|
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 230/2025/HS-PT Ngày: 26/03/2025 |
NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Bà Nguyễn Thị Thanh Xuân; |
| Các Thẩm phán: | Ông Phạm Đình Khánh; |
| Ông Trần Quang Minh. |
Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Phạm Nữ Quỳnh Trâm - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội
Đại diện Viện kiểm sát nhân cấp cao tại Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hằng, Kiểm sát viên cao cấp.
Ngày 26 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An, Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội xét xử phúc thẩm công khai vụ án Hình sự thụ lý 51/2025/TLPT-HS ngày 16 tháng 01 năm 2025 đối với bị cáo Phạm Văn H phạm tội “Mua bán người”. Do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án Hình sự sơ thẩm số 104/2024/HS- ST ngày 14 tháng 6 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.
* Bị cáo có kháng cáo
Họ và tên: Phạm Văn H. Tên gọi khác: không. Sinh ngày: 01/02/1990 tại huyện D, tỉnh Nghệ An. Nơi cư trú: xóm G, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An. Trình độ học vấn: lớp 9/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; chữ Dân tộc: Kinh; giới tính: nam; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Thiên chúa giáo; Họ và tên cha: Phạm Văn N (Phạm Nam N1) (Đã chết); Họ và tên mẹ: Trần Thị K, S năm 1954; Vợ: Nguyễn Thị T; có 01 con, sinh năm 2024. Tiền án, tiền sự: không. Nhân thân: ngày 19/7/2018, bị Tòa án nhân dân huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc 24 tháng. Đã chấp hành xong ngày 10/7/2020. Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 18/8/2023 đến 02/02/2024. Hiện đang tại ngoại; vắng mặt và có đơn xin hoãn phiên toà.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau
Lương Ngọc C và Phạm Văn H có mối quan hệ là bạn bè. Tháng 03 năm 2022, H lái xe cho C tại nước Cộng hòa Dân chủ nhân dân L (CHDCND Lào). Thời điểm này, C quen biết với một người đàn ông quốc tịch Trung Quốc tên là A G làm chủ một Công ty hoạt động trong lĩnh vực Game lừa đảo qua mạng tại đặc khu kinh tế BoKeo, nước CHDCND Lào (C không biết địa chỉ cụ thể của A G ở đâu). A G nói với C, hiện đang cần tuyển lao động người Việt Nam làm việc tại Công ty của A G. Đồng thời, hứa hẹn với C nếu đưa được người Việt Nam sang làm việc tại Công ty của A G thì C sẽ được hưởng 5%/ 01 tháng/tổng thu nhập của lao động người Việt Nam. Ngoài ra, C sẽ được A G giới thiệu các công trình xây dựng tại Lào để C làm. Nghe A G nói vậy C đồng ý. Sau đó, C sử dụng tài khoản Facebook “Nam Cường” trực tiếp đăng bài vào các hội nhóm với nội dung tuyển lao động Việt Nam sang Lào làm việc. Trong các bài đăng, C có ghi mức lương thưởng và đãi ngộ cao nhưng không ghi rõ làm công việc gì để thu hút người lao động vào đăng ký.
Khi thấy C đăng bài tuyển lao động là người Việt Nam sang Lào làm việc, H hỏi C tuyển người làm công việc gì? C trả lời “Người Trung Quốc đang cần tuyển người lao động để làm game lừa đảo trên mạng, nếu anh em mình tuyển được người đưa vào Công ty thì người Trung Quốc sẽ trích trả 5% hoa hồng từ thu nhập của lao động mà ta đưa qua. Đồng thời, sẽ được làm quản lý nhóm người Việt Nam tại Công ty và có mức lương 21.000.000 đồng, cao hơn lương của người lao động”. Nghe vậy, H xin tham gia làm cùng, C đồng ý.
Thông qua các mối quan hệ xã hội, Lương Ngọc C đã trực tiếp liên lạc với 05 người lao động gồm: Nguyễn Trọng T1, sinh năm: 1982, T2 tại: tổ D, phường Đ, thành phố L, tỉnh Lai Châu; Nguyễn Thế H1, sinh năm 1981, trú tại số C Đường L, Quận N, thành Phố Hải Phòng; Cao Xuân H2, sinh năm 1998, trú tại xóm L, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An; Trần Thế Đ, sinh năm 1997, trú tại: xóm L, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An; Hồ Bá H3, sinh năm 2004, trú tại xóm B, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An để tư vấn trao đổi việc tuyển dụng lao động vào làm việc trong công ty tại Lào. C nói với những người này sang Lào làm công việc máy tính, việc nhẹ lương cao, mọi chi phí đi lại ăn ở sinh hoạt công ty chi trả, nhưng C không nói rõ là công việc cụ thể gì. Nghe C nói vậy thì những người này đã tin tưởng và đồng ý sang Lào làm việc. Khoảng đầu tháng 4 năm 2022, C nói với H “đã tuyển được một số người lao động Việt Nam, đang chuẩn bị về Việt Nam để đưa những người này sang Lào”, C nói H về cùng để đưa người sang. Hai ngày sau, H lái xe ô tô của C chở C về Việt Nam.
Khi về Việt Nam, Phạm Văn H có gặp anh Lê Văn M (anh rể H), sinh năm 1988, trú tại xóm G, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An. H rủ anh M đi tham quan, du lịch tại đặc khu B, nước CHDCND Lào, anh M đồng ý. Trong thời gian này, Hoàng Văn N2 (bạn của C), sinh năm 1996, trú tại xóm T, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An biết Lương Ngọc C về Việt Nam nên đã liên lạc và trao đổi với C cho N2 đi cùng C sang Lào lao động, C đồng ý.
Ngày 11/4/2022, C đưa cho H 12.000.000 đồng để H lo chi phí ăn uống, đi lại cho Nguyễn Thế H1, Nguyễn Trọng T1, Trần Thế Đ, Cao Xuân H2 và Hồ Bá H3 đi sang Lào trước còn C tự lái xe sang sau. Khoảng 22 giờ cùng ngày, tại Ngã 3 Yên L giao Quốc lộ A thuộc địa phận xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An, Phạm Văn H đón xe ô tô tuyến Việt Nam - Lào cùng 07 người gồm: Nguyễn Thế H1, Nguyễn Trọng T1, Trần Thế Đ, Cao Xuân H2, Hồ Bá H3, Lê Văn M, Hoàng Văn N2 đi qua Cửa khẩu quốc tế Cầu Treo sang thủ đô V, nước CHDCND Lào.
Khoảng 04 ngày sau, H đưa mọi người vào Công ty của A G và gọi điện thông báo cho C biết đã đưa người Việt Nam sang Lào an toàn. Lúc này, C nhờ quản lý công ty N3 đưa cho H 5.000 Nhân dân tệ (tương đương với số tiền 17.000.000 đồng) để Hào chi tiêu cá nhân tại Công ty (Quá trình này, N4 đều có mặt và chứng kiến). Sau đó, C trao đổi với A G mọi việc của lao động Việt Nam làm tại Công ty thì C giao cho H đứng ra xử lý. Hào có nhiệm vụ quản lý quân số, theo dõi doanh thu của lao động Việt Nam tại Công ty để sau này tính toán % lợi nhuận, hoa hồng với A G.
Hoàng Văn N2 thông thạo tiếng Trung Quốc nên sau khi đến Công ty của A G, N2 đã liên lạc, trao đổi xin làm việc cho A G và được A G bố trí cho làm phiên dịch tiếng Việt - T3. Đối với Lê Văn M ở cùng H tại Công ty A được khoảng 07 ngày thì trở về Việt Nam.
Khoảng 10 ngày sau, C đến Công ty của A G và mua cho H 01 điện thoại Iphone 13 promax trị giá 28.000.000 đồng vì đã giúp C đưa người sang Lào vào Công ty làm việc. Trong quá trình H làm quản lý tại Công ty, ngày 16/6/2022, C đã chuyển khoản số tiền 5.000.000 đồng đến tài khoản số 7898910999999 mở tại Ngân hàng Q (M1) chủ tài khoản Phạm Văn H để H sử dụng chi tiêu cá nhân.
Khi biết phải làm công việc lừa đảo chiếm đoạt tài sản của người khác, những người lao động Việt Nam không muốn làm việc hoặc làm không đủ chỉ tiêu mà chủ Trung Quốc đưa ra, họ bị A G chửi bới, đe dọa đánh đập, ép tăng ca làm cả ngày đến 24 giờ đêm. Quá trình này, Lương Ngọc C biết Hồ Bá H3 đã tìm cách liên lạc với gia đình cầu cứu nên đã chỉ đạo Phạm Văn H đe dọa H3. Do H3 phản ứng chống đối nên H đã đánh vào mặt H3 trước sự chứng kiến của nhóm lao động Việt Nam. Một số lao động không muốn làm công việc lừa đảo, có nguyện vọng trở về Việt Nam thì A G yêu cầu nộp tiền đã chi phí đi lại, ăn uống, sinh hoạt mới cho về. Người lao động đã nói lại nội dung này với C và H. Sau đó, C trao đổi với N4 ai có nguyện vọng về Việt Nam thì mỗi người phải nộp từ 40.000.000 đồng đến 95.000.000 đồng.
Ngày 04/7/2022, sau khi nộp cho A G 95.238.000 đồng Nguyễn Thế H1 được về Việt Nam qua Cửa khẩu Quốc tế C2, tỉnh Hà Tĩnh.
Ngày 15/7/2022, Nguyễn Trọng T1 được về Việt Nam qua Cửa khẩu Quốc tế T4, tỉnh Điện Biên. Sau khi nói dối A G nếu được về sẽ tuyển mộ nhiều lao động đưa sang làm việc. A G tin tưởng cho T1 về mà không yêu cầu nộp tiền.
Ngày 01/9/2022, Trần Thế Đ và Cao Xuân H2 được về Việt Nam qua Cửa khẩu Quốc tế C2, tỉnh Hà Tĩnh (Trần Thế Đ nộp cho A G 95.000.000 đồng còn Cao Xuân H2 là thông gia với C nên nhờ C can thiệp để về Việt Nam nên không phải nộp tiền).
Ngày 17/3/2023, Lương Ngọc C bị Cục C3 điều tra Bộ C4 nước CHDCND Lào bắt giữ về hành vi “Cố ý gây thương tích và bắt cóc”. Hiện nay, Lương Ngọc C đang bị tạm giam tại Trại giam N5, thủ đô V, nước CHDCND Lào để điều tra, xử lý.
Một thời gian sau, Hoàng Văn N2 về Việt Nam. Ngày 03/8/2023, Hoàng Văn N2 xuất cảnh đi lao động ở nước ngoài, hiện nay không có mặt tại địa phương.
Ngày 16 - 17/8/2023, Cao Xuân H2 và Trần Thế Đ đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh N, tố cáo hành vi lừa lao động Việt Nam đi Lào bán của Lương Ngọc C và Phạm Văn H.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh N, Phạm Văn H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.
Quá trình điều tra xác định, Lương Ngọc C đang bị tạm giam tại nước CHDCND Lào để điều tra về tội “Cố ý gây thương tích và bắt cóc”. Ngày 29/11/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an tỉnh N gửi Công văn số 4236/CQCSĐT-PC02 cho Cục C3 điều tra Bộ C4 nước CHDCND Lào đề nghị di lý đối tượng Lương Ngọc C về Việt Nam để phục vụ công tác điều tra, truy tố, xét xử nhưng chưa có phản hồi. Căn cứ khoản 2 Điều 170 Bộ luật tố tụng hình sự Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh N quyết định tách vụ án hình sự đối với hành vi “Mua bán người” của Lương Ngọc C để tiếp tục điều tra, truy tố, xét xử sau.
Vật chứng: thu giữ của Phạm Văn H 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 Pro Max, màu trắng, số Imei1: 352472883830338, Imei2: 352472883645090 lắp sim số: 0981781567. Đối với 01 điện thoại Iphone 13 promax Lương Ngọc C mua cho Phạm Văn H sử dụng khi làm việc tại BoKeo, Lào, quá trình Phạm Văn H lao động tại Công ty của A G đã bị mất nên không thể thu hồi.
Về dân sự: Bị hại Nguyễn Thế H1 yêu cầu Phạm Văn H và Lương Ngọc C bồi thường dân sự 95.238.000 đồng, Trần Thế Đ yêu cầu Phạm Văn H và Lương Ngọc C bồi thường dân sự 95.000.000 đồng. Các bị hại Nguyễn Trọng T1, Hồ Bá H3 và Cao Xuân H2 không có yêu cầu bồi thường về dân sự. Quá trình điều tra, Phạm Văn H đã tác động gia đình bồi thường cho Nguyễn Thế H1 47.619.000 đồng; Trần Thế Đ 47.500.000 đồng. Đại diện gia đình bị cáo Lương Ngọc C tự nguyện bồi thường thiệt hại cho Nguyễn Thế H1 47.619.000 đồng; Trần Thế Đ 47.500.000 đồng. Hiện các bị hại không yêu cầu gì về dân sự, có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
Tại bản án hình sự sơ thẩm số 104/2024/HS-ST ngày 14 tháng 6 năm 2024, Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An đã quyết định:
Căn cứ điểm d, đ khoản 2 Điều 150, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54 Bộ luật hình sự;
Tuyên bố bị cáo Phạm Văn H phạm tội “Mua bán người”;
Xử phạt Phạm Văn H 05 (Năm) năm tù.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về xử lý vật chứng, án phí và thông báo quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 20 tháng 06 năm 2024, bị cáo Phạm Văn H có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo H vắng mặt và có đơn xin hoãn phiên toà.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội có ý kiến: Bản án hình sự sơ thẩm của Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An đã xét xử bị cáo phạm Văn H về tội “Mua bán người” là đúng người, đúng tội, không oan. Đơn kháng cáo của bị cáo trong hạn luật định nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm. Tại phiên toà phúc thẩm hôm nay, bị cáo vắng mặt và có đơn xin hoãn phiên toà, bị cáo đã được nhận giấy triệu tập của Toà án hợp lệ nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt bị cáo. Bị cáo không xuất trình được thêm tài liệu giảm nhẹ hình phạt mới nên đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận nội dung kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên quyết định của Bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên, Thẩm phán, Thư ký trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử tại Tòa án cấp sơ thẩm đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Phạm Văn H đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt và có đơn đề nghị hoãn phiên tòa với lý do bị ốm, nhưng không có chứng cứ, tài liệu kèm theo để chứng minh việc vắng mặt của bị cáo vì lý do bất khả kháng hoặc vì trở ngại khách quan; bị cáo H chỉ kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 290 Bộ luật Tố tụng hình sự tiến hành vụ án theo thủ tục chung.
[2]. Tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo khai nhận đầy đủ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai của các bị hại và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, có căn cứ xác định: Tháng 03 năm 2022, Lương Ngọc C và Phạm Văn H lao động tại nước CHDCND Lào, có quen và biết một người đàn ông quốc tịch Trung Quốc (A G) làm chủ Công ty hoạt động trong lĩnh vực Game lừa đảo qua mạng, tại đặc khu kinh tế BoKeo đang cần người lao động. C và H đã bàn bạc, thống nhất tìm kiếm và lừa người Việt Nam sang Lào làm việc cho A G để hưởng lợi bất chính (5% hoa hồng từ thu nhập của người lao động). Lương Văn C1 đã đăng tin tuyển dụng lao động và tư vấn cho những người lao động có nhu cầu, nhưng không nói cụ thể là sang làm công việc gì. Ngày 11/4/2022, Phạm Văn H đưa 05 người gồm: Nguyễn Thế H1, Nguyễn Trọng T1, Trần Thế Đ, Cao Xuân H2 và Hồ Bá H3 xuất cảnh qua Cửa khẩu Quốc tế C2, tỉnh Hà Tĩnh sang làm việc cho A G tại đặc khu kinh tế Bo Keo, nước Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào. Khi biết công việc phải làm tại Lào, các lao động không đồng ý muốn trở về nhưng bị đe dọa, đòi tiền chuộc, đồng thời quá trình làm việc, A G và C1 chỉ đạo H khống chế, ép người lao động Việt Nam làm tăng ca, nếu phản kháng sẽ bị đe dọa, đánh đập; để được trở về Việt Nam, các lao động thực tế đã phải nộp khoản tiền chuộc.
Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, bị cáo nhận thức rõ hành vi của mình bị Nhà nước nghiêm cấm và sẽ bị xử lý nghiêm khắc. Bị cáo đã có hành vi vận chuyển người khác để chuyển giao, nhận tiền; chuyển giao người để người khác cưỡng bức lao động. Việc mua bán người diễn ra tinh vi, hành vi phạm tội của bị cáo được che giấu dưới vỏ bọc thuê lao động, lợi dụng sự tin tưởng của bị hại để đưa và bán họ nhằm thu lợi bất chính. Hành vi của bị cáo gây mất trật tự an toàn xã hội và sự bất bình trong nhân dân.
[3] Xét nội dung kháng cáo của bị cáo:
Toà án cấp sơ thẩm đã xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo như: Bị cáo không có tiền án, tiền sự; bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; bị cáo đã tác động gia đình khắc phục, bồi thường thiệt hại cho các bị hại, các bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Ông ngoại bị cáo là cụ Trần Văn H4 có thành tích xuất sắc trong kháng chiến được Nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng Ba; quá trình sinh sống tại địa phương, Phạm Văn H đã tích cực tham gia các hoạt động cộng đồng, được Chủ tịch UBND xã D tặng Giấy khen, bị cáo hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1; khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Mức hình phạt 05 năm tù mà Tòa án cấp sơ thẩm đã xử phạt bị cáo là phù hợp với tính chất mức độ nguy hiểm và hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra, phù hợp với các đặc điểm về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, có căn cứ, và đúng pháp luật.
Tại cấp phúc thẩm, bị cáo không xuất trình thêm tài liệu, chứng cứ mới nên không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị cáo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội.
4. Do kháng cáo không được chấp nhận nên bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án:
- Không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của Phạm Văn H. Giữ nguyên quyết định của Bản án hình sự sơ thẩm số 104/2024/HSST ngày 14 tháng 06 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An như sau:
Căn cứ điểm d, đ khoản 2 Điều 150, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Phạm Văn H 05 (năm) năm tù về tội. “Mua bán người”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo thi hành án, nhưng được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 18/8/2023 đến 02/02/2024.
- Về án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo phải chịu 200.000 (Hai trăm) nghìn đồng án phí hình sự phúc thẩm;
- Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết kháng cáo, kháng nghị.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN Nguyễn Thị Thanh Xuân |
|
CÁC THẨM PHÁN |
THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
| Phạm Đình Khánh | Trần Quang Minh | Nguyễn Thị Thanh Xuân |
Bản án số 230/2025/HS-PT ngày 26/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI về hình sự (mua bán người)
- Số bản án: 230/2025/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Mua bán người)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 26/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phạm Văn H phạm tội "Mua bán người"
