Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 230/2024/HS-PT

Ngày 13-12-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG

· Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: bà Hoàng Thị Hải Hường

Các Thẩm phán: ông Nguyễn Gia Lương; Bà Ngọ Thị Thanh Hảo

Thư ký phiên toà: ông Tôn Trọng Hưng - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang tham gia phiên toà: Ông Hoàng Tùng - Kiểm sát viên trung cấp.

Ngày 13/12/2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 51/2024/TLPT-HS ngày 10 tháng 10 năm 2024 đối với các bị cáo Hà Văn T, Phùng Văn M, Leo Anh T1, Trần Văn Đ do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 27/2024/HS-ST ngày 06/8/2024 của Tòa án nhân dân huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 316/2024/QĐXXPT-HS ngày 13 tháng 11 năm 2024.

* Các bị cáo kháng cáo:

  1. Trần Văn Đ, sinh ngày 15 tháng 8 năm 2004; Tên gọi khác: Không có; Giới tính: Nam. Nơi cư trú: TDP T, thị trấn T, huyện S, tỉnh Bắc Giang. Dân tộc: Tày; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ văn hóa: Lớp 11/12; Đảng, chính quyền, đoàn thể: Không. Họ và tên bố: Trần Văn T2; Họ và tên mẹ: Ngô Thị M1; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không có.
  2. Bị cáo không bị bắt tạm giữ, tạm giam; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú (có mặt)

  3. Leo Anh T1, sinh ngày 25 tháng 9 năm 2001; Tên gọi khác: Không có; Giới tính: Nam. Nơi cư trú: Thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Dân tộc: Sán Dìu; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ văn hóa: Lớp 09/12; Đảng, chính quyền, đoàn thể: Không. Họ và tên bố: Leo Văn H; Họ và tên mẹ: Mạc Thị T3; họ tên vợ: Nguyễn Thị Ngọc A sinh năm 2005, có 01 con sinh năm 2024
  4. Nhân thân: Bản án số 28/2021/HSST ngày 11/5/2021 của Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang xử phạt 02 năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 04 năm kể từ ngày tuyên án về tội “Vi phạm quay định về tham gia giao thông đường bộ”.

    Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 22/QĐ-XPHC ngày 06/07/2022 của Chủ tịch UBND xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang xử phạt 3.500.000 đồng về hành vi “Người được hưởng án treo đi khỏi nơi cư trú không xin phép hoặc không được sự đồng ý của UBND cấp xã hoặc vắng mặt tại nơi cư trú quá thời gian thời hạn cho phép”; ngày 06/7/2022, Leo Anh T1 đã nộp tiền phạt.

    Tiền Sự: Không.

    Bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú (có mặt)

  5. Hà Văn T, sinh ngày 29 tháng 01 năm 2007; Tên gọi khác: Không có; Giới tính: Nam. Nơi cư trú: thôn V, xã L, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ văn hóa: Lớp 10/12; Đảng, chính quyền, đoàn thể: Không. Họ và tên bố: Hà Văn T4; Họ và tên mẹ: Tơ Thị Đ1; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không có.
  6. Bị cáo không bị bắt tạm giữ, tạm giam; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú (có mặt)

  7. Phùng Văn M, sinh ngày 04 tháng 7 năm 2006; Tên gọi khác: Không có; Giới tính: Nam. Nơi cư trú: thôn N, xã B, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Dân tộc: Cao Lan; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ văn hóa: Lớp 09/12; Đảng, chính quyền, đoàn thể: Không. Họ và tên bố: Phùng Văn A1; Họ và tên mẹ: Trương Thị C; Vợ, con: Chưa có; Bị cáo có 03 anh chị em ruột, bản thân là con thứ 2 trong gia đình. Tiền án, tiền sự: Không có.
  8. Bị cáo không bị bắt tạm giữ, tạm giam; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú (có mặt)

  • * Người đại diện hợp pháp của bị cáo Hà Văn T: Chị Tô Thị P, sinh năm 1996; Nơi cư trú: Thôn R, xã L, huyện L, tỉnh Bắc Giang (vắng mặt).
  • * Người đại diện hợp pháp của bị cáo Phùng Văn M: Ông Phùng Văn A1, sinh năm 1982; Nơi cư trú: Thôn N, xã L, huyện L, tỉnh Bắc Giang (có mặt).
  • * Người bào chữa cho bị cáo Phùng Văn M: Bà Trần Thu T5 - Trợ giúp viên pháp lý - Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh B; (có mặt).
  • * Người bào chữa cho bị cáo Hà Văn T: Bà Giáp Thị H1 - Trợ giúp viên pháp lý- Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh B. (có mặt).
  • * Ngoài ra trong vụ án có 14 bị cáo khác và những người tham gia tố tụng khác nhưng không liên quan đến kháng cáo nên Tòa án cấp phúc thẩm không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Buổi tối ngày 27/7/2023 Nguyễn Xuân H2 đi chơi ở chùa H7, thị trấn T, huyện S, tỉnh Bắc Giang thì xảy ra mâu thuẫn cãi nhau với Long Tào P1 (Long Mạnh H3). Sau khi về nhà, H2 và P1 tiếp tục nhắn tin lời qua tiếng lại, thách thức đánh nhau qua ứng dụng facebook và hẹn tối ngày 28/7/2023 gặp nhau tại khu vực chùa H8 để giải quyết mâu thuẫn. Sau đó, H2 nhắn tin vào nhóm messenger “cảnh sát Hình Sự T” với nội dung “mai đi phang nhau” (nghĩa là mai đi đánh nhau) rủ mọi người trong nhóm tối ngày 28/7/2023 tập trung tại khu đô thị mới xã Đ, xã B, huyện L để đi lên thị trấn T Tử đánh nhau với nhóm của P1. Long Tào P1 cho Trần Văn Đ, sinh năm 2004 trú tại TDP T, thị trấn T, huyện S xem tin nhắn nói chuyện với H2 và rủ Đ đi đánh nhau với H2; Đ đồng ý và nhắn tin vào nhóm messenger “Húp” rủ mọi người trong nhóm tối ngày 28/7/2023 tập trung tại quán N1 thuộc tổ dân phố Đ, thị trấn T Tử để đi đánh nhau với nhóm của H2. Ngoài ra, H2, P1, Đ còn gọi điện, nhắn tin cho các đối tượng khác tập trung tại điểm hẹn rồi đi đánh nhau.

Đối với nhóm của Nguyễn Xuân H2: Khoảng 19 giờ 30 phút ngày 28/7/2023, nhóm của H2 tập trung tại khu đô thị M, xã B, huyện L gồm có H2, Vũ Đình D, Phùng Văn M, Nguyễn Như C1, Hiếu K, Nguyễn Chí Vàng A2, Đỗ Đặng C2, Phan Anh T6, Tống Văn C3, Hà Văn T và Trạc Minh T7. Lúc sau các đối tượng Leo Anh T1, Tô Văn H4, Trần Văn T8, Đàm Văn D1 đi đến gặp nhóm của H2. Lúc này, C3 rủ T1, H4, T8, D1 đi đánh nhau cùng với nhóm C3 thì mọi người đều đồng ý. Trước khi đi Phùng Văn M chuẩn bị 02 con dao loại dao phóng; Hà Văn T và Phan Anh T6 lấy 01 két vỏ chai bia Hà Nội, loại chai thủy tinh (trong két có khoảng hơn 10 vỏ chai bia) vất ở rìa đường; Nguyễn Như C1 chuẩn bị 01 gậy màu đen (ống nhựa) dài khoảng 40cm.

Khoảng 20 giờ 30 phút cùng ngày, nhóm của Nguyễn Xuân H2 bắt đầu di chuyển đến địa điểm đã hẹn từ trước với Long Tào P1. Khi đi, H2 điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 98F1- 403.54 chở Vũ Đình D cầm 02 vỏ chai bia; Trạc Minh T7 điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 98F1- 444.78 chở Phạm Hiếu K cầm 02 vỏ chai bia; Leo Anh T1 điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 98B3- 236.86 chở Đàm Văn D1 cầm 01 dao phóng lợn và 02 vỏ chai bia; Tô Văn H4 điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 98B3- 464.39 chở Trần Văn T8 cầm 01 dao phóng lợn và 02 vỏ chai bia; Phan Anh T6 điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 98F1- 275.14 chở Hà Văn T cầm 02 vỏ chai bia; Đỗ Đặng C2 điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 98B2- 858.76 chở Nguyễn Như C1 cầm 01 gậy nhựa; Nguyễn Chí Vàng A2 điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 98F1- 307.56 chở Phùng Văn M cầm 02 vỏ chai bia; Tống Văn C3 điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 98B2- 659.05 đi một mình, cầm 01 vỏ chai bia.

Đối với nhóm của Long Tào P1: Khoảng 20 giờ ngày 28/7/2023 nhóm của Long Tào P1 tập trung tại quán N1 gồm có: L, Nguyễn Xuân Q, Nguyễn Tiến Đ2, Nguyễn Thế Đ3, Huy H6, Ngọc Xuân K1, Trần Văn Đ, Hoàng Duy H5, Thân Thành Q1, Phạm Gia K2, Trương Văn B, Nguyễn Đăng K3 và Nguyễn Tường N.

Khoảng 20 giờ 30 phút cùng ngày, nhóm của Long Tào P1 bắt đầu di chuyển đến địa điểm đã hẹn từ trước với Nguyễn Xuân H2. Khi đi, Nguyễn Xuân Q điều khiển xe máy biển kiểm soát 98AD- 015.23 chở Nguyễn Tiến Đ2; Ngọc Xuân K1 điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 98L1- 104.33 chở Trần Văn Đ; Hoàng Duy H5 điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 98L1- 211.63 chở Thân Thành Q1; Phạm Gia K2 điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 98D1- 783.42 chở Trương Văn B; Ngô Huy H6 điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 98E1- 428.93 chở Nguyễn Đăng K3, K3 cầm 01 gậy sắt dài khoảng 40cm, đường kính khoảng 1.5cm từ nhà đi; Nguyễn Tường N điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 98E1- 495.34 chở Long Tào P1 và Nguyễn Thế Đ3 (P1 cầm 01 gây sắt dài khoảng 70cm, đường kính khoảng 02cm, Đ3 mang theo 01 con dao, loại dao quắm kích thước dài 68cm, lưỡi dao dài 29cm, một cạnh sắc, mũi dao cong, chuôi dao bằng kim loại dài 39cm từ nhà đi). Khi đi đến khu vực trước cổng chung cư của Công ty D2 có địa chỉ ở TDP M, thị trấn T, huyện S thì nhóm của P1 dừng lại chờ nhóm của Nguyễn Xuân H2. Lúc này, Q1 chở H5 đi ra ngã ba T, thị trấn T Tử lấy 02 két vỏ chai bia Hà Nội, loại chai thủy tinh ở một quán gần bờ đường, trong hai két bia đó có khoảng 20 vỏ chai bia thủy tinh và 02 con dao loại dao thái, mỗi con dài khoảng 30 - 25cm mang về chỗ nhóm Phá đứng. Sau đó H5 cầm 02 vỏ chai bia; Đ3 cầm 01 con dao quắm; B cầm 06 vỏ chai bia; Đ cầm 02 vỏ chai bia; P1 cầm 01 vỏ chai bia, 01 gậy sắt; K3 cầm 01 vỏ chai bia, 01 con dao, 01 gậy sắt; H6 cầm 01 gậy sắt dài khoảng 40cm, đường kính khoảng 1,5cm do Nguyễn Đăng K3 đưa cho.

Khoảng 21 giờ 30 phút cùng ngày, khi thấy nhóm của Nguyễn Xuân H2 đi đến thì nhóm của L Tào Phá gồm: Ngọc Xuân K1 nhặt 05 hòn đá ở rìa đường; Nguyễn Tiến Đ2 cầm 02 vỏ chai bia; Hoàng Duy H5 cầm 02 vỏ chai bia; Nguyễn Đăng K3 cầm 01 vỏ chai bia, 01 hòn đá nhặt ở đường ném về phía nhóm của H2. Còn Long Tào P1 cầm 01 gậy sắt, Nguyễn Đăng K3 cầm 01 con dao, Nguyễn Thế Đ3 cầm 01 con dao quắm; Ngô Huy H6 cầm 01 gậy sắt chạy về phía nhóm H2 để đánh nhau. Khi bị nhóm của P1 ném đá, vỏ chai bia thì nhóm của H2 cũng dùng vỏ chai bia ném lại nhóm P1 gồm: Nguyễn Xuân H2 lấy của Vũ Đình D 01 vỏ chai bia; Hà Văn T cầm 01 vỏ chai bia; Đàm Văn D1 cầm 02 vỏ chai bia; Trạc Minh T7 cầm 02 vỏ chai bia; Vũ Đình D cầm 02 vỏ chai bia; Tống Văn C3 cầm 01 vỏ chai bia, Phạm hiếu K cầm 02 vỏ chai bia. H2 hô “mang súng ra bắn đi” để dọa nhóm của P1 thì nhóm của P1 sợ và điều khiển xe mô tô bỏ chạy. Nhóm của H2 điều khiển xe mô tô, cầm dao phóng lợn, gậy đuổi theo nhóm P1. Trong đó: Nguyễn Xuân H2 điều khiển xe mô tô chở Vũ Đình D đuổi theo xe mô tô của N, P1, Đ3 nhưng không đuổi kịp nên quay lại chỗ đánh nhau; Nguyễn Chí Vàng A2 điều khiển xe mô tô chở Phùng Văn M và Hà Văn T điều khiển xe một tô chở Phan Anh T6 đuổi theo nhóm của P1 ra khu ngã ba TDP M thì gặp xe mô tô của N, P1, Đ3. Lúc này N điều khiển xe chở Đ3 cầm dao quắm, P1 cầm vỏ chai bia ném về phía xe của Nguyễn Chí Vàng A2, Hà Văn Thế thì A3 và T điều khiển xe bỏ chạy về hướng huyện L; N điều khiển xe đuổi theo. Anh và T điều khiển xe đến đoạn cửa hàng xăng dầu đang xây dựng thuộc TDP Mậu thì dừng lại và ném vỏ chai bia về phía xe N nên N quay xe bỏ chạy; Tô Văn H4 điều khiển xe mô tô chở Trần Văn T8 đuổi theo nhóm của P1 chạy theo hướng chùa H8 thì bị Phạm Gia K2, Trương Văn B ném vỏ chai bia nên H4 lái xe tránh và bị ngã ra cạnh đường, H4 và T8 bị sây sát nhe không đi điều trị ở cơ sở y tế nào và từ chối giám định thương tích. Nguyễn Đăng K3 và Ngô Huy H6 để lại xe mô tô biển kiểm soát 98E1- 428.93 bỏ chạy thì bị nhóm của H2 đập vỡ yếm và phần nhựa đầu xe.

Quá trình nhóm của Nguyễn Xuân H2 và nhóm của L Tào Phá đuổi, đánh nhau, một số người dân ở gần đã ra hô hoán, ngăn chặn không cho các đối tượng đuổi, đánh nhau nữa nên hai nhóm đã giải tán, đi về. Sau đó, ông Triệu Hữu Đ4 là Tổ trưởng tổ dân phố M, thị trấn T, huyện S đã có đơn trình báo vụ việc trên đến Công an huyện S.

Cơ quan CSĐT Công an huyện S đã tiến hành khám nghiệm hiện trường; thu giữ tại hiện trường nhiều mảnh thủy tinh của vỏ chai bia Hà Nội bị vỡ.

Quá trình điều tra vụ án, Cơ quan điều tra thu giữ của bà Trịnh Thị O 01 vỏ chai thủy tinh (bia Hà Nội), 01 con dao dài 34cm, lưỡi kim loại dài 20cm, rộng 05cm, chuôi bằng gỗ dài 14cm và 01 con dao nhọn dài 40cm, lưỡi bằng kim loại dài 30cm, cán bằng gỗ dài 10cm; thu giữ của Nguyễn Thế Đ3 01 con dao loại dao quắm bằng kim loại, tổng chiều dài 68cm; thu giữ của Nguyễn Tiến Đ2 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu đen, cũ qua sử dụng; thu giữ của Phạm Gia K2 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A3S màu đen, cũ qua sử dụng; thu giữ của Nguyễn Đăng K3 01 xe mô tô biển kiểm soát 98E1- 428.93.

Cơ quan CSĐT Công an huyện S đã yêu cầu định giá tài sản xác định trị giá thiệt hại đối với xe mô tô biển kiểm soát 98E1- 428.93. Bản Kết luận định giá tài sản số 40/KL-HĐĐGTS ngày 14/12/2023 của Hội đồng định giá tài sản huyện S, kết luận: Tổng giá trị các bộ phận phải sửa chữa, thay thế mới của xe mô tô biển kiểm soát 98E1- 428.93 là 485.000 đồng.

* Với hành vi phạm tội nêu trên, tại Bản án hình sự sơ thẩm số 27/2024/HS-ST ngày 06/8/2024 của Tòa án nhân dân huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang đã quyết định:

Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38; Điều 91; Điều 101 Bộ luật Hình sự: Xử phạt Phùng Văn M 01 (một) năm 07 (bảy) tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”.

Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự: Xử phạt Trần Văn Đ 02 (hai) năm 02 (hai) tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”.

Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 56; Điều 58; khoản 5 Điều 65; Điều 38 Bộ luật Hình sự: Xử phạt Leo Anh T1 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Chuyển 02 năm tù cho hưởng án treo của Bản án số 28/2021/HSST ngày 11/5/2021 của Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang thành 02 năm tù. Tổng hợp hình phạt chung của 02 bản án buộc bị cáo phải chấp hành là 04 (bốn) năm 03 (ba) tháng tù.

Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 91; Điều 101, Điều 38 Bộ luật Hình sự: Xử phạt Hà Văn T 01 (một) năm 07 (bảy) tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”.

Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn tuyên về hình phạt đối với các bị cáo khác, xử lý vật chứng, án phí và tuyên quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

Ngày 07/8/2024, bị cáo Leo Anh T1 và bị cáo Trần Văn Đ kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt. Ngày 9/8/2024 và ngày 12/8/2024 bị cáo Hà Văn T, Phùng Văn M xin hưởng án treo.

* Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo giữ nguyên yêu cầu kháng cáo và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Bị cáo Hà Văn T thay đổi, bổ sung nội dung kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo.

* Đại diện VKSND tỉnh Bắc Giang thực hành quyền công tố tại phiên toà, sau khi phân tích các tình tiết của vụ án, tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội do bị cáo gây ra, vai trò, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo đề nghị HĐXX: Căn cứ điểm a, b khoản 1 Điều 355; điểm c, e khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự, sửa bản án hình sự sơ thẩm số 27/2024/HS-ST ngày 06/8/2024 của Tòa án nhân dân huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang. Không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Leo Anh T1 và bị cáo Trần Văn Đ. Chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Hà Văn T xử phạt bị cáo 01 năm 05 tháng; Chấp nhận kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo Phùng Văn M xử phạt bị cáo Phùng Văn M 01 năm 07 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, ấn định thời gian thửa thách đối với cáo M. Miễn án phí HSST cho bị cáo Hà Văn T và Phùng Văn M.

Người bào chữa cho bị cáo Phùng Văn M trình bày bào chữa: Bị cáo đã ăn năn hối cải về hành vi của mình, phạm tội chưa đủ 18 tuổi, nhận thức pháp luật còn hạn chế, vai trò thứ yếu, chưa có tiền án tiền sự, nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại Điều 51 Bộ luật hình sự. Đề nghị HĐXX áp dụng Điều 65 cho bị cáo được hưởng án treo. Bị cáo là người dân tộc thiểu số sống ở xã có kinh tế khó khăn nên đề nghị miễn án phí HSST cho bị cáo.

Người bào chữa cho bị cáo Hà Văn T trình bày bào chữa: Về tội danh của bị cáo không có ý kiến gì, các bị cáo có tuổi đời còn trẻ, hoàn cảnh gia đình khó khăn, đề nghị áp dụng quy định chương người dưới 18 tuổi phạm tội giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo được hưởng mức án từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 05 tháng để bị cáo có cơ hội sửa chữa sai lầm. Bị cáo là người dân tộc thiểu số sống ở xã có kinh tế khó khăn nên đề nghị miễn án phí HSST cho bị cáo.

* Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm.

* Các bị cáo không có ý kiến gì tranh luận gì.

* Các bị cáo nói lời sau cùng: Các bị cáo đề nghị hội đồng xét xử xem xét chấp nhận kháng cáo của các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về tội danh của các bị cáo: Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo khác trong quá trình điều tra, phù hợp lời khai của người làm chứng, người chứng kiến và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận:

Do có mâu thuẫn với nhau từ trước nên Nguyễn Xuân H2 và Long Tào P1 (Long Mạnh H3), sinh ngày 28/10/2008, trú tại TDP Đ, thị trấn T, huyện S đã có lời nói qua lại, thách thức hẹn tối ngày 28/7/2023 gặp nhau để giải quyết mâu thuẫn. Sau đó, H2, Phá nhắn tin rủ thêm nhiều đối tượng khác mang theo hung khí đến điểm hẹn để đánh nhau.

Khoảng 21 giờ 30 phút ngày 28/7/2023, tại Tổ dân phố M, thị trấn T, huyện S, tỉnh Bắc Giang, các đối tượng Nguyễn Xuân H2, Nguyễn Như C1, Hà Văn T, Đàm Văn D1, Đỗ Đặng C2, Phùng Văn M, Leo Anh T1, Trần Văn T8, Tô Văn H4, Trần Văn Đ, Thân Thành Q1, Hoàng Duy H5, Nguyễn Thế Đ3, Nguyễn Xuân Q, Nguyễn Tiến Đ2, Ngô Huy H6, Phạm Gia K2, Nguyễn Tường N cùng một số các đối tượng khác sử dụng phương tiện (xe mô tô), hung khí nguy hiểm (dao, vỏ chai bia thủy tinh, đá...), đuổi đánh nhau trên đường giao thông, đập phá 01 chiếc xe mô tô gây hư hỏng nhẹ, làm ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội tại khu vực dân cư thuộc Tổ dân phố M, thị trấn T, huyện S.

Các bị cáo đã dùng xe mô tô đuổi đánh nhau trên đường, dùng dao, chai bia để đánh và ném nhau gây náo loạn ở khu đông dân cư. Như vậy, hành vi của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Gây rối trật tự công cộng” theo điểm b khoản 2 Điều 318 của Bộ luật Hình sự. Bản án sơ thẩm xét xử các bị cáo về tội danh, điều khoản áp dụng nêu trên là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật, không oan, sai.

Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến an ninh, trật tự và an toàn xã hội tại địa phương, đồng thời là nguyên nhân phát sinh nhiều loại tội phạm khác. Các bị cáo nhận thức rõ hành vi của bản thân là vi phạm pháp luật hình sự nhưng vẫn cố ý phạm tội nên cần xử lý nghiêm các bị cáo bằng pháp luật hình sự nhằm răn đe, giáo dục riêng và phòng ngừa chung cho loại tội này. Do các bị cáo chỉ kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo nên Hội đồng xét xử căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ, lời khai của bị cáo, người có quyền lợi nghĩa liên quan thấy có căn cứ xác định các bị cáo phạm tội như bản án sơ thẩm đã xét xử nên chỉ xem xét yêu cầu kháng cáo của các bị cáo.

[2]. Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Leo Anh T1, Trần Văn Đ, Hội đồng xét xử xét thấy:

Trần Văn Đ cùng bị cáo H2, C1 là những người nhắn tin lên nhóm Facebook rủ các bị cáo khác đi đánh nhau, nên phải chịu vai trò chính trong vụ án. Bị cáo Leo Anh T1 là người điều khiển xe mô tô và cùng tham gia vào đánh nhau. Bị cáo Anh T1 có nhân thân xấu: năm 2021 bị xét xử và năm 2022 bị xử phạt vi phạm hành chính. Tòa án cấp sơ thẩm đã căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ TNHS xử phạt bị cáo Leo Anh T1 mức án 02 năm 03 tháng tù và xử phạt Trần Văn Đ mức án 02 năm 02 tháng tù là đảm bảo không nặng. Tại phiên tòa các bị cáo không xuất trình thêm tình tiết giảm nhẹ gì mới, khác so với phiên tòa sơ thẩm. Do vậy không có căn cứ xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ.

[3]. Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Hà Văn T và kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo Hà Văn T, Phùng Văn M, Hội đồng xét xử xét thấy:

Bị cáo Hà Văn T cùng một số bị cáo khác chuẩn bị công cụ, phương tiện để thực hiện hành vi phạm tội nên bị cáo giữ vai trò đồng phạm tích cực trong vụ án sau bị cáo Đ. Tòa án cấp sơ thẩm đã căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi phạm tội xử phạt bị cáo Hà Văn T 1 năm 07 tháng tù là đảm bảo nhưng bị cáo Hà Văn T chỉ có 01 tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm Điều 51 Bộ luật hình sự nên không đủ điều kiện được hưởng án treo theo quy định tại Điều 65 Bộ luật hình sự. Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo T không cung cấp thêm được tình tiết giảm nhẹ mới nào khác so với phiên tòa sơ thẩm nên không có căn cứ cho bị cáo được hưởng án treo. Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Hội đồng xét xử thấy: Bị cáo có vai trò thứ yếu, hoàn cảnh gia đình khó khăn, bố mẹ ly hôn, bị cáo sống cùng bà nội; bị cáo là người dân tộc thiểu số, nhận thức pháp luật còn hạn chế và phạm tội khi chưa đủ 18 tuổi. Do vậy, cần áp dụng quy định tại các Điều 91; Điều 101 Bộ luật hình sự giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo Hà Văn T như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ.

Bị cáo Phùng Văn M cùng một số bị cáo khác chuẩn bị công cụ, phương tiện để thực hiện hành vi phạm tội nên bị cáo giữ vai trò đồng phạm tích cực trong vụ án sau bị cáo Đ. Quá trình xét xử sơ thẩm bị cáo có nhân thân tốt, nhiều tình tiết giảm nhẹ, bản thân bị cáo được nhà trường tặng nhiều giấy khen có nhiều thành tích trong học tập và thể thao. Năm 2017 được UBND huyện L, tỉnh Bắc Giang khen thưởng đạt thành tích xuất sắc trong kỳ thi học sinh giỏi cấp tỉnh môn văn và môn toán năm 2017. Do vậy, áp dụng thêm cho bị cáo tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm v khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để đảm bảo quyền lợi cho bị cáo. Xét bị cáo M có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự, có địa chỉ cư trú rõ ràng. Thời điểm phạm tội chưa đủ 18 tuổi, nhận thức việc làm của mình là sai trái, ăn năn hối cải về hành vi mình đã thực hiện. Việc không bắt bị cáo M phải chấp hành hình phạt tù cũng không gây ảnh hưởng xấu trong quá trình đấu tranh phòng chống tội phạm, không gây nguy hiểm cho xã hội. Để đảm bảo tính nhân đạo, khoan hồng của Nhà nước, không cần bắt bị cáo M phải cách ly khỏi xã hội, mà cho bị cáo Minh cải T9 tại địa phương cũng đủ giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội. Đại diện Viện kiểm sát đề nghị mức hình phạt tù nhưng cho bị cáo M được hưởng án treo là phù hợp hướng dẫn tại Nghị quyết số 02/NQ-HĐTP ngày 15-5-2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao và Nghị quyết số 01/NQ-HĐTP ngày 15-4-2022 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị quyết số 02/NQ-HĐTP ngày 15-5-2018 và Điều 65 Bộ luật hình sự, có căn cứ chấp nhận.

[4]. Ngoài ra Tòa án cấp sơ thẩm xác định bị cáo Leo Anh T1 có 1 tiền án tại Bản án số 28/2021/HSST ngày 11/5/2021 của Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang xử phạt 02 năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 04 năm kể từ ngày tuyên án về tội “Vi phạm quay định về tham gia giao thông đường bộ” và buộc bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng quy định tại điểm h Điều 52 Bộ luật hình sự để xét đối với bị cáo là không đúng. Theo quy định tại khoản 2 Điều 69 Bộ luật hình sự thì bị cáo phạm tội do lỗi vô ý nên hành vi phạm tội của bị cáo năm 2021 không được coi là có án tích nên không áp dụng tình tiết tăng nặng quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 đối với bị cáo Leo Anh T1. Do vậy Hội đồng xét xử cần sửa án sơ thẩm không áp dụng tình tiết tăng nặng với bị cáo Leo Anh T1.

Do bị cáo Leo Anh T1 phạm tội trong thời gian thử thách của án treo nên áp dụng khoản 5 Điều 56; Điều 38 Bộ luật hình sự tổng hợp hình phạt buộc bị cáo Leo Anh T1 phải chấp hành chung cho cả hai bản án.

[5]. Về án phí sơ thẩm: Bị cáo Phùng Văn M và bị cáo Hà Văn Thế L1 người dân tộc thiểu số, sống ở vùng kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn. Tòa án cấp thẩm không miễn án phí hình sự sơ thẩm cho các bị cáo là không đảm bảo quyền lợi cho các bị cáo. Do vậy Hội đồng xét căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội miễn án phí HSST cho hai bị cáo M, T.

[6]. Từ những nhận định nêu trên, HĐXX không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Leo Anh T1, Trần Văn Đ. Chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Hà Văn T. Chấp nhận kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo Phùng Văn M.

[7]. Về án phí phúc thẩm:

Căn cứ điểm a, h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, do kháng cáo của các bị cáo Leo Anh T1, Trần Văn Đ không được chấp nhận nên các bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm. Kháng cáo của bị cáo Hà Văn T, Phùng Văn M được chấp nhận nên bị cáo T, M không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

[6]. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị, cấp phúc thẩm không xem xét giải quyết .

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Căn cứ điểm a, b khoản 1 Điều 355; điểm c, e khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự. Không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Leo Anh T1, Trần Văn Đ. Chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Hà Văn T. Chấp nhận kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo Phùng Văn M.

Sửa bản án hình sự sơ thẩm số 27/2024/HS-ST ngày 06/8/2024 của Tòa án nhân dân huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang về hình phạt đối với bị cáo Phùng Văn M, Hà Văn T.

- Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự:

Xử phạt Trần Văn Đ 02 (hai) năm 02 (hai) tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”, thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo để thi hành án.

- Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 17; Điều 56; Điều 58; khoản 5 Điều 65; Điều 38 Bộ luật Hình sự:

Xử phạt Leo Anh T1 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Tổng hợp hình phạt 02 năm tù cho hưởng án treo của bản án số 28/2021/HSST ngày 11/5/2021 của Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang buộc bị cáo Leo Anh T1 phải chấp hành chung cho cả hai bản án là 04 (bốn) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo để thi hành án.

- Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 91; Điều 101, Điều 38 Bộ luật Hình sự:

Xử phạt Hà Văn T 01 (một) năm 05 (năm) tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”, thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo để thi hành án.

- Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s, v khoản 1, 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 65; Điều 91; Điều 101 Bộ luật Hình sự:

Xử phạt Phùng Văn M 01 (một) năm 07 (bảy) tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng” nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 03 (ba) năm 02 (hai) tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.

Giao bị cáo Phùng Văn M cho UBND xã B, huyện L, tỉnh Bắc Giang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Trường hợp người được hưởng án treo, bị cáo Phùng Văn M thay đổi nơi cư trú thì áp dụng theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự.

2. Về án phí sơ thẩm: Miễn án phí HSST cho bị cáo Phùng Văn M, Hà Văn T.

3. Về án phí hình sự phúc thẩm: Căn cứ điểm a, h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, bị cáo Phùng Văn M, Hà Văn T không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm. Các bị cáo Leo Anh T1, Trần Văn Đ mỗi bị cáo phải chịu 200.000đồng tiền án phí hình sự phúc thẩm.

4. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhân:

  • - VKSND tỉnh Bắc Giang;
  • - Sở tư pháp tỉnh Bắc Giang;
  • - Cơ quan CSĐT, VKS, TAND, Chi cục THADS huyện Sơn Động;
  • - Cổng thông tin điện tử Tòa án;
  • - Bị cáo, người tham gia tố tụng;
  • - Lưu Hồ sơ, HCТР.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Hoàng Thị Hải Hường

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 230/2024/HS-PT ngày 13/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG về hình sự phúc thẩm về tội gây rối trật tự công cộng

  • Số bản án: 230/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm về tội Gây rối trật tự công cộng
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 13/12/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Gây rối trật tự công cộng
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger