|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
|
|
Bản án số: 230/2024/HNGĐ-ST Ngày 26-8-2024 V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hồng Giang
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Cao Thị Hạ
Ông Nguyễn Nam Tuấn.
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Hương Giang - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Bà Vũ Thị Trang Nhung - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 158/2024/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 6 năm 2024 về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 185/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 17 tháng 7 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 102/2024/QĐST-HNGĐ ngày 02 tháng 8 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Đỗ Thị B; địa chỉ: Thôn Đ, xã Đ, huyện K, thành phố Hải Phòng. Vắng mặt (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
- Bị đơn: Anh Ngô Đăng D; nơi đăng ký thường trú: Thôn Đ, xã Đ, huyện K, thành phố Hải Phòng; nơi ở hiện nay: Đài Loan. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 13 tháng 5 năm 2024 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là chị Đỗ Thị B trình bày:
Chị Đỗ Thị B và anh Ngô Đăng D kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện K, thành phố Hải Phòng ngày 23/8/2011. Sau khi kết hôn, chị B và anh D chung sống tại thôn Đ, xã Đ, huyện K, thành phố Hải Phòng. Anh chị chung sống hạnh phúc khoảng 08 năm đầu; nhưng từ tháng 06/2018, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, bất đồng về quan điểm sống. Sau đó, tháng 07 năm 2018, anh D đi xuất khẩu lao động sang Đài Loan, từ đó đến nay chưa quay lại Việt Nam. Nay nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, gia đình không có khả năng đoàn tụ nên chị B xin được ly hôn với anh D.
Về con chung: Giữa chị B và anh D có 01 con chung là Ngô Hoàng V, sinh ngày 05/8/2012, hiện đang do chị B nuôi dưỡng. Chị đề nghị Toà án giao cháu V cho chị trực tiếp nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con, chị không yêu cầu anh D phải cấp dưỡng nuôi con, không yêu cầu Toà án giải quyết.
Về tài sản chung: Chị B không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn là anh Ngô Đăng D không có ý kiến trình bày.
Theo Biên bản xác minh ngày 25 tháng 6 năm 2024 tại thôn Đ, xã Đ, huyện K, thành phố Hải Phòng nơi chị B và anh D từng chung sống:
Chị Đỗ Thị B và anh Ngô Đăng D có quan hệ hôn nhân, đăng ký kết hôn hợp pháp. Sau khi kết hôn, anh chị chung sống với bố mẹ đẻ của anh D là ông Ngô Đăng T, bà Nguyễn Thị C tại thôn Đ, xã Đ, huyện K, thành phố Hải Phòng. Quá trình chung sống, anh chị có mâu thuẫn gì không thì địa phương không nắm được; nhưng không đánh cãi, chửi nhau gây ảnh hưởng đến làng xóm. Về con chung: Anh chị có 01 con chung là cháu Ngô Hoàng V, sinh ngày 05/8/2012. Nay chị B có đơn đề nghị ly hôn, đề nghị Toà án xem xét, giải quyết theo quy định của pháp luật. Về địa chỉ của anh Ngô Đăng D: Gia đình có thông tin anh D hiện đang lao động tại Đài Loan; tuy nhiên, địa chỉ cụ thể của anh D tại Đài Loan thì địa phương không nắm được.
Ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên toà:
Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên toà đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm nghị án. Các đương sự về cơ bản đã thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ của người tham gia tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về quan hệ hôn nhân: Chị Đỗ Thị B và anh Ngô Đăng D kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện K, thành phố Hải Phòng là hôn nhân hợp pháp. Anh Ngô Đăng D đã xuất cảnh ngày 08/7/2018 và hiện chưa có thông tin nhập cảnh về Việt Nam; vợ chồng cũng không còn liên lạc, quan tâm đến nhau, gia đình không có khả năng đoàn tụ. Vì vậy, yêu cầu của chị B xin ly được ly hôn với anh D là có căn cứ nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về con chung: Anh chị có 01 con chung là cháu Ngô Hoàng V, sinh ngày 05/8/2012. Đề nghị hội đồng xét xử giao cháu Ngô Hoàng V, sinh ngày 05/8/2012 cho chị Đỗ Thị B trực tiếp nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con, chị không yêu cầu anh D phải cấp dưỡng nuôi con, không yêu cầu Toà án giải quyết nên không xem xét.
Về tài sản chung Chị Đỗ Thị B không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.
Về án phí: Chị Đỗ Thị B phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
[1] Về tố tụng: Đây là vụ án dân sự về tranh chấp về ly thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại thời điểm khởi kiện, bị đơn là anh Ngô Đăng D đang cư trú tại nước ngoài. Vì vậy, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 37, điểm a khoản 1 Điều 39 và điểm d khoản 1 Điều 469 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Theo thông tin do Cục Q – Bộ C1 cung cấp thì anh Ngô Đăng D đã xuất cảnh ngày 08/7/2018 và hiện tính đến ngày Tòa án thụ lý vụ án thì chưa có thông tin nhập cảnh về Việt Nam. Nguyên đơn chị Đỗ Thị B chỉ cung cấp được địa chỉ nơi cư trú cuối cùng ở Việt Nam của anh D, không cung cấp được địa chỉ của anh Ngô Đăng D ở nước ngoài. Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã hai lần gửi thông báo yêu cầu bố mẹ đẻ của anh D là ông Ngô Đăng T và bà Nguyễn Thị C cung cấp thông tin về địa chỉ tại nước ngoài của anh D và thông báo cho anh D biết việc Tòa án đang thụ lý, giải quyết vụ án ly hôn giữa chị B và anh D. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành làm việc trực tiếp với ông T và bà C thì được ông bà cung cấp như sau: Chị Đỗ Thị B và anh Ngô Đăng D đăng ký kết hôn năm 2011. Sau khi kết hôn, anh chị chung sống tại thôn Đ, xã Đ, huyện K, thành phố Hải Phòng. Quá trình chung sống, anh chị không xảy ra mâu thuẫn gì. Khi anh D xuất khẩu lao động sang Đài Loan, anh chị có bất đồng về quan điểm sống. Nay chị B có đơn đề nghị được ly hôn anh D, ông bà đề nghị Toà án giải quyết theo quy định của pháp luật. Về con chung: Anh chị có 01 con chung là cháu Ngô Hoàng V, sinh ngày 05/8/2012, chị B đề nghị được nuôi dưỡng cháu V, ông bà không có ý kiến gì. Về địa chỉ của anh D tại Đài Loan: Anh Dũng vẫn liên lạc về với gia đình để hỏi thăm bố mẹ, ông bà đã thông tin cho anh D về yêu cầu khởi kiện của chị B, anh D không có ý kiến gì nhưng không cung cấp địa chỉ của anh tại Đài Loan nên ông bà không thể cung cấp địa chỉ cho Toà án được. Từ căn cứ trên, việc yêu cầu ly hôn của chị B thuộc trường hợp cố tình giấu địa chỉ theo quy định tại khoản 1 Điều 10 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối Cao. Căn cứ vào hướng dẫn nêu trên, Tòa án đưa vụ án ra xét xử vắng mặt bị đơn theo thủ tục chung.
[3] Tại phiên toà, nguyên đơn là chị Đỗ Thị B vắng mặt nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; bị đơn là anh Ngô Đăng D đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt. Vì vậy, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt tất cả các đương sự theo quy định tại khoản 1 Điều 228 và khoản 1 Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[4] Về quan hệ hôn nhân: Chị Đỗ Thị B và anh Ngô Đăng D kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện K, thành phố Hải Phòng ngày 23/8/2011 là hôn nhân hợp pháp theo quy định tại khoản 1 Điều 9 Luật Hôn nhân và Gia đình. Sau đó, anh Ngô Đăng D đã xuất cảnh ngày 08/7/2018 và hiện chưa có thông tin nhập cảnh về Việt Nam. Xét, chị B và anh D hiện mỗi người ở một nơi, vợ chồng không có khả năng đoàn tụ, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, yêu cầu của chị Đỗ Thị B xin được ly hôn với anh Ngô Đăng D là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật nên được chấp nhận.
[5] Về con chung: Anh chị có 01 con chung là cháu Ngô Hoàng V, sinh ngày 05/8/2012. Cháu V hiện sinh sống cùng chị B; anh D đang ở nước ngoài, không có điều kiện trực tiếp nuôi dưỡng cháu V; cháu V cũng có nguyện vọng được sống cùng với mẹ. Vì vậy, giao cháu Ngô Hoàng V, sinh ngày 05/8/2012 cho chị Đỗ Thị B trực tiếp nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con, chị không yêu cầu anh D phải cấp dưỡng nuôi con, không yêu cầu Toà án giải quyết nên không xem xét.
[6] Về tài sản chung: Chị Đỗ Thị B không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.
[7] Về án phí: Chị Đỗ Thị B phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[8] Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các điều 28, 37, 39, 147, 228, 235, 238, 273, 469 và 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ vào Điều 9 và các điều 56,58,81,82,83 của Luật Hôn nhân và Gia đình;
Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án,
X:
- Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Đỗ Thị B ly hôn anh Ngô Đăng D.
- Về con chung: Giao con chung Ngô Hoàng V, sinh ngày 05/8/2012 cho chị Đỗ Thị B trực tiếp nuôi dưỡng đến khi con thành niên (đủ 18 tuổi) hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
- Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Đỗ Thị B không yêu cầu Toà án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về tài sản chung: Chị Đỗ Thị B không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.
- Về án phí: Chị Đỗ Thị B phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm. Chị Đỗ Thị B đã nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) - tiền tạm ứng án phí sơ thẩm theo biên lai số 0000413 ngày 03 tháng 6 năm 2024 tại Cục Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng. Chị Đỗ Thị B đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo:
Nguyên đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Bị đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Hồng Giang |
Bản án số 230/2024/HNGĐ-ST ngày 26/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Số bản án: 230/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/08/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
