Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH LONG AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 230/2024/DS-PT

Ngày: 13-5-2024

V/v tranh chấp ranh đất

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Hữu Nghĩa

Các Thẩm phán: Ông Đặng Văn Những

Bà Lê Thị Kim Nga

Thư ký phiên tòa: Bà Trương Thị Luyến - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Long An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An tham gia phiên tòa: Ông Huỳnh Phạm Khánh - Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Long An xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 139/2024/TLPT-DS ngày 07 tháng 3 năm 2024, về việc: “Tranh chấp ranh đất”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 307/2023/DS-ST ngày 24 tháng 11 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 166/2024/QĐ-PT ngày 21 tháng 3 năm 2024, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ông Ngô Đức L, sinh năm 1965.

Địa chỉ: Số A, Lâm Thị H, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh (có mặt).

Bị đơn: Bà Lê Thị T, sinh năm 1956.

Địa chỉ: Số C, L, Phường H, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo ủy quyền của bà T: Ông Mai Thanh N, sinh năm: 1989.

Địa chỉ: Số 16A Ô 6 khu B, thị trấn H, huyện Đ, tỉnh Long An. (Theo Hợp đồng ủy quyền ngày 22/11/2023 tại Văn phòng C) (có mặt).

- Người kháng cáo: Ông Ngô Đức L.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 23/12/2021 và trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, nguyên đơn ông Ngô Đức L do ông Lê Văn P là người đại diện theo ủy quyền trình bày:

Ông Ngô Đức L là chủ sử dụng thửa đất số 2220, tờ bản đồ số 12, diện tích 224m² (ngang 5 mét, dài 48 mét), loại đất ở tại nông thôn, tọa lạc tại ấp M, xã M, huyện Đ, tỉnh Long An theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CN 195810 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh L cấp ngày 28/3/2018. Bà T là người sử dụng thửa đất số 284 liền kề với thửa đất của ông L, đã tự ý xây dựng hàng rào, lấn chiếm sang thửa đất của ông Lương ngang 0,5 mét, dài 48 mét. Ông L nhiều lần yêu cầu bà T trả lại đất nhưng không thành.

Ông L khởi kiện yêu cầu bà T phải tháo dỡ hàng rào, trả lại phần đất lấn chiếm chiều ngang 0,5 mét, dài 48 mét, thuộc một phần thửa đất số 2220, tờ bản đồ số 12, đất tại ấp M, xã M, huyện Đ, tỉnh Long An.

Tại phiên Tòa, ông L thay đổi một phần yêu cầu khởi kiện, theo đó chỉ yêu cầu bà T trả lại cho ông Lương ngang 0,25 mét, dài hết đất (khu B, khu C theo Mảnh trích đo địa chính số 868-2023 do Chi nhánh Văn phòng Đăng ký Đất đai tại huyện Đ duyệt ngày 20/10/2023) thuộc một phần thửa 2220, tờ bản đồ số 12, đất tại ấp M, xã M, huyện Đ, tỉnh Long An.

Bị đơn bà Lê Thị T do ông Mai Thanh N đại diện trình bày:

Bà T là chủ sử dụng hợp pháp thửa đất số 284, tờ bản đồ số 12, đất tại xã M, huyện Đ, tỉnh Long An. Tiếp giáp với thửa đất số 284 là thửa 2220, tờ bản đồ số 12 của ông Ngô Đức L. Trong quá trình sử dụng, bà T không lấn chiếm đất của ông L. Năm 2004, bà T đã xây dựng nhà trọ kiên cố, làm ranh giới giữa hai bên. Nay ông L yêu cầu bà T trả lại phần đất đã lấn chiếm, cụ thể khu B, khu C của Mảnh trích đo địa chính số 868-2023 do Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại huyện Đ duyệt ngày 20/10/2023, cụ thể diện tích là 11,5m² (ngang 0,25 mét, dài hết đất) bà T không đồng ý.

Bà T có yêu cầu phản tố, yêu cầu ông Ngô Đức L di dời, tháo dỡ 04 trụ bê tông (01 trụ cao khoảng 01 mét, 03 trụ còn lại khoảng 0,5 mét). Riêng đối với yêu cầu phản tố buộc ông L trả lại phần đất lấn chiếm của bà T thuộc thửa đất số 284, tờ bản đồ số 12, đất tại xã M, huyện Đ, tỉnh Long An thì bà T xin rút lại yêu cầu này.

Tại bản án dân sự sơ thẩm số 307/2023/DS-ST ngày 24 tháng 11 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa đã tuyên xử:

  1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Ngô Đức L do ông Lê Văn P là người đại diện theo ủy quyền về việc “Tranh chấp ranh đất” đối với bà Lê Thị T do ông Mai Thanh N là người đại diện theo ủy quyền về việc buộc bà T phải tháo dỡ hàng rào, trả lại phần đất chiếm chiều ngang 0,5 mét, dài 48 mét, thuộc một phần thửa 2220, tờ bản đồ số 12, đất tại ấp M, xã M, huyện Đ, tỉnh Long An.

Xác định ranh đất giữa thửa 2220, tờ bản đồ số 12, đất tại ấp M, xã M, huyện Đ, tỉnh Long An và thửa 284, tờ bản đồ số 12, đất tại ấp M, xã M, huyện Đ, tỉnh Long An là đường gạch màu xanh do bị đơn (bà T) xác định theo Mảnh trích đo địa chính số 868-2023 do Chi nhánh Văn phòng Đăng ký Đất đai tại huyện Đ duyệt ngày 20/10/2023.

Các đương sự có quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm liên hệ với cơ quan có thẩm quyền để đăng ký, kê khai, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và sở hữu tài sản gắn liền với đất theo quy định pháp luật về đất đai đối với thửa 2220, tờ bản đồ số 12 và thửa 284, tờ bản đồ số 12, đất tại ấp M, xã M, huyện Đ, tỉnh Long An. Văn phòng đăng ký đất đai, cơ quan Tài nguyên và Môi trường căn cứ vào bản án, quyết định của Tòa án để giải quyết điều chỉnh biến động hoặc cấp lại Giấy chứng nhận QSDĐ phù hợp với kết quả giải quyết vụ án.

  1. Chấp nhận một phần yêu cầu phản tố của bà Lê Thị T đối với ông Ngô Đức L:

Buộc ông Ngô Đức L di dời, tháo dỡ 04 trụ bê tông (01 trụ cao khoảng 01 mét, 03 trụ còn lại khoảng 0,5 mét) cắm trên phần mí đất thuộc một phần thửa 284, tờ bản đồ số 12, đất tại ấp M, xã M, huyện Đ, tỉnh Long An.

  1. Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị T đối với ông Ngô Đức L về việc buộc ông L trả lại phần đất lấn chiếm của bà T thuộc thửa đất số 284, tờ bản đồ số 12, đất tại xã M, huyện Đ, tỉnh Long An.

Khi có quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự, đương sự không có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết lại vụ án dân sự đó, nếu việc khởi kiện vụ án sau không có gì khác với vụ án trước về nguyên đơn, bị đơn và quan hệ pháp luật có tranh chấp, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 192, điểm c khoản 1 Điều 217 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015 và các trường hợp khác theo quy định của pháp luật.

  1. Về chi phí thẩm định, định giá, đo đạc: Ông Lương phải chịu 55.000.000 đồng. Ông L đã nộp và chi phí xong.
  1. Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Ngô Đức L phải chịu 600.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm, sung công quỹ nhà nước nhưng được khấu trừ 300.000 đồng đã nộp theo biên lai thu số 0009489 ngày 12/01/2022 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Đức Hòa, tỉnh Long An. Ông L còn phải nộp thêm 300.000 đồng.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về quyền kháng cáo và hướng dẫn thi hành án.

Bản án sơ thẩm chưa có hiệu lực, ngày 07/12/2024, ông Ngô Đức L kháng cáo đề nghị sửa án sơ thẩm theo hướng chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông L, bác yêu cầu phản tố của bà Lê Thị T.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Ông Ngô Đức L trình bày: Nguồn gốc thửa đất số 2220 là do ông nhận chuyển nhượng từ bà Nguyễn Thị Hồng P1 vào ngày 05/4/2018. Khi bà P1 giao đất là giao trọn thửa (theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất) không có đo đạc thực tế; nhưng bà P1 chỉ ranh sát mí tường nhà trọ của bà T, ông có tự cấm trụ chứ không có mời bà T và các hộ liền kề ra xác định ranh giới. Sau đó bà T đã phá dỡ phần nhà trọ, bà T có chừa lại phần tường gạch bị đập dang dỡ, tiếp đến, bà T đã xây thêm phần tường gạch từ chỗ công trình xây dựng cũ nối dài lên trên mặt tiền đất rồi rào lưới B40. Bà T đã tự ý xây dựng hàng rào, lấn chiếm sang thửa đất của ông chiều ngang 0,25m dài 48m cụ thể là khu B, khu C của Mảnh trích đo địa chính số 868-2023 do Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại huyện Đ duyệt ngày 20/10/2023, diện tích là 11,5m² nên ông L yêu cầu bà T trả lại cho ông L. Đối với yêu cầu phản tố của bà T, ông L không đồng ý nên đề nghị bác yêu cầu phản tố của bà T.

Ông Mai Thanh N trình bày: Ông L cho rằng bà T đã tự ý xây dựng hàng rào, lấn chiếm sang thửa đất của ông chiều ngang 0,25m dài 48m cụ thể khu B, khu C là không đúng. Đất của ông L tại thửa 2220 và đất của bà T tại thửa 284 có ranh giới là vách tường nhà trọ của bà T xây từ năm 2004. Năm 2018 bà T bà xây hàng rào theo phần tường gạch cũ chứ không có lấn đất của ông L. Bà T yêu cầu được tiếp tục sử dụng đất tranh chấp cụ thể là khu B, khu C và được đứng tên phần đất này, yêu cầu ông L phải di dời, tháo dỡ 04 trụ bê tông (01 trụ cao khoảng 01 mét, 03 trụ còn lại khoảng 0,5 mét) cắm trên phần mí đất thuộc một phần thửa đất số 284. Ông N xác nhận đất tại thửa 284 của bà T là do kê khai cấp lần đầu, không có đo đạc thực tế.

Kiểm sát viên phát biểu ý kiến:

1. Về chấp hành pháp luật:

Thẩm phán, Hội đồng xét xử phúc thẩm, thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự và các văn bản quy phạm pháp luật từ khi thụ lý giải quyết vụ án để xét xử phúc thẩm đến trước thời điểm nghị án. Người tham gia tố tụng (nguyên đơn, bị đơn) đã thực hiện đúng, đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định tại Điều 70, 71, 72 của Bộ luật tố tụng dân sự.

2. Về giải quyết vụ án:

Kháng cáo của ông Ngô Đức L thực hiện đúng quy định tại các Điều 272, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 về nội dung và thời hạn kháng cáo, đủ căn cứ và hợp pháp để xem xét theo trình tự phúc thẩm.

Xét kháng cáo của ông Ngô Đức L nhận thấy:

Ngày 19/11/2015, ông Trần Văn T1 được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh L cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CC 570402, số vào sổ cấp GCN: CS02354, với diện tích 449,0m², tại thửa đất số 591, tờ bản đồ số 12, đất tại: Ấp M, xã M, huyện Đ, tỉnh Long An.

Sau đó, ông Trần Văn T1 tách thửa chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho bà Huỳnh Thị N1, với diện tích 224,0m², tại thửa đất số 591 (một phần thửa), thửa mới: 2220, tờ bản đồ số 12, và được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh L cấp Giấy chứng nhận số CL 109336, số vào sổ cấp GCN: CS06864, cấp ngày 19/9/2017 cho bà Huỳnh Thị N1. Có Mảnh trích đo địa chính số 403-2017 được Chi nhánh Văn phòng Đăng ký Đất đai tại huyện Đ duyệt ngày 17/8/2017 thể hiện chiều ngang thửa đất là 5m. Ngày 26/02/2018, bà Huỳnh Thị Ngọc 1 Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho bà Nguyễn Thị Hồng P1, trọn thửa 2220 với diện tích 224,0m², cũng thể hiện chiều ngang thửa đất là 5m. Ngày 05/3/2018, bà Nguyễn Thị Hồng P1 tiếp tục chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho ông Ngô Đức L trọn thửa đất số 2220.

Trích lục bản đồ địa chính của Chi nhánh Văn phòng Đăng ký Đất đai tại huyện Đ ngày 09/4/2018 thể hiện chiều ngang thửa đất là 5m.

Bà Lê Thị Thu n chuyển nhượng đất của bà Nguyễn Thị H1 và được UBND huyện Đ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa đất số 284, tờ bản đồ số 12, diện tích 528m², loại đất ao (hồ) và thửa đất số 315, tờ bản đồ số 12, diện tích 300m², loại đất thổ, đất tại xã M, huyện Đ, tỉnh Long An vào ngày 10/7/2002. Khi chuyển nhượng không có đo đạc thực tế hiện trạng sử dụng đất mà chỉ trích lục bản đồ địa chính được Phòng Nông nghiệp Địa chính ký duyệt ngày 29/5/2002 (không thể hiện kích thước các cạnh thửa đất).

Theo Mảnh trích đo địa chính số 868-2023 do Công ty TNHH Đ vẽ được Chi nhánh Văn phòng Đăng ký Đất đai tại huyện Đ duyệt ngày 20/10/2023 thể hiện phần đất tranh chấp là khu B diện tích 6,3m² và khu C diện tích 5,2m² theo ranh bản đồ địa chính thuộc một phần thửa đất số 2220 (thửa mới 14) của ông L. Tuy nhiên, theo Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 18/02/2022 của Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa thể hiện trên phần đất tranh chấp: Có 01 hàng rào có kết cấu trụ gạch, tường xây gạch lửng, lưới B40 do bà T xây dựng năm 2018. Có một phần nhà có kết cấu móng cột gạch, tường xây gạch, nền gạch men, mái tole thiếc, xà gồ gỗ do bà T xây dựng năm 2004. Bà T trình bày bà xây hàng rào theo phần tường gạch cũ chứ không có lấn đất của ông L. Ông L trình bày sau khi bán đất thì bà T đã phá dỡ phần nhà trọ, bà T có chừa lại phần tường gạch bị đập dang dỡ, sau đó bà T đã xây thêm phần tường gạch từ chỗ công trình xây dựng cũ nối dài lên trên mặt tiền đất rồi rào lưới B40. Như vậy, theo trình bày của bà T và ông L có cơ sở xác định bà T xây hàng rào theo phần tường gạch cũ. Ngoài ra, ông L chưa xác định được thửa đất tiếp giáp cạnh phía Tây của thửa đất 2220 của ông L đã có ranh giới chưa, có lấn đất của ông Lương k. Do đó, không đủ cơ sở xác định bà T xây hàng rào có lấn đất của ông L.

Ngoài ra, ông L có cắm 04 trụ bê tông (01 trụ cao khoảng 01 mét, 03 trụ còn lại khoảng 0,5 mét) trên phần mí đất tiếp giáp mặt nước ao thuộc một phần thửa đất số 284 của bà T. Việc cắm các trụ này do ông Lương t cắm sau thời gian công trình làm đường làm mất cọc. Do đó, không thể căn cứ vào 04 trụ bê tông này để xác định ranh đất giữa ông L và bà T. Vì vậy, việc bà T yêu cầu ông Lương di d, tháo dỡ 04 trụ bê tông là có căn cứ.

Ông L kháng cáo nhưng không cung cấp được chứng cứ gì khác nên căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, giữ nguyên Bản án sơ thẩm. Tuy nhiên cấp sơ thẩm tuyên chưa chính xác nên cần sửa cách tuyên cho phù hợp và đảm bảo thi hành án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của ông Ngô Đức L đúng quy định của pháp luật nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm.

[2] Tại phiên tòa phúc thẩm: Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện đơn và yêu cầu kháng cáo. Các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.

[3] Xét kháng cáo của ông Ngô Đức L nhận thấy:

[3.1] Về diện tích đất tranh chấp: Căn cứ bản mô tả ranh giới, mốc giới thửa đất; Phiếu xác nhận kết quả đo đạc hiện trạng thửa đất; Mảnh trích đo địa chính do Công ty trách nhiệm hữu hạn Đ được Chi nhánh Văn phòng đất đai huyện Đ ký duyệt ngày 20/10/2023; Biên bản định giá và biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ, xác định diện tích đất tranh chấp là 6,3m² (thể hiện tại khu B) và 5,2m (thể hiện tại khu C). Đất tại khu B và khu C nằm trọn trong ranh cấp giấy của thửa 2220 (thửa củ), thửa mới là thửa số 14 thuộc quyền sử dụng của ông Ngô Đức L.

[3.2] Về nguồn gốc, quá trình sử dụng đất và quy trình cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: Theo Công văn số 2074/CN.VPĐKĐĐ-HCTH ngày 27/6/2022 và Công văn số 3204/CN.VPĐKĐĐ-HCTH ngày 26/9/2022 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại huyện Đ thì xác định hồ sơ cấp giấy chứng nhận tại thửa đất số 2220, tờ bản đồ số 12 và thửa đất số 284, tờ bản đồ số 12 cho ông L, bà T đều không có đo đạc thực tế hiện trạng sử dụng đất mà thay vào đó là trích lục bản đồ địa chính được Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh L, Phòng Nông nghiệp Địa chính ký duyệt. Thửa đất số 220 có nguồn gốc của ông Trần Văn T1, ông T1 chuyển nhượng cho bà Huỳnh Thị N1. Ngày 26/02/2018, bà N1 chuyển nhượng cho bà Nguyễn Thị Hồng P1. Ngày 05/3/2018, bà P1 chuyển nhượng cho ông Ngô Đức L (chuyển trọn thửa). Thửa đất số 284 cấp cho bà T theo Quyết định số374/QĐ.UB ngày 10/7/2002 của Ủy ban nhân dân huyện Đ.

Mặc dù ông L được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 2220, tờ bản đồ số 12, ngang 05 mét, dài hết đất từ bà Nguyễn Thị Hồng P1, tuy nhiên, việc chuyển nhượng này chỉ dựa vào trích lục chứ không đo đạc thực tế.

[3.3] Cả ông L và bà T đều xác định, ranh giới giữa thửa đất số 2220 và thửa 284 là chân tường nhà trọ mà bà T đã xây dựng năm 2004. Và theo Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 18/02/2022 của Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa thể hiện trên phần đất tranh chấp: Có 01 hàng rào có kết cấu trụ gạch, tường xây gạch lửng, lưới B40 do bà T xây dựng năm 2018, có một phần nhà có kết cấu móng cột gạch, tường xây gạch, nền gạch men, mái tole thiếc, xà gồ gỗ do bà T xây dựng đây là tình tiết không phải chứng minh theo khoản 2 điều 92 Bộ Luật Tố tụng Dân sự.

Ông L cho rằng sau khi bán đất thì bà T đã phá dỡ phần nhà trọ, bà T có chừa lại phần tường gạch bị đập dang dỡ, sau đó bà T đã xây thêm phần tường gạch từ chỗ công trình xây dựng cũ nối dài lên trên mặt tiền đất rồi rào lưới B40 lấn sang đất của ông L. Nhưng không được bà T thừa nhận và ông L không cung cấp được chứng cứ gì khác để chứng minh ngoài Mảnh trích đo địa chính do Công ty trách nhiệm hữu hạn Đ được Chi nhánh Văn phòng đất đai tại huyện Đ ký duyệt ngày 20/10/2023 thể hiện diện tích đất tranh chấp là 6,3m² (thể hiện tại khu B) và 5,2m² (thể hiện tại khu C). Đất tại khu B và khu C nằm trọn trong ranh cấp giấy của thửa 2220 để cho rằng bà T lấn đất của ông L là không đủ căn cứ. Ngoài ra, ông L có cắm 04 trụ bê tông (01 trụ cao khoảng 01 mét, 03 trụ còn lại khoảng 0,5 mét) trên phần mí đất tiếp giáp mặt nước ao thuộc một phần thửa đất số 284 của bà T. Việc cắm các trụ này do ông Lương t cắm sau thời gian công trình làm đường làm mất cọc. Do đó, không thể căn cứ vào 04 trụ bê tông này để xác định ranh đất giữa ông L và bà T. Vì vậy, việc bà T yêu cầu ông Lương di d, tháo dỡ 04 trụ bê tông là có căn cứ. Cấp sơ thẩm căn cứ vào quá trình sử dụng đất thực tế của hai bên để bác yêu cầu khởi kiện của ông L và chấp nhận yêu cầu phản tố của bà T là có căn cứ. Ông L kháng cáo nhưng không cung cấp được chứng cứ mới nên không chấp nhận kháng cáo ông L, giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 307/2023/DS-ST ngày 24 tháng 11 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa.

Tuy nhiên phần quyết định của bản án lại ghi phần đất lấn chiếm chiều ngang 0,5 mét là không chính xác và không giao cho bà T được tiếp tục sử dụng là thiếu sót và để đảm bảo việc thi hành án nên cần sửa cách tuyên. Các nội dung khác của bản án dân sự sơ thẩm số 307/2023/DS-ST ngày 24 tháng 11 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực thi hành.

Đề nghị của đại diện viện kiểm sát là có căn cứ nên chấp nhận.

[4] Về án phí dân sự phúc thẩm: Ông Ngô Đức L phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân sự và Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 2 Điều 308, Điều 309 Bộ luật Tố tụng Dân sự;

Không chấp nhận kháng cáo của ông Ngô Đức L.

Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 307/2023/DS-ST ngày 24 tháng 11 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An, sửa cách tuyên án.

Căn cứ vào khoản 3, 9 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a, c khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 148, 157, 165, khoản 1 và điểm a khoản 2 Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự số 92/2015/QH13; Điều 26, 166, 203 của Luật đất đai năm 2013; Điều 26, 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Ngô Đức L về việc buộc bà Lê Thị T phải tháo dỡ hàng rào, trả lại cho ông Lương phần đất lấn chiếm có chiều ngang 0,25 mét, dài 48 mét (khu B diện tích 6,3m² và khu C diện tích 5,2m²) thuộc một phần thửa đất số 2220, tờ bản đồ số 12, tọa lạc tại ấp M, xã M, huyện Đ, tỉnh Long An.

    Bà Lê Thị T được tiếp tục sử dụng phần đất tranh chấp là khu B diện tích 6,3m² và khu C diện tích 5,2m² (Theo Mảnh trích đo địa chính số 868-2023 do Công ty TNHH Đ, được Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai tại huyện Đ duyệt ngày 20/10/2023).

    Các đương sự có quyền, nghĩa vụ liên hệ với cơ quan có thẩm quyền để đăng ký, kê khai, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và sở hữu tài sản gắn liền với đất theo quy định pháp luật về đất đai đối với thửa đất số 2220, tờ bản đồ số 12 và thửa đất số 284, tờ bản đồ số 12, đất tại ấp M, xã M, huyện Đ, tỉnh Long An.

    Văn phòng đăng ký đất đai, cơ quan Tài nguyên và Môi trường căn cứ vào bản án, quyết định của Tòa án để giải quyết điều chỉnh biến động hoặc cấp lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất phù hợp với kết quả giải quyết vụ án. Trường hợp bên phải thi hành án không giao nộp bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để bên được thi hành án làm thủ tục kê khai, đăng ký để được điều chỉnh và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật về đất đai thì bên được thi hành án được quyền yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền điều chỉnh, thu hồi một phần diện tích đất trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp.

  2. Chấp nhận một phần yêu cầu phản tố của bà Lê Thị T đối với ông Ngô Đức L: Buộc ông Ngô Đức L di dời, tháo dỡ 04 trụ bê tông (01 trụ cao khoảng 01 mét, 03 trụ còn lại khoảng 0,5 mét) cắm trên phần mí đất thuộc một phần thửa đất số 284, tờ bản đồ số 12, đất tại ấp M, xã M, huyện Đ, tỉnh Long An.
  3. Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị T đối với ông Ngô Đức L về việc yêu cầu ông L trả lại phần đất lấn chiếm của bà T thuộc thửa đất số 284, tờ bản đồ số 12, đất tại xã M, huyện Đ, tỉnh Long An.

    Khi có quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự, đương sự không có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết lại vụ án dân sự đó, nếu việc khởi kiện vụ án sau không có gì khác với vụ án trước về nguyên đơn, bị đơn và quan hệ pháp luật có tranh chấp, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 192, điểm c khoản 1 Điều 217 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015 và các trường hợp khác theo quy định của pháp luật.

  4. Về chi phí tố tụng: Ông Ngô Đức L phải chịu 55.000.000 đồng. Ông L đã nộp và chi phí xong.
  5. Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Ngô Đức L phải chịu 600.000 đồng sung ngân sách Nhà nước nhưng được khấu trừ 300.000 đồng đã nộp theo biên lai thu số 0009489 ngày 12/01/2022 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Đức Hòa, tỉnh Long An. Ông L còn phải nộp thêm 300.000 đồng.
  6. Về án phí dân sự phúc thẩm: Ông Ngô Đức L phải chịu 300.000 đồng nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm ông L đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0005564 ngày 07/12/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đức Hòa, tỉnh Long An.
  7. Về hiệu lực của bản án: Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
  8. Về hướng dẫn thi hành án: Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
CÁC THẨM PHÁN THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Đặng Văn Những Huỳnh Hữu Nghĩa
Lê Thị Kim Nga

Nơi nhận:

  • - TANDCC tại TP HCM;
  • - VKSND tỉnh Long An;
  • - TAND huyện Đức Hòa;
  • - Chi cục THADS huyện Đức Hòa;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ, án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Huỳnh Hữu Nghĩa

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 230/2024/DS-PT ngày 13/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN về tranh chấp ranh đất

  • Số bản án: 230/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ranh đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 13/05/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Ngô Đức L về việc buộc bà Lê Thị T phải tháo dỡ hàng rào, trả lại cho ông L phần đất lấn chiếm có chiều ngang 0,25 mét, dài 48 mét
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger