Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

QUẬN NGÔ QUYỀN

THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG


CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc


Bản án số: 230/2024/HS-ST

Ngày 20-9-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGÔ QUYỀN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Ngọc Cường

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Hà Thị Mão

Bà Nguyễn Thị Tư

- Thư ký phiên toà: Bà Hoàng Thị Hằng - Thư ký Toà án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Ông Phạm Hùng Cường - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 204/2024/TLST-HS ngày 15 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 578/2024/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 9 năm 2024 đối với các bị cáo:

1. Nguyễn Hoàng C, sinh ngày 13 tháng 02 năm 1981, tại Hải Phòng; nơi ĐKHKTT: Số A đường P, phường A, quận L, thành phố Hải Phòng; nơi ở: Số A đường C, phường H, quận L, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Hoàng N (đã chết) và bà Trần Thị M; có vợ là Phạm Thị Ngọc T, có 03 con; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ từ ngày 10/4/2024 đến ngày 15/4/2024 áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.

2. Trần Thế C1, sinh ngày 14 tháng 4 năm 1984, tại Nam Định; nơi ĐKHKTT: Xóm D, xã H, huyện H, tỉnh Nam Định; nơi ở: Số D đường L, phường M, quận N, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Duy Ú và bà Trần Thị C2; có vợ là Vũ Thị Thu T1, có 02 con; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ từ ngày 10/4/2024 đến ngày 15/4/2024 áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.

3. Nguyễn Thanh H, sinh ngày 19 tháng 5 năm 1977, tại Hải Phòng; nơi ĐKHKTT: Số G đường N, phường G, quận N, thành phố Hải Phòng; nơi ở: Số F đường N, phường G, quận N, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Đức V và bà Nguyễn Thị Y; có vợ là Lê Thị Bích V1 và 02 con; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ từ ngày 10/4/2024 đến ngày 15/4/2024 áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.

4. Nguyễn Vĩnh H1, sinh ngày 01 tháng 5 năm 1977, tại Hải Phòng; nơi ĐKHKTT: Số A phố C, phường G, quận N, thành phố Hải Phòng; nơi ở: Số A L, tổ A, phường Đ, quận H, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Quang H2 (đã chết) và bà Đỗ Thị Phương D; có vợ là Lê Thị Minh P, có 02 con; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ từ ngày 10/4/2024 đến ngày 15/4/2024 áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.

5. Nguyễn Đình T2, sinh ngày 10 tháng 3 năm 1987, tại Hải Phòng; nơi cư trú: Số A H, tổ A, phường N, quận H, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Đình C3 và bà Hoàng Thị L; có vợ là Vũ Thị Á, có 01 con; tiền án, tiền sự: không; bị tạm giữ từ ngày 10/4/2024 đến ngày 15/4/2024 áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.

6. Nguyễn Hùng T3, sinh ngày 25 tháng 11 năm 1977, tại Hải Phòng; nơi ĐKHKTT: Số B đường T, phường T, quận L, thành phố Hải Phòng; nơi ở: Số F A, phường S, quận H, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Q, đã chết và bà Bùi Thị X; có vợ là Phạm Thị Thanh T4, có 02 con; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ từ ngày 10/4/2024 đến ngày 15/4/2024 áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 14 giờ 45 phút ngày 10/4/2024, tại số E Lô B phường Đ, N, Hải Phòng, Công an quận N bắt quả tang Trần Thế C1, Nguyễn Hoàng C, Nguyễn Vĩnh H1, Nguyễn Thanh H, Nguyễn Đình T2, Nguyễn Hùng T3 đang có hành vi đánh bạc dưới hình thức đánh “chắn”, thu giữ: 02 bộ bài loại 100 quân, 02 đĩa sứ, số tiền 128.550.000 đồng (thu trên chiếu bạc tại vị trí Chính 11.200.000 đồng, vị trí của H 10.500.000 đồng, vị trí của H1 19.000.000 đồng; thu trong người của C 50.000.000 đồng, trong ví của C1 11.500.000 đồng, ba lô của C1 20.000.000 đồng, trong người Thịnh 5.150.000 đồng, trong người Tùng 1.200.000 đồng).

Quá trình điều tra, các đối tượng khai: Sáng ngày 10/4/2024, Nguyễn Hoàng C, Nguyễn Thanh H, Trần Thế C1, Nguyễn Vĩnh H1 ngồi uống cafe với nhau thì nảy sinh ý định đánh bạc nên cùng rủ nhau đến nhà số E Lô B, Lê Hồng P1, Đ, N, Hải Phòng là cửa hàng do Nguyễn Đình T2 quản lý, trông coi để đánh bạc. Khoảng 11 giờ 30 phút cùng ngày, cả nhóm đến nơi, H gọi T2 mở cửa cho cả nhóm vào.

Khi vào trong nhà thì C1, C, H1, H cùng thống nhất chơi đánh bạc bằng hình thức đánh chắn ăn tiền theo tỉ lệ “suông” 100.000 đồng, “dịch” 50.000 đồng nghĩa là người nào “ù” thì thắng tiền của ba người còn lại, ván bài thấp tiền nhất có người “ù suông” thì những người còn lại phải trả cho người “u” 100.000 đồng, tổng người nào “ù” thì sẽ được nhận 300.000 đồng, nếu người nào “ù” có thêm cước sắc thì được cộng thêm 50.000 đồng, ván bạc nhiều tiền nhất có thể “u” hết cước sắc thắng tiền của mỗi người chơi cùng khoảng 1.500.000 đồng, tổng người nào “ù” ván đỏ thì sẽ nhận được khoảng 4.500.000 đồng. Thống nhất xong, T2 là người lấy hai đĩa sứ và hai bộ bài chắn mỗi bộ có 100 quân bài ra chia cho mọi người đánh bạc với nhau. Khi bắt đầu mỗi ván bạc, T2 sẽ chia bộ bài thành 5 phần, ai đánh trước thì sẽ được chia 20 quân bài, ba người còn lại mỗi người được chia 19 quân bài, bài còn lại trên đĩa sứ đặt ở giữa 04 người chơi gọi là bài lọc. Mỗi ván bạc kết thúc khi nào có người “ù” thì C1, C, H1, H thanh toán tiền trực tiếp với nhau hoặc khi nào bốc hết quân bài trong phần lọc mà không có ai “ù” thì được tính là hòa và T2 được trả 50.000 đồng/ người/ giờ (công chia bài tổng là 200.000 đồng/giờ).

Cả nhóm thống nhất chơi đến 18 giờ cùng ngày thì nghỉ. Đến khoảng 13 giờ cùng ngày thì Nguyễn Hữu T5, Trần Đức T6 (sinh năm 1977, ĐKTT và chỗ ở: số F L, G, N, Hải Phòng) và Nguyễn Đức T7 (sinh năm 1978; ĐKTT và chỗ ở: số I N, T, Đ, H) đến chơi. Lúc này H đi vệ sinh nên nhờ T5 cầm hộ bài, T5 đồng ý và đánh hộ H được 2 ván đều thua. T5 dùng tiền của H để thanh toán một ván 100.000 đồng và một ván 200.000 đồng. Sau đó, H quay lại ngồi cầm bài đánh, còn T5 ngồi xem. H, H1, C và C1 đánh bạc đến khoảng 14 giờ 15 phút cùng ngày thì bị cơ quan Công an Ngô Quyền phát hiện bắt quả tang.

Số tiền các đối tượng dùng để đánh bạc như sau: Trước khi đánh bạc, Trần Thế C1 mang theo 39.200.000 đồng trong đó sử dụng 19.200.000 đồng để đánh bạc còn 20.000.000 trong ba lô dùng chi tiêu cá nhân, lúc bị bắt giữ C1 đang thua số tiền là 7.700.000 đồng; Nguyễn Hoàng C mang theo 63.000.000 đồng, sử dụng 18.000.000 đồng để đánh bạc còn 45.000.000 đồng dùng chi tiêu cá nhân, lúc bị bắt giữ C đang thua số tiền là 1.800.000 đồng. Nguyễn Vĩnh H1 mang theo 10.000.000 đồng sử dụng đánh bạc, lúc bị bắt giữ H1 đang thắng số tiền là 9.000.000 đồng. Nguyễn Thanh H mang theo 10.000.000 đồng sử dụng đánh bạc, lúc bị bắt giữ H đang thắng số tiền là 500.000 đồng. Như vậy, các đối tượng đã sử dụng 57.200.000 để đánh bạc.

Riêng Nguyễn Đình T2 mang theo 1.200.000 đồng và Nguyễn Hùng T3 mang theo 5.150.000 đồng không sử dụng vào việc đánh bạc.

Về vật chứng: Chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự quận Ngô Quyền quản lý 02 bộ bài loại 100 quân, 02 đĩa sứ, số tiền 128.550.000 đồng.

Cáo trạng số 206/CT-VKSNQ ngày 13 tháng 8 năm 2024, Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng truy tố Nguyễn Hoàng C, Trần Thế C1, Nguyễn Thanh H, Nguyễn Vĩnh H1, Nguyễn Đình T2 và Nguyễn Hùng T3 về tội “Đánh bạc” theo điểm b khoản 2 Điều 321 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

  • + Áp dụng điểm b Khoản 2 Điều 321, Điều 17, Điều 65, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 58 BLHS đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng C 36 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 05 năm.
  • + Áp dụng điểm b Khoản 2 Điều 321, Điều 17, Điều 65, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 58 BLHS đề nghị xử phạt bị cáo Trần Thế C1 36 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 05 năm
  • + Áp dụng điểm b Khoản 2 Điều 321, Điều 17, Điều 65, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 58 BLHS đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh H 36 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 05 năm.
  • + Áp dụng điểm b Khoản 2 Điều 321, Điều 17, Điều 65, điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 54, Điều 58 BLHS đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Vĩnh H1 02 năm 09 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 05 năm
  • + Áp dụng điểm b Khoản 2 Điều 321, Điều 17, Điều 65, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 58 BLHS đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Đình T2 36 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 05 năm
  • + Áp dụng điểm b Khoản 2 Điều 321, Điều 17, Điều 65, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 2 Điều 54, Điều 58 BLHS đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Hùng T3 02 năm 06 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 05 năm.

Hủy bỏ biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú đối với các bị cáo theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 125 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Về hình phạt bổ sung: Áp dụng Điều 35; khoản 3 Điều 321 Bộ luật Hình sự đề nghị hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo Nguyễn Hoàng C và Trần Thế C1 số tiền 20.000.000 đồng. Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo Nguyễn Thanh H, Nguyễn Vĩnh H1, Nguyễn Đình T2 và Nguyễn Hùng T3.

  • - Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 46; điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 2, 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
  • + Tịch thu nộp ngân sách Nhà Nước số tiền 11.500.000 đồng của Trần Thế C1; 16.200.000 đồng của Nguyễn Hoàng C; 19.000.000 đồng của Nguyễn Vĩnh H1; 10.500.000 đồng của Nguyễn Thanh H.
  • + Tịch thu tiêu huỷ 02 bộ bài loại 100 quân, 02 đĩa sứ.
  • + Trả lại cho bị cáo C số tiền 45.000.000 đồng và bị cáo C1 số tiền 20.000.000 đồng nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
  • + Trả lại cho bị cáo T3 số tiền 5.150.000 đồng, bị cáo T2 số tiền 1.200.000 đồng.

Về án phí: Căn cứ Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội mỗi bị cáo phải nộp 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo đối với bản án: Các bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Tại phiên tòa, các bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi đã thực hiện như bản cáo trạng truy tố và nhất trí với bản luận tội của Viện kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền. Các bị cáo nhận thức hành vi của mình là vi phạm pháp luật và đề nghị Hội đồng xét xử xử mức án thấp nhất cho các bị cáo được cải tạo ngoài xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định pháp luật.
  2. Về tội danh: Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại Cơ quan Cảnh sát điều tra, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, biên bản thu giữ tang vật thể hiện: Từ 11 giờ 30 phút đến 14 giờ 15 phút ngày 10/4/2024, Trần Thế C1, Nguyễn Hoàng C, Nguyễn Vĩnh H1, Nguyễn Thanh H có hành vi đánh bạc dưới hình thức đánh “chắn” được thua bằng tiền tại địa điểm là nhà thuộc quyền quản lý trông coi của Nguyễn Đình T2 thì bị Công an quận N bắt quả tang. Nguyễn Hùng T3 trực tiếp tham gia đánh 02 ván bài hộ Nguyễn Thanh H, Nguyễn Đình T2 có hành vi sử dụng địa điểm do mình quản lý cho C1, C, H1, H đánh bạc, T2 còn là người chia bài cho các đối tượng tham gia đánh bạc để được trả công 200.000 đồng/giờ. Như vậy có đủ căn cứ kết luận: Các bị cáo Nguyễn Hoàng C, Trần Thế C1, Nguyễn Thanh H, Nguyễn Vĩnh H1, Nguyễn Đình T2 và Nguyễn Hùng T3 đồng phạm tội Đánh bạc quy định tại Điều 321 Bộ luật Hình sự.
  3. Về tình tiết định khung hình phạt: Trước khi đánh bạc, Trần Thế C1 mang theo 39.200.000 đồng trong đó sử dụng 19.200.000 đồng để đánh bạc, lúc bị bắt giữ C1 đang thua số tiền là 7.700.000 đồng; Nguyễn Hoàng C mang theo 63.000.000 đồng, sử dụng 18.000.000 đồng để đánh bạc, lúc bị bắt giữ C đang thua số tiền là 1.800.000 đồng. Nguyễn Vĩnh H1 mang theo 10.000.000 đồng sử dụng đánh bạc, lúc bị bắt giữ H1 đang thắng số tiền là 9.000.000 đồng. Nguyễn Thanh H mang theo 10.000.000 đồng sử dụng đánh bạc, lúc bị bắt giữ H đang thắng số tiền là 500.000 đồng. Tổng số tiền các bị cáo sử dụng để đánh bạc là 57.200.000 đồng nên các bị cáo bị xét xử theo điểm b khoản 2 Điều 321 Bộ luật hình sự.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

  1. Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên cần áp dụng cho các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Quá trình điều tra, bị cáo Nguyễn Vĩnh H1 đã tích cực giúp đỡ các cơ quan có thẩm quyền phát hiện hoặc điều tra tội phạm nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm t khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Các bị cáo Nguyễn Hoàng C, Trần Thế C1, Nguyễn Vĩnh H1, Nguyễn Thanh H, Nguyễn Đình T2, Nguyễn Hùng T3 có người thân trong gia đình có công với cách mạng nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
  2. Về tình tiết tăng nặng: Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng.
  • - Về vai trò của các bị cáo trong vụ án và áp dụng hình phạt:
  1. Vụ án có đồng phạm, do đó cần phân hóa vai trò của từng bị cáo đồng phạm để có căn cứ áp dụng hình phạt cho tương xứng với tính chất, mức độ hành vi và vai trò của từng bị cáo
  2. Các bị cáo Trần Thế C1, Nguyễn Hoàng C, Nguyễn Vĩnh H1, Nguyễn Thanh H, Nguyễn Hùng T3 trực tiếp thực hiện hành vi đánh bạc. Trong đó C1, C, H1, H là người chơi chính; bị cáo T2 sử dụng địa điểm do mình quản lý, chuẩn bị bài, đĩa sứ cho các bị cáo khác đánh bạc và chia bài cho các bị cáo để được trả công. Do đó các bị cáo C1, C, H1, H, T2 phải chịu mức hình phạt cao nhất và ngang bằng nhau. Bị cáo H1 được hưởng 02 tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, bị cáo T3 tham gia chơi 02 ván bài giữ vai trò thứ yếu nên Hội đồng xét xử chỉ cần áp dụng mức hình phạt thấp hơn so với khung hình phạt quy định; bị cáo H1 là người chơi chính nên phải chịu mức hình phạt cao hơn so với bị cáo T3.
  3. Về hình phạt chính: Hành vi phạm tội của các bị cáo đã xâm phạm đến trật tự an toàn công cộng, gây dư luận xấu trong quần chúng nhân dân nên cần xử lý nghiêm. Xét, các bị cáo được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, có nơi cư trú rõ ràng. Vì vậy, không cần thiết phải cách ly các bị cáo mà cho các bị cáo cải tạo ngoài xã hội theo quy định tại Điều 65 Bộ luật Hình sự cũng đảm bảo tính răn đe và phù hợp với quy định của pháp luật.
  4. Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo Trần Thế C1 và bị cáo Nguyễn Hoàng C là người tham gia đánh bạc với số tiền cao nhất và có điều kiện để thi hành án nên cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền, buộc mỗi bị cáo C, C1 phải nộp 20.000.000 đồng sung ngân sách Nhà nước. Các bị cáo H1, H, T3, T2 là người không có việc làm và thu nhập ổn định, không có điều kiện để thi hành án nên miễn áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

QUYẾT ĐỊNH

  • - Căn cứ điểm b Khoản 2 Điều 321, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 65, Điều 58 Bộ luật Hình sự
  • Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Hoàng C, Trần Thế C1, Nguyễn Thanh H, Nguyễn Đình T2 phạm tội “Đánh bạc”.
  • - Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 321; điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65, Điều 17; khoản 1 Điều 54 và Điều 58 Bộ luật Hình sự,
  • Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Vĩnh H1 phạm tội “Đánh bạc”.
  • - Căn cứ điểm b Khoản 2 Điều 321, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 65, khoản 2 Điều 54, Điều 58 Bộ luật Hình sự,
  • Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Hùng T3 phạm tội “Đánh bạc”.
  • Xử phạt:
  • + Bị cáo Nguyễn Hoàng C: 36 (ba mươi sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 05 (năm) năm, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
  • + Bị cáo Trần Thế C1: 36 (ba mươi sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 05 (năm) năm, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
  • + Bị cáo Nguyễn Thanh H: 36 (ba mươi sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 05 (năm) năm, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
  • + Bị cáo Nguyễn Vĩnh H1: 02 (hai) năm 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 05 (năm) năm, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
  • + Bị cáo Nguyễn Đình T2: 36 (ba mươi sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 05 (năm) năm, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
  • + Bị cáo Nguyễn Hùng T3: 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 05 (năm) năm, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Nguyễn Hoàng C cho Ủy ban nhân dân phường H, quận L, thành phố Hải Phòng giám sát giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.

Giao bị cáo Trần Thế C1 cho Ủy ban nhân dân phường M, quận N, thành phố Hải Phòng giám sát giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.

Giao bị cáo Nguyễn Thanh H cho Ủy ban nhân dân phường G, quận N, thành phố Hải Phòng giám sát giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.

Giao bị cáo Nguyễn Vĩnh H1 cho Ủy ban nhân dân phường Đ, quận H, thành phố Hải Phòng giám sát giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.

Giao bị cáo Nguyễn Đình T2 cho Ủy ban nhân dân phường N, quận H, thành phố Hải Phòng giám sát giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.

Giao bị cáo Nguyễn Hùng T3 cho Ủy ban nhân dân phường S, quận H, thành phố Hải Phòng giám sát giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.

Gia đình các bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật Thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

  • - Về hình phạt bổ sung: Áp dụng Điều 35; khoản 3 Điều 321 Bộ luật Hình sự, buộc các bị cáo Nguyễn Hoàng C, Trần Thế C1 mỗi bị cáo phải nộp 20.000.000 (hai mươi triệu) đồng sung ngân sách Nhà nước. Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo Nguyễn Thanh H, Nguyễn Vĩnh H1, Nguyễn Đình T2, Nguyễn Hùng T3.
  • Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 45, điểm d khoản 1 Điều 125 Bộ luật Tố tụng hình sự: Hủy bỏ biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” đối với các bị cáo kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
  • - Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 46; điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 2, 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
  • + Tịch thu sung ngân sách Nhà Nước số tiền 57.200.000 đồng thu giữ trong vụ án.
  • + Tịch thu tiêu huỷ 02 bộ bài loại 100 quân, 02 đĩa sứ.
  • + Trả lại cho bị cáo Nguyễn Hoàng C số tiền 45.000.000 đồng, bị cáo Trần Thế C1 số tiền 20.000.000 đồng nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án, sau khi thi hành án còn dư thừa sẽ trả lại cho các bị cáo.
  • + Trả lại cho bị cáo Nguyễn Hùng T3 số tiền 5.150.000 đồng, bị cáo Nguyễn Đình T2 số tiền 1.200.000 đồng.

Theo Biên bản giao nhận vật chứng tài sản ngày 15/8/2024 giữa Công an quận N và Chi cục Thi hành án dân sự quận Ngô Quyền và Biên lai thu tiền số 0003155 ngày 20/8/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Ngô Quyền.

  • - Về án phí: Căn cứ Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc mỗi bị cáo phải nộp 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
  • - Về quyền kháng cáo đối với bản án: Các bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án.
  • Trường hợp bản án được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tp Hải Phòng;
  • - Sở Tư pháp tp Hải Phòng;
  • - VKSND tp Hải Phòng;
  • - Công an quận Ngô Quyền;
  • - Cơ quan điều tra, Công an quận Ngô Quyền;
  • - Cơ quan thi hành án hình sự có thẩm quyền;
  • - VKSND quận Ngô Quyền;
  • - Chi cục THADS quận Ngô Quyền;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án, HCTP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Ngọc Cường

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 230/2024/HS-ST ngày 20/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGÔ QUYỀN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về đánh bạc

  • Số bản án: 230/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Đánh bạc
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGÔ QUYỀN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: đánh bạc
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger