|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 230/2024/HS-PT Ngày: 06-9-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Khắc Thịnh
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Văn Mỹ
Ông Huỳnh Thanh Mỹ
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Minh Châu – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa:
Ông Nguyễn Giang Châu - Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 9 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp, mở phiên tòa xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 189/2024/TLPT-HS ngày 07 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo Nguyễn Thị Thùy D và các đồng phạm. Do có kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị Thùy D, Cao Văn T đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 27/2024/HS-ST ngày 28 tháng 6 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Lai Vung.
- Bị cáo có kháng cáo:
- Họ và tên: Nguyễn Thị Thùy D, sinh năm 2001 tại tỉnh Đồng Tháp; Nơi cư trú: Số E, ấp T, xã T, huyện L, tỉnh Đồng Tháp; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 11/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Văn N và bà Lê Thị K; Chồng: chưa có; Con: có 01 người tên Nguyễn Trần Gia P, sinh ngày 10/11/2023; Tiền sự, tiền án: Không; Tạm giữ: Từ ngày 29/01/2023 đến ngày 07/02/2023 được tại ngoại. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Họ và tên: Cao Văn T (Tên gọi khác: N1), sinh năm 2000 tại tỉnh Đồng Tháp; Nơi cư trú: Số H, ấp T, xã T, huyện L, tỉnh Đồng Tháp; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 7/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Cao Văn Đ và bà Nguyễn Thị Bé N2; Vợ, con: chưa có; Tiền sự, tiền án: Không; Tạm giữ: Từ ngày 29/01/2023 đến ngày 07/02/2023; Tạm giam: Từ ngày 07/02/2023 đến ngày 26/8/2023 được tại ngoại. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Thị Thùy D theo yêu cầu là Luật sư Huỳnh Thị Quỳnh H và luật sư Nguyễn Thị Thanh T1 - Văn phòng L thuộc Đoàn luật sư tỉnh Đ.
Trong vụ án còn có bị cáo Nguyễn Hải D1 có kháng cáo nhưng bị cáo D1 đã rút kháng cáo trong giai đoạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm; những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không kháng cáo và Viện kiểm sát không kháng nghị.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Thị Thùy D, Cao Văn T, Nguyễn Hải D1, Võ Quang T2, Lê Thị Hiếu T3 và Phạm Phát T4 là bạn bè với nhau. Khoảng 21 giờ ngày 28/01/2023, trong lúc cả nhóm uống bia tại quán P2 thuộc ấp T, xã T, huyện L; D rủ cả nhóm sau khi nghỉ uống bia thì mua ma túy cùng sử dụng, tất cả đều đồng ý. Lúc này, D1 rủ cả nhóm cùng đi đến thành phố S để đặt phòng vừa hát karaoke, vừa sử dụng ma túy nhưng do T3 đã say rượu bia nên trả lời không đồng ý đi thành phố S, những người còn lại trong nhóm thì không ai nói gì.
Sau đó, D gợi ý cả nhóm đến nhà của T ở số H, ấp T, xã T, huyện L để sử dụng ma túy, thì T, D1, T2 và T3 đều đồng ý. Riêng T4 là bạn trai của T3 chỉ đồng ý đến nhà của T nhưng từ chối sử dụng ma túy. D nói với những người trong nhóm biết chỗ bán, D sẽ đặt mua ma túy để cả nhóm sử dụng, nhưng không nói rõ số tiền, số lượng và loại ma túy, đồng thời D cũng không yêu cầu mỗi người trong nhóm phải hùn tiền với D để mua ma túy. Sau đó, D nhắn tin với người có tên tài khoản “Quốc A” trên mạng xã hội Facebook đặt mua 02 loại ma túy Ketamine (ke) và MDMA (thuốc lắc) với số tiền 5.000.000 đồng và hẹn giao nhận ma túy tại khu vực gần nhà của D ở ấp T, xã T, huyện L.
Đến khoảng 21 giờ 30 phút cùng ngày, cả nhóm nghỉ uống bia và đi về nhà của T. Khi còn cách nhà của T khoảng 100 mét, cả nhóm dừng xe lại. D kêu D1 chở D về nhà để lấy quần áo, còn T dẫn T2, T3 và T4 về nhà T trước. Đến nhà T chuẩn bị sẵn đĩa sứ, bật lửa và ống hút để trên nệm trong phòng riêng đợi D đem ma túy đến sử dụng.
Khi về đến nhà của D, D1 dừng xe ở trước cổng đợi, còn D đi vào nhà lấy quần áo rồi trở ra đi đến chỗ vắng cách nhà của D khoảng 70 mét gặp một người thanh niên lạ mặt không rõ họ tên, địa chỉ để mua 02 bịch nylon chứa ma túy loại Ketamine và MDMA với số tiền 5.000.000 đồng. D1 nhìn thấy và biết rõ D đã mua ma túy của người này, sau đó D1 chở D cùng đem ma túy đến nhà của T. Đến nơi, D lấy bịch ma túy loại Ketamine đổ ra đĩa sứ, D1 sử dụng điện thoại cá nhân truy cập vào ứng dụng Youtube mở các video hướng dẫn cách chế biến, sử dụng ma túy loại Ketamine và mở nhạc sôi động cho cả nhóm cùng nghe nhằm tăng khoái cảm khi sử dụng ma túy. Dân lấy thẻ căn cước công dân của mình đưa cho D để cà nhuyễn ma túy và phân chia thành nhiều đường kẻ nhỏ. D đưa bịch ma túy loại MDMA dạng viên nén cho T, T chia thành nhiều phần nhỏ, sau đó T, T2, T3, D1 và D cùng sử dụng hai loại ma túy nói trên,
riêng T4 không sử dụng ma túy, chỉ chơi game trên điện thoại và ngủ lại tại phòng của T.
Đến khoảng 23 giờ 10 phút cùng ngày thì bị cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L bắt quả tang.
Cơ quan điều tra tạm giữ nhiều vật chứng và tài sản có liên quan gồm:
- 01 cái đĩa sứ màu trắng để trên nệm, trên đĩa có chất ma túy có khối lượng 0,983 gam, loại Ketamine (niêm phong ký hiệu A1);
- Trên loa treo tường ở bên góc trái phòng, cách nền gạch 1,6 mét có chất ma túy có khối lượng 0,466 gam, loại MDMA gói trong 01 tờ tiền mệnh giá 1.000 đồng (niêm phong ký hiệu A2);
- Ở cạnh góc niệm bên phải phòng có 01 bịch nylon nắp kẹp màu trắng, viền đỏ chứa chất ma túy có khối lượng 0,877 gam, loại MDMA và 1,380 gam, loại Ketamine (niêm phong ký hiệu A3) theo kết luận giám định số 110/KL-KTHS ngày 30/01/2023 của phòng K1 Công an tỉnh Đ.
- 01 ống hút màu trắng, 01 cái bật lửa màu vàng và 01 tờ tiền mệnh giá 5.000 đồng.
- 01 điện thoại di động số seri MMVKJ20L04, số imel 356796480372047 của Nguyễn Thị Thùy D dùng để liên hệ mua ma túy.
- 01 giấy căn cước công dân số [...], tên Nguyễn Hải D1;
- 01 điện thoại di động hiệu iphone màu trắng, mặt sau có hình trái táo khuyết, số imei 359411085440390
- 01 xe mô tô hiệu Honda, loại C100, biển số 66K7-4391, số máy HC09E0226136, số khung RLHHC09033Y226018 của Nguyễn Hải D1 sử dụng vào việc tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy.
- Số tiền 3.500.000 đồng của Nguyễn Hải D1,
- 01 điện thoại di động màu vàng đồng, mặt sau có chữ Wiko của Cao Văn T
- 01 điện thoại di động hiệu iphone màu trắng, mặt sau có hình trái táo khuyết, 2.000.000 đồng của Lê Thị Hiếu T3
- 01 điện thoại di động hiệu S màu đen của Võ Quang T2 không có liên quan đến việc phạm tội.
Ngày 31/01/2023, phòng K1 Công an tỉnh Đ đã hoàn trả cho cơ quan điều tra Công an huyện L đối tượng gửi giám định, gồm:
- Mẫu chất bột màu trắng trong phong bì ký hiệu A1 còn lại sau giám định được niêm phong lại, ghi “Niêm phong số: 90/A1, ngày 29/01/2023";
- Mẫu viên nén màu hồng trong phong bì ký hiệu A2 còn lại sau giám định được niêm phong lại, ghi “Niêm phong số: 90/A2, ngày 29/01/2023";
- Mẫu viên nén màu hồng và mẫu tinh thể rắn trong bì thư ký hiệu A3 còn lại sau giám định được niêm phong lại, ghi “Niêm phong số: 90/A2, ngày 29/01/2023".
Ba bì thư được niêm phong nêu trên đều có đóng hình dấu tròn màu đỏ của “Phòng K1 - Công an tỉnh Đ”, có chữ ký và ghi họ tên Nguyễn Văn Bé N3, Bùi Văn D2, Đặng Thanh P1 và Nguyễn Hải D1.
Tại bản án hình sự sơ thẩm số 27/2024/HS-ST ngày 28 tháng 6 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Lai Vung đã quyết định:
Căn cứ vào: Điểm i Khoản 1 Điều 249, Điểm n, s Khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Thùy D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Thùy D mức án 01 năm tù (Một năm tù).
Căn cứ vào điểm b Khoản 2 Điều 255, Điểm n, s Khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58 của Bộ luật Hình sự
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Thùy D phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Thùy D mức án 08 năm tù (Tám năm tù).
Căn cứ vào Điều 55 của Bộ luật Hình sự: Tổng hợp hình phạt của các tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” là 01 năm tù (Một năm tù) và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” là 08 năm tù (Tám Năm tù). Bị cáo chấp hành hình phạt chung cho cả hai tội là 09 năm tù (Chín năm tù). Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành hình phạt (được khấu trừ thời gian tạm giữ từ ngày 29/01/2023 đến 07/02/2023).
Căn cứ vào điểm b Khoản 2 Điều 255, Điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58 của Bộ luật Hình sự:
Tuyên bố bị cáo Cao Văn T phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Cao Văn T mức án 07 năm 06 tháng tù (Bảy năm sáu tháng tù). Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành hình phạt (được khấu trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 29/01/2023 đến ngày 26/8/2023).
Ngoài ra, án sơ thẩm còn xử phạt bị cáo Nguyễn Hải D1 07 (bảy) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”; tuyên về hình phạt bổ sung, trách nhiệm dân sự và về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.
Ngày 08 và ngày 12 tháng 7 năm 2024, bị cáo Nguyễn Thị Thùy D có đơn kháng cáo với nội dung xin giảm nhẹ hình phạt và xin xem xét lại tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” đối với bị cáo; bị cáo Cao Văn T có đơn kháng cáo với nội dung xin giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo Cao Văn T đã rút toàn bộ kháng cáo.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp phát biểu quan điểm: Hành vi của bị cáo Nguyễn Thị Thùy D bị Tòa án cấp sơ thẩm quy kết về các tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 255 và điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự; hành vi của bị cáo Cao Văn T bị Tòa án cấp sơ thẩm quy kết về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật
hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội. Xét mức hình phạt mà cấp sơ thẩm áp dụng với các bị cáo là phù hợp với tính chất, mức độ do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra. Sau khi án sơ thẩm tuyên, bị cáo Cao Văn T kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt. Tại phiên toà phúc thẩm, bị cáo Cao Văn T đã rút toàn bộ kháng cáo nên đề nghị Hội đồng xét xử đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với bị cáo T. Đối với bị cáo bị cáo Nguyễn Thị Thùy D, bị cáo có đơn kháng cáo với nội dung xin giảm nhẹ hình phạt và xin xem xét lại tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” đối với bị cáo đồng thời có cung cấp tình tiết mới là bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn, là mẹ đơn thân đang phải nuôi con nhỏ 08 tháng tuổi. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà cấp sơ thẩm chưa xem xét cho bị cáo. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị Thùy D. Sửa phần quyết định của bản án sơ thẩm về phần hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Thị Thùy D, giảm nhẹ cho bị cáo từ 03 đến 06 tháng tù.
Luật sư Nguyễn Thị Thanh T1 phát biểu quan điểm bào chữa cho bị cáo Nguyễn Thị Thùy D: Thống nhất với quan điểm của vị đại diện Viện kiểm sát và án sơ thẩm về các tội danh, điều khoản của các tội danh áp dụng đối với bị cáo Thùy D. Tuy nhiên, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét vai trò của bị cáo Thùy D trong vụ án. Quá trình điều tra thể hiện, bị cáo D không phải là người đề xướng rủ rê các bị cáo T và D1 cùng những người khác sử dụng ma túy mà bị cáo T là người đề xướng rủ rê cả nhóm sử dụng ma túy tại nhà của T, bị cáo D mua ma túy cho cả nhóm sử dụng nhưng do cả nhóm thống nhất hùn tiền, D lấy tiền mua, sau đó cả nhóm trả tiền lại cho D nên cả nhóm phải chịu chung về khối lượng ma túy còn lại. Về tình tiết giảm nhẹ, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, sau thời điểm phạm tội bị cáo có thai và đã sinh con, hoàn cảnh gia đình khó khăn, là mẹ đơn thân đang phải nuôi con nhỏ 08 tháng tuổi. Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm n, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, đề nghị đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 54 của Bộ luật Hình sự, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Luật sư Huỳnh Thị Quỳnh H bào chữa cho bị cáo Nguyễn Thị Thùy D phát biểu quan điểm: Thống nhất với lời trình bày bào chữa của luật sư T1. Vị luật sư cho rằng tuy bị cáo D thừa nhận hành vi phạm tội nhưng cũng cần xem xét vai trò của từng bị cáo trong vụ án để xác định ai giữ vai trò chính. Hồ sơ vụ án thể hiện ma tuý không phải của một mình bị cáo mua mà là của cả nhóm hùn tiền mua về sử dụng. Số ma tuý còn lại bị bắt quả tang là của cả nhóm chứ không phải của một mình D. Việc xét xử một mình D về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” là có dấu hiệu bỏ lọt tội phạm. Ngoài ra, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 54 của Bộ luật Hình sự xử bị cáo mức án nhẹ nhất.
Bị cáo Nguyễn Thị Thùy D không tranh luận. Nói lời sau cùng, bị cáo Nguyễn Thị Thùy D xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Tại phiên tòa các bị cáo Cao Văn T, Nguyễn Thị Thùy D thừa nhận hành vi phạm tội. Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với lời khai của các bị cáo trong quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm, phù hợp lời khai của bị cáo đồng phạm, lời khai người làm chứng, vật chứng và các chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở xác định: Khoảng 21 giờ 30 phút ngày 28/01/2023, Nguyễn Thị Thùy D gợi ý, rủ các bị cáo Cao Văn T, Nguyễn Hải D1 và những người nghiện ma túy Võ Quang T2 và Lê Thị Hiếu T3 cùng sử dụng ma túy. D mua 02 bịch ma túy loại Ketamine và MDMA với số tiền 5.000.000 đồng đem đến phòng riêng nhà của T ở số H, ấp T, xã T, huyện L để cả nhóm cùng sử dụng thì bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L bắt quả tang, tạm giữ chất ma túy còn lại gồm: 2,363 gam Ketamine và 1,343 gam MDMA.
- Hội đồng xét xử xét thấy, hành vi của các bị cáo Cao Văn T, Nguyễn Thị Thùy D là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy. Hành vi của bị cáo là nguyên nhân dẫn đến các loại tội phạm khác như: Trộm cắp, cướp giật, làm gia tăng tệ nạn nghiện ngập ma túy trong xã hội, làm ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Các bị cáo phạm tội với lỗi cố ý, động cơ mục đích phạm tội là nhằm thỏa mãn cơn nghiện.
- Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo Nguyễn Thị Thùy D về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 255 và điểm i khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự; hành vi của bị cáo Cao Văn T bị Tòa án cấp sơ thẩm quy kết về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội. Sau khi án sơ thẩm tuyên, bị cáo Cao Văn T kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt; bị cáo Nguyễn Thị Thùy D có đơn kháng cáo với nội dung xin giảm nhẹ hình phạt và xin xem xét lại tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” đối với bị cáo. Tại phiên toà phúc thẩm, bị cáo Cao Văn T đã rút toàn bộ kháng cáo. Xét việc rút toàn bộ kháng cáo của T là hoàn toàn tự nguyện, phù hợp với quy định pháp luật nên Hội đồng xét xử đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với bị cáo T.
Xét kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị Thùy D xin giảm nhẹ hình phạt và xin xem xét lại tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” đối với bị cáo, bị cáo có cung cấp tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới là hoàn cảnh gia đình khó khăn, bị cáo là mẹ đơn thân đang phải nuôi con nhỏ 08 tháng tuổi. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà cấp sơ thẩm chưa xem xét cho bị cáo. Trong vụ án này, các bị cáo cùng tham gia thực hiện tội phạm, trong đó bị cáo Nguyễn Thị Thùy D là người gợi ý rủ cả nhóm cùng sử dụng ma túy. Bị cáo là người trực tiếp liên hệ đặt mua ma túy và cung cấp ma túy cho cả nhóm cùng sử dụng, bị cáo còn là người gợi ý đến nhà của bị cáo T để sử dụng ma túy. Sau khi đến nhà T, bị cáo là người mượn căn cước công dân của D1 để cà nhuyễn
ma túy, dùng bật lửa của T để nấu ma túy và phân chia thành các đường nhỏ để cho cả nhóm sử dụng. Còn bị cáo T, sau khi nghe D gợi ý đến nhà bị cáo để sử dụng trái phép chất ma túy thì bị cáo liền đồng ý và mời, dẫn cả nhóm về nhà. Bị cáo là người cung cấp địa điểm phòng ngủ của bị cáo và dụng cụ dùng để sử dụng ma túy: đĩa sứ, bật lửa và ống hút, bị cáo cũng là người phân chia chất ma túy MDMA dạng viên nén thành các phần nhỏ hơn để cho cả nhóm cùng sử dụng. Do đó, bị cáo T phải chịu trách nhiệm chính ở tội danh “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, còn bị cáo Thùy D là đồng phạm với vai trò là người thực hành tích cực. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị Thùy D, sửa phần quyết định của bản án sơ thẩm về phần hình phạt đối với bị cáo D.
- Xét đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa đối với bị cáo Nguyễn Thị Thùy D và Cao Văn T là có căn cứ và phù hợp pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
- Do kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị Thùy D được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Bị cáo Cao Văn T không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Các phần khác của quyết định bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
-
Căn cứ Điều 348; điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự.
Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với bị cáo Cao Văn T. Bản án hình sự sơ thẩm số 27/2024/HS-ST ngày 28 tháng 6 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Lai Vung có hiệu luật pháp luật đối với bị cáo Cao Văn T.
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị Thùy D. Sửa phần quyết định của bản án sơ thẩm về phần hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Thị Thùy D.
-
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Thùy D phạm các tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s, n khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Thùy D 01 (một) năm tù.
Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 255; điểm n, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58 của Bộ luật Hình sự
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Thùy D 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù.
Căn cứ vào Điều 55 của Bộ luật Hình sự: Tổng hợp hình phạt cho hai tội, buộc bị cáo Nguyễn Thị Thùy D phải chấp hành là 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành hình phạt, nhưng trừ đi thời gian tạm giữ từ ngày 29/01/2023 đến 07/02/2023.
-
Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Bị cáo Nguyễn Thị Thùy D và bị cáo Cao Văn T không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
- Các phần khác của quyết định bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Khắc Thịnh |
Bản án số 230/2024/HS-PT ngày 06/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP về vụ án hình sự phúc thẩm về tội tàng trữ trái phép chất ma túy và tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
- Số bản án: 230/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự phúc thẩm về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy và Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 06/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tàng trữ trái phép chất ma túy và tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
