|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 230/2025/DS-PT Ngày: 23 - 6 - 2025 V/v: Tranh chấp hợp đồng vay |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Cao Khánh.
- Các Thẩm phán: Bà Hoàng Thị Hải Hà; Bà Đinh Cẩm Đào.
- - Thư ký phiên tòa: Bà Trần Phương Linh - Là Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau.
- - Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa: Ông Hữu Duy Khánh - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 116/2025/TLPT-DS ngày 25 tháng 04 năm 2025 về việc: “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 92/2025/DS-ST ngày 13 tháng 3 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 151/2025/QĐ-PT ngày 20 tháng 5 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn H, sinh năm: 1958; cư trú tại: Ấp A, xã T, huyện T, tỉnh Cà Mau.
- Bị đơn: Ông Lê Việt T (Lê Văn T1), sinh năm: 1970; cư trú tại: Ấp A, xã T, huyện T, tỉnh Cà Mau.
- Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn: Ông Huỳnh Ngọc H1, sinh năm: 1971; cư trú tại: ấp B, xã T, huyện T, tỉnh Cà Mau.
Do có kháng cáo của: Ông Lê Việt T (Lê Văn T1) – là bị đơn.
Ông Huỳnh Ngọc H1 có mặt tại phiên tòa. Ông Nguyễn Văn H có mặt tại phiên tòa, sau phần trình bày ý kiến về kháng cáo của bị đơn thì ông H yêu cầu Hội đồng xét xử tiến hành xử vắng mặt do bận công việc và ông ra về.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa ông Nguyễn Văn H trình bày:
Vào 17/4/2021 al ông Lê Văn T1 nhờ ông vay dùm số tiền 15.000.000 đồng, sau đó tôi hỏi vay của ông Trần Trung V về đưa tiền lại cho ông T1, tiền lãi 1.500.000 đồng/tháng. Ông T1 trả lãi được 03 tháng số tiền 4.500.000 đồng, còn lại đến nay ông T1 không đóng lãi, ông xuất tiền đóng lãi thay cho ông T1 đến nay là 40.000.000 đồng (Đóng lãi từ tháng 7/2021 đến nay). Tại phiên tòa ông thay đổi yêu cầu khởi kiện, ông yêu cầu ông Lê Văn T1 (Lê Việt T) số tiền vốn 15.000.000 đồng và lãi suất tính từ ngày hòa giải 16/9/2023 đến nay là 17 tháng x 1.500.000 đồng x 1,66 %/tháng = 4.233.000 đồng.
Tại phiên tòa người đại diện theo ủy quyền của ông Lê Văn T1 (Lê Việt T) ông Huỳnh Ngọc H1 trình bày: Trước đây ngày 17/4/2021 al ông T có vay của ông H số tiền 15.000.000 đồng, hai bên không có thỏa thuận lãi suất, ông T đóng lãi cho ông H trước đây 4.500.000 đồng, số tiền ông T trả ngày 29/12/2023 al cho ông H 10.000.000 đồng là tiền vốn. Ông T và ông H có tham gia buổi hòa giải tại cơ sở vào ngày 16/9/2023 như biên bản có tại hồ sơ vụ án. Bị đơn không thống nhất yêu cầu của nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả số tiền vốn 15.000.000 đồng và lãi 4.233.000 đồng. Do hai bên không có thỏa thuận về lãi suất, ông yêu cầu điều chỉnh lại lãi suất 10%/năm.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 92/2025/DS-ST ngày 13 tháng 3 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau đã quyết định (tóm tắt):
Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn H đối với ông Lê Việt T (Lê Văn T1). Buộc ông Lê Việt T (Lê Văn T1) trả cho ông Nguyễn Văn H số tiền 11.829.500 đồng (Mười một triệu, tám trăm hai mươi chín ngàn, năm trăm đồng).
Không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn H về việc yêu cầu ông Lê Việt T (Lê Văn T1) trả số tiền 7.403.500 đồng.
Ngoài ra án sơ thẩm còn tuyên về chi phí tố tụng, nghĩa vụ Thi hành án, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.
Ngày 26/3/2025 Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau nhận được đơn kháng cáo của ông Lê Việt T là bị đơn, yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm sửa một phần Bản án sơ thẩm, chỉ tính lãi từ ngày 16/9/2023 theo đúng yêu cầu khởi kiện của ông H; áp dụng lãi suất 10%/năm, thay vì 1,66%/tháng; tính lại số tiền vốn, ông T có nghĩa vụ trả cho ông H là 1.808.000đ.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Ông Nguyễn Văn H yêu cầu xử vắng mặt, yêu cầu xem xét kháng cáo theo quy định pháp luật.
Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, yêu cầu sửa bản án sơ thẩm theo hướng tính lại từ ngày 16/9/2023, với mức lãi suất 10%/năm và chỉ buộc bị đơn trả cho nguyên đơn số tiền 1.808.000đ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa phát biểu:
Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký tiến hành đúng quy định pháp luật tố tụng dân sự; Các đương sự chấp hành đúng với quyền và nghĩa vụ theo pháp luật quy định.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự: Chấp nhận một phần kháng cáo của bị đơn Lê Việt T, sửa một phần Bản án sơ thẩm số 92/2025/DS-ST ngày 13 tháng 3 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau theo hướng buộc bị đơn trả vốn 5.000.000đ và tính lãi suất 20%/năm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Xét đơn kháng cáo của bị đơn Lê Văn T1 nộp trong thời hạn quy định của pháp luật. Về tố tụng, quan hệ tranh chấp, thời hiệu khởi kiện và thẩm quyền giải quyết đã được cấp sơ thẩm xác định và thực hiện đúng theo qui định pháp luật.
Tại phiên tòa phúc thẩm, ông Nguyễn Văn H đề nghị xử vắng mặt, căn cứ Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xử vắng mặt ông H.
Xét yêu cầu kháng cáo của ông Lê Văn T1, Hội đồng xét xử thấy rằng:
[2] Theo Biên bản hòa giải cơ sở vào ngày 16/9/2023, ông H và ông T1 đều xác định ông T1 sẽ trả vốn trước, còn phần tiền lãi trả sau (bút lục 02). Do đó sau hòa giải, vào ngày 29/12/2023 âm lịch (08/02/2024 dương lịch) ông T1 trả 10.000.000đ (bút lục 30), được xác định là trả vốn.
[3] Về lãi: Nguyên đơn xác định đôi bên thỏa thuận lãi suất 10%/tháng và ông T1 đã đóng được 03 tháng = 4.500.000đ. Phía bị đơn xác định đôi bên không thỏa thuận lãi suất nhưng thừa nhận đã đóng lãi 4.500.000đ như nguyên đơn trình bày. Hội đồng xét xử nhận thấy việc vay nợ và có trả lãi thì đôi bên phải thỏa thuận mức lãi để làm căn cứ tính số tiền trả. Lời trình bày của nguyên đơn về lãi suất 10%/tháng phù hợp với số tiền vốn vay và tiền lãi bị đơn thừa nhận đã đóng, do đó lời trình bày về lãi suất 10%/tháng của nguyên đơn có căn cứ.
Việc ông H và ông T1 thỏa thuận về lãi suất vay tiền 10%/tháng, là vượt quá 20%/năm theo quy định của pháp luật. Do đó, phải áp dụng mức lãi suất 20%/năm (1,66%/tháng), theo quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật dân sự.
[4] Về thời gian tính lãi: Trong đơn khởi kiện và quá trình hòa giải, xét xử, ông H yêu cầu tính lãi từ 16/9/2023 với điều kiện không trừ lại số lãi 4.500.000₫ mà ông T1 đã trả. Nhưng như nhận định tại mục [3], số lãi 4.500.000đ đã trả là cao so với quy định của pháp luật, do đó lãi suất phải được tính lại theo quy định, tính từ ngày vay cho đến ngày xét xử sơ thẩm, theo lãi suất quy định của pháp luật, sau đó đối trừ số lãi mà ông T1 đã trả với lãi suất cao.
[5] Số lãi theo quy định pháp luật, được tính như sau:
- - Vay 15.000.000₫ từ 17/4/2021 âm lịch (28/5/2021 dương lịch), đến 08/02/2024, là 30 tháng 10 ngày.
- 15.000.000₫ x 1,66% x 30 tháng 10 ngày = 7.553.000đ.
- - Ngày 08/02/2024 trả vốn 10.000.000đ. Còn lại vốn 5.000.000đ.
- Từ ngày 09/02/2024 đến ngày xét xử sơ thẩm (là ngày 13/3/2025), là 13 tháng 04 ngày.
- 5.000.000₫ x 1,66% x 13 tháng 04 ngày = 1.090.000₫ (làm tròn)
- - Tổng lãi tính theo quy định pháp luật, đối trừ số lãi đã trả:
(7.553.000đ + 1.090.000₫) – 4.500.000đ = 4.143.000₫
[6] Tổng tiền vốn và lãi ông T1 còn phải trả cho ông H:
5.000.000₫ + 4.143.000₫ = 9.143.000₫.
[7] Ông H yêu cầu ông T1 trả vốn 15.000.000đ + lãi 4.233.000đ = 19.233.000đ, Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận một phần yêu cầu của ông H, buộc ông T1 trả tổng vốn và lãi là 9.143.000đ. Không chấp nhận một phần yêu cầu của ông H với số tiền yêu cầu ông T1 trả là 10.090.000đ.
[8] Từ những căn cứ và nhận định nêu trên, Hội đồng xét xử chấp nhận một phần kháng cáo của ông Lê Việt T, sửa một phần Bản án sơ thẩm số 92/2025/DS-ST ngày 13/3/2025 của Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau
[8] Đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử, nên được chấp nhận.
[9] Về án phí dân sự:
- - Án phí sơ thẩm: Ông H là người cao tuổi nên được miễn án phí; ông T phải chịu 457.000₫ (làm tròn).
- - Án phí phúc thẩm: Ông T không phải chịu, được nhận lại số tiền đã dự nộp.
[10] Các quyết định khác của án sơ thẩm không kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 238, khoản 2 Điều 308, Điều 309 Bộ luật tố tụng Dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Chấp nhận một phần kháng cáo của ông Lê Việt T (Lê Văn T1).
Sửa một phần Bản án sơ thẩm số 92/2025/DS-ST ngày 13 tháng 3 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau.
Tuyên xử:
-
Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Nguyễn Văn H. Buộc ông Lê Việt T (Lê Văn T1) trả cho ông Nguyễn Văn H tổng số tiền 9.143.000đ (chín triệu một trăm bốn mươi ba ngàn đồng).
Không chấp nhận một phần yêu cầu của ông Nguyễn Văn H về việc yêu cầu ông Lê Việt T (Lê Văn T1) trả số tiền 10.090.000đ.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án, nếu người bị thi hành án không tự nguyện thi hành xong, thì phải chịu thêm khoản lãi phát sinh theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự tương ứng với số tiền và thời gian chậm trả.
-
Về án phí:
- - Án phí sơ thẩm: Ông Nguyễn Văn H được miễn; ông Lê Việt T (Lê Văn T1) phải chịu 457.000đ (bốn trăm năm mươi bảy ngàn đồng).
- - Án phí phúc thẩm: Ông Lê Việt T (Lê Văn T1) không phải chịu. Ngày 26/3/2025 ông T1 đã dự nộp 300.000đ, theo biên lai số 0005394 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trần Văn Thời, được nhận lại.
- Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
- Các quyết định khác của án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đỗ Cao Khánh |
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ |
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
Hoàng Thị Hải Hà Đinh Cẩm Đào |
Bản án số 230/2025/DS-PT ngày 23/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 230/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 23/06/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản giữa Nguyễn Vă H- Lê Việt Th
