|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI TỈNH CÀ MAU |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 230/2024/HNGĐ-ST Ngày 10 - 6 - 2024 V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con, chia tài sản khi ly hôn, đòi lại tài sản. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
| Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: | Ông Trương Huỳnh Hải. |
| Các Hội thẩm nhân dân: | Ông Nguyễn Việt Thắng. |
| Ông Hồ Quang Minh. |
- Thư ký phiên toà: Bà Dương Thị Thêu - Thư ký Toà án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trần Văn Thời tham gia phiên tòa: Bà Phạm Huỳnh Trang – Kiểm sát viên.
Trong các ngày 07 và 10 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 181/2024/TLST-HNGĐ ngày 25/3/2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con, chia tài sản khi ly hôn, đòi lại tài sản”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 201/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 13/5/2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Cao Văn H, sinh năm 1990.
- Bị đơn: Chị Lê Minh D, sinh năm 1995.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Võ Thị T, sinh năm 1961.
- Người làm chứng: Chị Cao Hồng N, sinh năm 1984.
Địa chỉ: Ấp L, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau.
Địa chỉ: Ấp C, xã P, huyện C, tỉnh Cà Mau.
Địa chỉ: Ấp L, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau.
Địa chỉ: Ấp L, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau.
Tất cả có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện ngày 25/3/2024 và lời trình bày của nguyên đơn có tại hồ sơ và tại phiên toà, thể hiện: Thống nhất chọn Toà án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau để xem xét giải quyết vụ án. Về hôn nhân anh H và chị D tự nguyện sống chung với nhau, hôn nhân tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân (UBND) xã K vào ngày 09/12/2019 (Giấy chứng nhận kết hôn số: 188/2019). Về con chung vợ chồng có 01 con chung tên Cao Lê Phương V, sinh 04/7/2020. Về tài sản chung vợ chồng có 07 chỉ vàng 24k và 03 chỉ vàng 18k là nữ trang trong ngày cưới (Vàng 24k gồm 01 dây chuyền 04 chỉ, 01 tấm lắc 03 chỉ; vàng 18k gồm 02 chiếc vòng 03 chỉ), tiền thai sản của chị D được Công ty trả chế độ 28.000.000 đồng. Toàn bộ số tài sản 07 chỉ vàng 24k (cá nhân anh H đi bán 03 lần và dùng tiền vào việc chi xài trong cuộc sống của gia đình, hiện nay không còn), 03 chỉ vàng 18k (chị D đang quản lý); số tiền 28.000.000 đồng anh H và chị D trực tiếp đi rút tiền từ tài khoản thẻ của chị D (số tiền rút được anh H gửi về cho bà T 02 lần với tổng số tiền 15.000.000 đồng để trả nợ cho chị N (tiền do vợ chồng nhờ bà T mượn 10.000.000 đồng để chuẩn bị đồ sanh nở cho chị D), còn lại 13.000.000 đồng vợ chồng chi xài chung). Nợ chung không có. Nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, anh H phát hiện chị D có nhắn tin qua lại với người khác, từ đó vợ chồng thường xuyên cự cải với nhau, anh H xét thấy cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc.
Nay anh H yêu cầu ly hôn với chị D. Về con chung đồng ý giao cho chị D nuôi, tự nguyện cấp dưỡng cho con mỗi tháng 1.000.000 đồng cho đến khi nghĩa vụ cấp dưỡng chấm dứt theo quy định của pháp luật (thời gian cấp dưỡng kể từ ngày xét xử sơ thẩm). Về tài sản không yêu cầu Toà án xem xét giải quyết trong vụ án này. Không đồng ý trả số tiền 28.000.000 đồng theo yêu cầu của chị D (vì chị D đã thống nhất dùng số tiền thai sản để chỉ xài chung giữa vợ chồng).
- Theo đơn phản tố ngày 20/4/2024 và lời trình bày của bị đơn có tại hồ sơ và tại phiên toà, thể hiện: Chị D hiện nay đã thay đổi nơi cư trú mới và chị D vẫn thống nhất chọn Toà án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau để xem xét giải quyết vụ án. Thống nhất với lời trình bày của anh H về hôn nhân, về con chung, nợ chung. Nguyên nhân mâu thuẫn là do xuất phát từ việc anh H tự ý rút tiền thai sản của chị H để chi xài cá nhân, nhiều lần chị D yêu cầu anh H hoàn trả để có chi phí nuôi con, nhưng không thực hiện, từ đó giữa cuộc sống vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn. Về tài sản chung vợ chồng có 07 chỉ vàng 24k và 03 chỉ vàng 18k là nữ trang trong ngày cưới như anh H trình bày là đúng. Nợ chung không có (chị D xác định từ trước đến giờ không có nhờ bà T hay người nào khác mượn tiền của chị N). Tài sản riêng của chị D 33.000.000 đồng là tiền thai sản của chị D được công ty trả chế độ nghỉ thai sản (anh H đã tự rút toàn bộ và chi xài cá nhân vào việc gì chị D không biết. Số tài sản 07 chỉ vàng 24k (mẹ chồng là bà T quản lý, việc ông H xác định đã bán và chi xài chung trong đời sống vợ chồng là không có), còn lại 03 chỉ vàng 18k (chị D quản lý).
Nay chị D đồng ý ly hôn với anh H. Về con chung yêu cầu nuôi, yêu cầu cấp dưỡng mỗi tháng 1.000.000 đồng cho đến khi nghĩa vụ cấp dưỡng được chấm dứt theo quy định (thời gian cấp dưỡng kể từ ngày xét xử sơ thẩm). Về tài sản xin rút lại toàn bộ yêu cầu chia tài sản, không yêu cầu xem xét trong vụ án. Yêu cầu anh H hoàn trả tổng số tiền trợ cấp thai sản 28.000.000 đồng.
- Lời trình bày của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có tại hồ sơ và tại phiên toà, thể hiện: Từ trước đến giờ không có nhận giữ bất kỳ tài sản nào của vợ chồng anh H và chị D. Trong lúc chuẩn bị sanh nở thì vợ chồng anh H và chị D có nhờ bà T hỏi mượn của chị Cao Hồng N số tiền 10.000.000 đồng để mua đồ, thời gian sau bà T có nhận 02 lần tiền của anh H gửi về 15.000.000 đồng để trả cho chị N 10.000.000 đồng, còn lại 5.000.000 đồng lo cho chị D trong thời gian sanh nở.
- Lời trình bày của người làm chứng tại phiên tòa, thể hiện: Vào khoảng năm 2020 bà T có hỏi mượn 10.000.000 đồng để lo đồ chuẩn bị sanh cho chị D, khi hỏi thì bà T có nói là anh H nhờ hỏi mượn dùm, số tiền 10.000.000 đồng đã trả xong.
- Tại phiên tòa sơ thẩm, Kiểm sát viên phát biểu:
Ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và các đương sự trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã tiến hành và thực hiện đúng theo quy định.
Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Cao Văn H. Về hôn nhân cho anh Cao Văn H ly hôn với chị Lê Minh D. Về con chung giao cho chị Lê Minh D trực tiếp nuôi dạy cháu Cao Lê Phương V, sinh 04/7/2020. Về nghĩa vụ cấp dưỡng cho con buộc anh Cao Văn H phải có nghĩa vụ cấp dưỡng cho cháu Cao Lê Phương V, sinh 04/7/2020 mỗi tháng 1.000.000 đồng cho đến khi nghĩa vụ cấp dưỡng được chấm dứt theo quy định của pháp luật. Về tài sản chung đình chỉ xét xử đối với yêu cầu phản tố chia tài sản của chị Lê Minh D. Về đòi lại tài sản chấp nhận yêu cầu phản tố đòi lại tài sản của chị Lê Minh D. buộc anh Cao Văn H có nghĩa vụ hoàn trả cho chị Lê Minh D số tiền 28.000.000 đồng. Án phí các đương sự phải chịu theo quy định.
Từ những nội dung vụ án thể hiện;
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và đã được xem xét tại phiên toà, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Xét về quyền khởi kiện, quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Nguyên đơn thực hiện quyền khởi kiện bị đơn về việc yêu cầu ly hôn, tranh chấp về nuôi con và bị đơn có yêu cầu phản tố yêu cầu chia tài sản và đòi lại tài sản. Xét thấy bị đơn hiện nay có nơi cư trú tại huyện C, tỉnh Cà Mau (nhưng các đương đều thống nhất chọn Tòa án nơi cư trú của nguyên đơn giải quyết tranh chấp), nên Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau thụ lý giải quyết vụ án dân sự “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con, chia tài sản khi ly hôn, đòi lại tài sản” là đúng theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm b khoản 1 Điều 39, Điều 186 Bộ luật tố tụng dân sự (BLTTDS).
[2] Xét yêu cầu và ý kiến của đương sự:
[2.1] Về yêu cầu ly hôn:
[2.1.1] Mối quan hệ hôn nhân giữa anh H và chị D được xác lập trên tinh thần tự nguyện và có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật, nên mối quan hệ hôn nhân là hợp pháp.
[2.1.2] Xét thấy trong cuộc sống hôn nhân chị H và anh D không thực hiện tốt việc bình đẳng quyền và nghĩa vụ của vợ chồng, mà lại làm cho mối quan hệ hôn nhân lâm vào tình trạng mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc và trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tiến hành hòa giải hàn gắn nhiều lần, nhưng anh H và chị D xác định không thể đoàn tụ trở lại, mà lại thể hiện ý chí cương quyết ly hôn với nhau. Do đó, Hội đồng xét xử có căn cứ xác định được anh H và chị D không còn quan tâm gì đối với mối quan hệ hôn nhân này và giữa đôi bên đã vi phạm nghiêm trọng quyền và nghĩa vụ của vợ chồng dẫn đến các hệ lụy nêu trên, nếu tiếp tục duy trì mối quan hệ hôn nhân về sau thì sẽ không đảm bảo hạnh phúc và trái với các nguyên tắc cơ bản của chế độ hôn nhân và gia đình hiện nay, nên cần chấp nhận cho anh H được ly hôn với chị D là phù hợp với Điều 51, Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình (LHNGĐ) . (Giấy chứng nhận kết hôn số: 188/2019 ngày 09/12/2019 của UBND xã K hết hiệu lực kể từ ngày bản án này có hiệu lực pháp luật).
[2.2] Về con chung:
[2.2.1] Về việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn: Sau khi ly hôn anh H và chị D thống nhất thỏa thuận giao con chung tên Cao Lê Phương V, sinh 04/7/2020 cho chị D nuôi dạy. Hội đồng xét xử xét thấy cháu V hiện nay đang được chị D trực tiếp nuôi dạy và chị D không thuộc trường hợp không đủ điều kiện để trực tiếp nuôi dạy con. Do đó, cần tiếp tục giao cháu V cho chị D trực tiếp nuôi dạy là phù hợp với khoản 2 Điều 81 LHNGĐ. Anh H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở; anh H có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống với chị D; nếu anh H lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì chị D có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con theo quy định tại khoản 1 và khoản 3 Điều 82, khoản 2 Điều 83 LHNGĐ. Việc thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn được thực hiện theo quy định của pháp luật.
[2.2.2] Về nghĩa vụ cấp dưỡng cho con: Theo quy định của pháp luật thì cha, mẹ không trực tiếp nuôi con phải có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con. Hội đồng xét xử xét thấy theo quy định thì mức cấp dưỡng không được thấp hơn 50% mức lương cơ bản (lương cơ bản hiện nay 1.800.000 đồng), đồng thời để điều kiện tốt về tài chính cho chị D đảm bảo hơn trong việc chăm lo cho cháu V, nên mức cấp dưỡng anh H tự nguyện là phù hợp và cần ghi nhận buộc anh H phải có nghĩa vụ cấp dưỡng cho cháu V mỗi tháng là 1.000.000 đồng và phương thức cấp dưỡng hàng tháng kể từ ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi nghĩa vụ cấp dưỡng được chấm dứt theo định quy định là phù hợp theo quy định tại khoản 2 Điều 82, Điều 107, Điều 110, Điều 116, Điều 117 LHNGĐ.
[2.3] Về tài sản chung: Tại phiên toà chị D rút lại toàn bộ yêu cầu chia tài sản; anh D xác định không yêu cầu Toà án xem xét việc yêu cầu chia tài sản trong vụ án này, trường hợp có tranh chấp sẽ yêu cầu sau bằng vụ án khác. Xét thấy việc rút yêu cầu phản tố chia tài sản là hoàn toàn tự nguyện, nên căn cứ khoản 2 Điều 244 Bộ luật tố tụng dân sự đình chỉ xét xử đối với yêu cầu phản tố chia tài sản của chị D.
[2.4] Về đòi lại tài sản:
[2.4.1] Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ là chứng từ sao kê giao dịch tài khoản cá nhân của chị D thì xác định được chị D được công ty trả tiền trợ cấp thai sản khi sinh con là 33.000.000 đồng. Xét thấy tiền thai sản là quyền lợi riêng dành cho người lao động nữ về sức khỏe khi sinh con và số tiền này phục vụ cho nhu cầu thiết yếu khi sinh nở của người phụ nữ, quyền về bảo đảm an toàn về sức khỏe là quyền nhân nhân của mỗi cá nhân, nên có căn cứ xác định số tiền thai sản là tài sản riêng của chị D theo quy định tại khoản 3 Điều 43 LHNGĐ và khoản 3 Điều 11 Nghị định số: 126/NĐ-CP ngày 31/12/2014 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành luật hôn nhân và gia đình (Nghị định 126).
[2.4.2] Tại phiên toà chị D thay đổi yêu cầu chỉ yêu cầu anh H trả số tiền 28.000.000 đồng, anh H thừa nhận cá nhân anh dùng tài khoản cá nhân của chị D rút tổng số tiền thai sản của chị D được chi trả là 28.000.000 đồng (anh H không đồng ý theo yêu cầu của chị D và xác định gửi về cho bà T 15.000.000 đồng để trả nợ bà N mà vợ chồng nhờ hỏi mượn trước đó và số tiền còn lại đã chi xài chung giữa vợ chồng). Hội đồng xét xử xét thấy căn cứ lời trình bày của bà T, chị N và anh H thì xác định được đều thống nhất với nhau là vợ chồng anh H và chị D có nhờ bà T hỏi số tiền của bà N 10.000.000 đồng để mua đồ chuẩn bị sanh nở cho chị D, nhưng xét thấy giữa bà T, chị N và anh H là có quan hệ huyết thống mẹ con – chị em ruột với nhau, hiện nay giữa anh H và chị D có mâu thuẫn và tranh chấp với nhau, đồng thời chị D không thừa nhận có việc mượn tiền của bà N, nên không thể xem lời khai của bà T và chị N là chứng cứ khách quan được xem xét trong vụ án này, như vậy anh H phải chịu trách nhiệm với số tiền 15.000.000 đồng mà anh thừa nhận gửi về cho mẹ ruột là bà T; đối với số tiền 13.000.000 đồng còn lại chị D không thừa nhận có việc chi xài chung của vợ chồng, anh H không chứng minh được số tiền này dùng vào việc chi xài chung giữa vợ chồng và có sự đồng ý của chị D, nên anh H cũng phải có trách nhiệm đối với số tiền này. Do đó, có căn xác định anh H rút toàn bộ số tiền 28.000.000 đồng là tài sản riêng của chị D như đã phân tích nêu trên và việc rút chi xài tiền là không có căn pháp luật, nên cần buộc anh H có trách nhiệm hoàn trả cho chị D số tiền 28.000.000 đồng là đúng theo quy định tại Điều 166 Bộ luật dân sự (BLDS).
Từ những lập luận, phân tích, đánh giá chứng cứ nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ và phù hợp với nhận định Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
[3] Xét về án phí dân sự sơ thẩm: Anh H phải chịu án phí ly hôn không có giá ngạch là 300.000 đồng, anh H phải chịu án phí cấp dưỡng cho con không có giá ngạch là 300.000 đồng, anh H phải chịu án phí có giá ngạch 5% đối với số tiền mà chị D yêu cầu được Tòa án chấp nhận theo quy định tại Điều 147 BLTTDS và điểm a, b khoản 1 Điều 24, khoản 1, 2, 4 Điều 26, điểm a khoản 5, điểm a khoản 6, điểm b khoản 7 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội (Nghị quyết 326). Anh H đã dự nộp tiền tạm ứng án phí trước tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau được chuyển thu đối trừ (nếu dư được hoàn lại, nếu thiếu thì phải nộp thêm); số tiền tạm ứng án phí chị D đã dự nộp trước được hoàn lại toàn bộ.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 244 của BLTTDS; Điều 43, Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 107, Điều 110, Điều 116, Điều 117 LHNGĐ; Điều 166 BLDS; Điểm a, b khoản 1 Điều 24, khoản 1, 2, 4 Điều 26, điểm a khoản 5, điểm a khoản 6, điểm b khoản 7 Điều 27 Nghị quyết 326; Điều 11 Nghị định 126.
- Về nội dung:
- - Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Cao Văn H.
- 1.1. Về hôn nhân: Cho anh Cao Văn H ly hôn với chị Lê Minh D.
- 1.2. Về con chung:
- + Về việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn: Giao cho chị Lê Minh D trực tiếp nuôi dạy cháu Cao Lê Phương V, sinh 04/7/2020. Anh Cao Văn H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở, anh H có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống với chị D; nếu anh H lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì chị D có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con. Việc thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn được thực hiện theo quy định của pháp luật.
- + Về nghĩa vụ cấp dưỡng cho con: Buộc anh Cao Văn H phải có nghĩa vụ cấp dưỡng cho cháu Cao Lê Phương V, sinh 04/7/2020 mỗi tháng 1.000.000 đồng cho đến khi nghĩa vụ cấp dưỡng được chấm dứt theo quy định của pháp luật. Phương thức cấp dưỡng: 01 tháng cấp dưỡng 01 lần, thời gian cấp dưỡng tính kể từ ngày 07/6/2024. Khi có lý do chính đáng và có yêu cầu thì mức cấp dưỡng có thể thay đổi.
Kể từ ngày chị Lê Minh D có đơn yêu cầu thi hành án mà anh Cao Văn H chậm thực hiện nghĩa vụ đối với khoản tiền cấp dưỡng nói trên, thì anh Cao Văn H còn phải chịu lãi suất theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự đối với khoản tiền cấp dưỡng nói trên tương ứng với thời gian chậm cấp dưỡng.
- 1.3. Về tài sản chung: Đình chỉ xét xử đối với yêu cầu phản tố chia tài sản của chị Lê Minh D.
- 1.4. Về đòi lại tài sản: Chấp nhận yêu cầu phản tố đòi lại tài sản của chị Lê Minh D.
- + Buộc anh Cao Văn H có nghĩa vụ hoàn trả cho chị Lê Minh D số tiền 28.000.000 đồng.
Kể từ ngày chị Lê Minh D có đơn yêu cầu thi hành án mà anh Cao Văn H chậm thực hiện nghĩa vụ đối với khoản tiền nói trên, thì anh Cao Văn H còn phải chịu lãi suất theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự đối với khoản tiền nói trên tương ứng với thời gian chậm trả.
Giấy chứng nhận kết hôn số: 188/2019 ngày 09/12/2019 của UBND xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau hết hiệu lực kể từ ngày bản án này có hiệu lực pháp luật.
- Về án phí dân sự sơ thẩm:
- + Anh Cao Văn H phải nộp án phí ly hôn là 300.000 đồng, án phí cấp dưỡng cho con là 300.000 đồng, án phí trên nghĩa vụ tài sản phải trả là 1.400.000 đồng. Anh Cao Văn H đã dự nộp tạm ứng án phí trước 300.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0004736 ngày 25/3/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau nay được chuyển thu đối trừ, số tiền án phí anh Cao Văn H phải nộp tiếp là 1.700.000 đồng (chưa nộp).
- + Chị Cao Minh D1 đã dự nộp tạm ứng án phí trước 1.750.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0004889 ngày 22/4/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau nay được hoàn lại toàn bộ.
- Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án này trong hạn luật định là 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Trương Huỳnh Hải |
Bản án số 230/2024/HNGĐ-ST ngày 10/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU về ly hôn, tranh chấp về nuôi con, chia tài sản khi ly hôn, đòi lại tài sản.
- Số bản án: 230/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con, chia tài sản khi ly hôn, đòi lại tài sản.
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/06/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Cho ly hôn
