TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Bản án số: 230/2025/HNGĐ-ST Ngày 17/6/2025 V/v Tranh chấp ly hôn | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Thanh Minh.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Nguyễn Thị Nở.
- Bà Phan Thanh Minh.
- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thư Thái Bình – Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Trúc - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 6 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 69/2024/TLST-HNGĐ ngày 01 tháng 3 năm 2024 về “Tranh chấp ly hôn”.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 251/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 04 tháng 02 năm 2025, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Phi P, sinh năm 1989; Địa chỉ: 2 T, Phường C, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt – có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
Bị đơn: Ông Trần D, sinh năm 1987; Địa chỉ: Số A, ngõ A, đường L, khu N, thành phố Đ, Đài Loan (vắng mặt – thực hiện ủy thác tư pháp).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 24/10/2023 và Bản tự khai ngày nguyên đơn bà Nguyễn Thị Phi P trình bày:
Bà và ông Trần D, tự nguyện kết hôn, có đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 53/KH, Quyển số 01/2013 cấp ngày 18/3/2013 tại Ủy ban nhân dân Phường C, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh.
Trong quá trình chung sống, vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, cải vã thường xuyên. Dù đã có nhiều nỗ lực hàn gắn, song vợ chồng không thể hòa hợp và tiếp tục chung sống hạnh phúc được. Từ năm 2015 đến nay, vợ chồng đã ly thân và không còn liên lạc nữa. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, không thể đoàn tụ, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt nên bà Nguyễn Thị Phi P khởi kiện yêu cầu ly hôn ông Trần D.
Về con chung: Không có.
Về tài sản chung, nợ chung: Không có.
Bà Nguyễn Thị Phi P có đơn xin không tham gia phiên họp hòa giải và đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt.
Tòa án đã ủy thác tư pháp cho cơ quan có thẩm quyền của Đài Loan nơi bị đơn – ông Trần D cư trú, để tống đạt thông báo về việc thụ lý, ngày mở phiên họp, phiên tòa cho ông Trần D và yêu cầu ông Trần D trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Phi P nhưng ông Trần D không có văn bản trả lời và vắng mặt không có lý do.
Tại phiên tòa sơ thẩm, Kiểm sát viên phát biểu:
Về tố tụng: Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án và Hội đồng xét xử đã chấp hành đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Các đương sự thực hiện quyền và nghĩa vụ theo đúng quy định của pháp luật.
Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Căn cứ Điều 37; Điều 38 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa Gia đình và Người chưa thành niên - Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh thụ lý, giải quyết vụ án đúng thẩm quyền.
Về nội dung: Căn cứ Giấy chứng nhận kết hôn số 53/KH, Quyển số 01/2013 cấp ngày 18/3/2013 tại Ủy ban nhân dân Phường C, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh thì quan hệ hôn nhân giữa bà Nguyễn Thị Phi P và ông Trần D là hợp pháp. Xét thấy, giữa bà Nguyễn Thị Phi P và ông Trần D đã không chung sống thực tế từ lâu, không có hạnh phúc, mục đích của hôn nhân không đạt được; cả hai sống ở hai nước khác nhau, không liên lạc nên không có khả năng hàn gắn. Tòa án đã ủy thác tư pháp để tống đạt, thông báo về việc thụ lý, ngày mở phiên họp, phiên tòa cho ông Trần D theo đúng quy định pháp luật. Do đó, việc bà P xin ly hôn là có căn cứ, tự nguyện, không trái quy định pháp luật, không trái đạo đức xã hội nên có cơ sở chấp nhận. Căn cứ khoản 1 Điều 51; Điều 53; Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Nguyễn Thị Phi P; về con chung, tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết; về án phí: Bà P phải chịu theo quy định pháp luật là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng).
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Bà Nguyễn Thị Phi P khởi kiện yêu cầu ly hôn ông Trần D đang cư trú tại Đài Loan nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa Gia đình và Người chưa thành niên – Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại khoản 1 Điều 28; khoản 3 Điều 35; khoản 1 Điều 37; điểm a khoản 2 Điều 38 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[2] Bà Nguyễn Thị Phi P vắng mặt tại phiên tòa nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Ông Trần D đã được Tòa án triệu tập hợp lệ hai lần nhưng vắng mặt tại phiên tòa không có lý do chính đáng nên căn cứ Điều 227, khoản 5 Điều 477 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bà Nguyễn Thị Phi P và ông Trần D.
[3] Về hôn nhân: Căn cứ Giấy chứng nhận kết hôn số 53/KH, Quyển số 01/2013 cấp ngày 18/3/2013 tại Ủy ban nhân dân Phường C, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh thì quan hệ hôn nhân giữa bà Nguyễn Thị Phi P và ông Trần D là hợp pháp. Vợ chồng bà Nguyễn Thị Phi P và ông Trần D đã không chung sống, không liên lạc, không thương yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ nhau, không có tình nghĩa vợ chồng làm cho hôn nhân trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do đó, căn cứ khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, khoản 3 Điều 4 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc hôn nhân gia đình, chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Nguyễn Thị Phi P.
[4] Về con chung, tài sản chung và nợ chung: Không có.
[5] Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ vào khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án bà Nguyễn Thị Phi P phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000₫ (ba trăm nghìn đồng).
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 28; Điều 35; Điều 37; khoản 2 Điều 38; khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 273 và khoản 3 Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- Căn cứ Điều 19; khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
- Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
- Về hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Phi P được ly hôn ông Trần D.
- Về con chung, tài sản chung và nợ chung: Không có.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị Phi P phải chịu 300.000₫ (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0031946 ngày 23 tháng 02 năm 2024 của Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh. Bà Nguyễn Thị Phi P đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
- Các đương sự có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm. Thời hạn kháng cáo là 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ cho họ hoặc được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật đối với bà Nguyễn Thị Phi P và 12 (mười hai) tháng kể từ ngày tuyên án đối với ông Trần D.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
Nơi nhận :
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thanh Minh |
Bản án số 230/2025/HNGĐ-ST ngày 17/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 230/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: cho ly hôn
