;
  • - UBND phường Vân Trung, thị xã Việt Yên;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Bắc Giang;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án, văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Lan

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 230/2024/HS-ST ngày 14/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG, TỈNH BẮC GIANG về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 230/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 14/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG, TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: tội trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger