Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

QUẬN LONG BIÊN

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 230/2024/HS-ST

Ngày: 22/10/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LONG BIÊN, TP . HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Minh Nam

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Chu Bá Hữu

Bà Nguyễn Thị Nga

- Thư ký phiên toà: Bà Thạch Thị Hằng – Thư ký Toà án nhân dân quận Long Biên, thành phố Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Long Biên, thành phố Hà Nội tham gia phiên toà: Bà Phạm Thị Kim Huê - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 10 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Long Biên, Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 238/2024/TLST-HS ngày 02 tháng 10 năm 2024; Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 256/2024/QĐXXST-HS ngày 10/10/2024 đối với bị cáo:

TRẦN THU TRANG NHUNG, sinh năm 1989, Giới tính: Nữ, Tên gọi khác: Không; HKTT: Thôn T, T, T, Bắc Ninh; C ở: Tổ A, phường L, L, Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Không; Văn hóa: 12/12; Họ tên bố: Trần Ngọc H, SN: 1960; Họ tên mẹ: Nguyễn Thị Thanh T, SN: 1967; Gia đình có 02 chị em, bị can là con thứ nhất; Chồng: Nguyễn Trọng H1; SN: 1989 (đã ly hôn); Con: Có 02 con, lớn sinh năm 2016, nhỏ sinh năm 2019; TATS: Theo danh chỉ bản số 203 ngày 25/03/2024 của Công an quận L lập và lý lịch địa phương cung cấp bị cáo không có tiền án, tiền sự.

Đầu thú và tạm giữ ngày 16/3/2024. Hủy bỏ tạm giữ ngày 25/3/2024, hiện bị cáo đang áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú. (Có mặt)

Bị hại:

Ông Trần Thành Đ, sinh năm 1993

Chỗ ở: số E ngõ I Đ, P . L, Q . L, Hà Nội

(Có đơn xin xét xử vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 10 giờ 00' ngày 15/3/2024 Trần Thu Trang N (SN: 1989, HKTT: thôn T, xã T, huyện T, Bắc Ninh; Chỗ ở: Tổ A phường L, quận L, Hà Nội) đi qua cửa hàng P địa chỉ số E ngõ I Đ, phường L, L, Hà Nội thấy có dịch vụ chuyển tiền nhanh 24/7 qua ứng dụng điện thoại di động. N đã nảy sinh ý định nhờ chủ cửa hàng chuyển tiền cho N (bản thân Nhung lúc này không có tiền), để N sử dụng số tiền đó vào việc chơi trò chơi đặt cược trên mạng Internet. Khi N gặp anh Trần Thành Đ (SN: 1993, HKTT: B, V, Kim Đ1, Hưng Yên; Chỗ ở hiện nay: số E ngõ I Đ, P . L, Q . L, Hà Nội) là chủ cửa hàng P thì yêu cầu anh Đ chuyển cho N số tiền 12.000.000 đồng (Mười hai triệu đồng) vào số tài khoản 1033057060 của ngân hàng V1 mang tên Trần Thu Trang N, N không nói cho anh Đ sử dụng tiền vào mục đích gì. Anh Đ sử dụng số tài khoản 15110000791544 ngân hàng BIDV mang tên Trần Thành Đ chuyển 12.000.000 đồng vào tài khoản trên của N và B chuyển tiền là 20.000 đồng. Nhận được tiền của anh Đ, N báo 1 tiếng sau sẽ hoàn trả số tiền trên và tiền phí dịch vụ cho anh Đ bằng hình thức chuyển khoản ngân hàng. Sau đó, N ngồi lại cửa hàng của anh Đ sử dụng điện thoại Iphone 6 plus của mình truy cập vào trang Web: htttp://ku.191net để nạp tiền chơi trò chơi đặt cược, tài khoản đăng nhập của N là 0395963568, mật khẩu là 091189Hn. Khi chơi trò chơi phải nạp tiền để quy đổi điểm chơi đặt cược, N dùng tài khoản 1033057060 ngân hàng V1 của mình quét mã QR – Code của trang Web htttp://ku.191net và chuyển 6.200.000 đồng (Sáu triệu hai trăm nghìn đồng) vào số tài khoản 0009358218183 ngân hàng V1 mang tên Phạm Đắc M được quy đổi thành 6200 điểm để đặt cược. N vào Web htttp://ku.191net dùng điểm vừa đổi chơi trò chơi Baccarat được khoảng 06 phút thì N thua hết 3000 điểm. Sau đó N tiếp tục dùng tài khoản ngân hàng V1 của mình quét mã QR – Code của trang Web htttp://ku.191net và chuyển 6.000.000 đồng (Sáu triệu đồng) vào số tài khoản 0001021507554 ngân hàng V1 mang tên Nguyễn Văn Đ2 để quy đổi thành 6000 điểm để đặt cược. N tiếp tục chơi đến 13h00' cùng ngày thì thua hết số điểm. Lúc này N yêu cầu anh Đ chuyển thêm 8.000.000 đồng (Tám triệu đồng) và bảo xong sẽ trả nốt toàn bộ số tiền. Khi anh Đ chuyển tiền xong thì N tiếp tục dùng tài khoản ngân hàng V1 của mình quét mã QR – Code của trang Web htttp://ku.191net và chuyển 8.000.000 đồng vào số tài khoản 0354583602 ngân hàng E mang tên Nguyễn Lê V quy đổi thành 8000 điểm để đặt cược tiếp và N sau đó chơi thua hết số điểm trên. Đến khoảng 14 giờ 00 cùng ngày không thấy N trả tiền anh Đ có yêu cầu N chuyển trả lại 20.020.000 đồng (20.000.000 đồng và phí chuyển tiền 20.000 đồng) thì N có nói hiện tại không có tiền để trả lại cho Đ và hẹn để ngày hôm sau trả lại. Anh Đ không đồng ý và đến công an phường để trình báo.

Vật chứng thu giữ: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 Plus màu trắng đã qua sử dụng, số seri F2LV25ECHFM5.

Cáo trạng số: 197/CT-VKS ngày 16/08/2024 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân quận Long Biên đã truy tố Trần Thu Trang N về tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 174 của Bộ luật Hình sự 2015.

Tại phiên tòa:

Bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình phù hợp với nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai của người làm chứng phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra thấy rằng: Hành vi của bị cáo Trần Thu Trang N đã đủ yếu tố cấu thành tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Hành vi của bị cáo vi phạm khoản 1 Điều 174 của BLHS 2015.

Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 174; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 47 BLHS 2015; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Về hình phạt:

Đề nghị xử phạt bị cáo N mức án từ 09 tháng đến 12 tháng tù.

Về xử lý vật chứng:

Đề nghị tịch thu sung quỹ 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 Plus màu trắng đã qua sử dụng, số seri F2LV25ECHFM5 thu giữ của bị cáo N.

Về dân sự:

Ngày 20/3/2024 bị can Trần Thu Trang N đã hoàn trả số tiền 20.020.000₫ (Hai mươi triệu không trăm hai mươi nghìn đồng) cho anh Trần Thành Đ. Anh Đ đã nhận lại số tiền trên, không yêu cầu gì khác và có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị can N.

Nói lời sau cùng, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, HĐXX nhận thấy như sau:

[1] Về tố tụng:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra-Công an quận L, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Long Biên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã khai báo thành khẩn và không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

[2] Về tội danh:

Xét lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, biên bản tạm giữ đồ vật - tài liệu, lời khai bị hại cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án cũng như nội dụng bản cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 10 giờ 00' ngày 15/3/2024 tại cửa hàng P địa chỉ số E ngõ I Đ, phường L, L, Hà Nội, bị can Trần Thu Trang N tuy không có tiền nhưng vẫn bảo anh Trần Thành Đ là người làm dịch vụ chuyển tiền cho N số tiền 20.000.000 đồng. Ngay sau khi nhận được tiền N đã chiếm đoạt để chơi cá cược trên mạng Internet thua hết số tiền trên. Tổng số tiền N đã chiếm đoạt là 20.020.000đ (gồm 20.000.000 đồng đã nhận chuyển khoản của anh Đ và 20.000 đồng tiền phí chuyển tiền).

Hành vi của bị cáo Trần Thu Trang N đã cấu thành tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 174 của Bộ luật Hình sự. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân quận Long Biên truy tố bị cáo về tội danh và điều luật áp dụng là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật.

[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:

- Về tình tiết tăng nặng TNHS: Xét nhân thân bị cáo không có tiền án, tiền sự. Vì vậy, bị cáo không có tình tiết tăng nặng TNHS.

- Về tình tiết giảm nhẹ TNHS: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn nhận tội, ăn năn hối cải, tự nguyện khắc phục số tiền chiếm đoạt cho bị hại, bị hại có đơn xin giảm nhẹ cho bị cáo là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân được Bộ luật hình sự bảo vệ, xét về tính chất, mức độ thấy cần phải xử phạt bị cáo một mức án tù trong khung hình phạt nhằm cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian mới có tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm.

[4] Về hình phạt bổ sung:

Xét bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định, không có khả năng thi hành phạt bổ sung bằng tiền nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo là có căn cứ.

[5] Về xử lý vật chứng:

Tịch thu sung quỹ 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 Plus màu trắng đã qua sử dụng, số seri F2LV25ECHFM5 thu giữ của bị cáo N.

[6] Về dân sự:

Ngày 20/3/2024 bị can Trần Thu Trang N đã hoàn trả số tiền 20.020.000₫ (Hai mươi triệu không trăm hai mươi nghìn đồng) cho anh Trần Thành Đ. Anh Đ đã nhận lại số tiền trên, không yêu cầu gì khác và có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị can N.

Đại diện VKSND quận Long Biên đề nghị về hình phạt chính, hình phạt bổ sung, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ TNHS, xử lý vật chứng và dân sự là có căn cứ và phù hợp với nhận định của HĐXX.

[7] Các vấn đề khác:

Cơ quan điều tra đã yêu cầu phòng An ninh mạng và phòng chống tội phạm sử dụng công nghệ cao - Công an thành phố H xác minh cho kết quả tại thời điểm kiểm tra không truy cập được, không thu được các thông tin liên quan về trang web htttp://ku.191net.

Quá trình xác minh chủ tài khoản 0009358218183 ngân hàng V1 mang tên Phạm Đắc M nhận tiền chuyển khoản đổi điểm cá cược của N là Phạm Đắc M (SN: 2002, số CCCD: [...], hộ khẩu thường trú: xã V, Đ, Hà Nội). Xác minh tại xã V, Đ, Hà Nội hiện M không có mặt tại địa phương. Do đó Cơ quan điều tra chưa làm việc được với M.

Quá trình xác minh chủ tài khoản 0001021507554 ngân hàng V1 mang tên Nguyễn Văn Đ2 nhận tiền chuyển khoản đổi điểm cá cược của N là Nguyễn Văn Đ2 (SN: 1996, số CCCD: [...]; hộ khẩu thường trú: thôn D, xã Đ, Ứ, Hà Nội). Xác minh tại xã Đ, Ứ, Hà Nội hiện Đ2 không có mặt tại địa phương. Do đó Cơ quan điều tra chưa làm việc được với Đ2.

Cơ quan điều tra đã tiến hành gửi công văn đề nghị Ngân hàng TMCP X (E) phối hợp cung cấp thông tin số tài khoản: 0354583602 mang tên Nguyễn Lê V nhưng đến nay chưa có kết quả. Do đó, Cơ nay điều tra chưa làm việc được với V.

Đối với việc bị can N khai nhận sử dụng số tiền 20.200.000 đồng (Hai mươi triệu hai trăm nghìn đồng) vào việc chơi đánh cược trên trang Web htttp://ku.191net, cơ quan điều tra chưa làm việc được với các chủ tài khoản ngân hàng mà N đã chuyển tiền để mua điểm đánh cược. Do đó chưa có căn cứ để xác định vai trò của Nguyễn Văn Đ2, Nguyễn Lê V, Phạm Đắc M liên quan trong việc đánh cược qua mạng của N. Vì vậy, cơ quan điều tra tách hành vi và tài liệu liên quan đến hành vi chơi trò chơi đánh cược trên mạng của bị can N để tiếp tục xác minh. Khi nào làm rõ được các đối tượng sẽ xử lý sau.

[8] Về án phí:

Bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định của pháp luật.

[9] Về quyền kháng cáo:

Bị cáo và người tham gia tố tụng được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Trần Thu Trang N phạm tội: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản.

Căn cứ khoản 1 Điều 174; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự 2015:

- Xử phạt: Bị cáo Trần Thu Trang N 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án được trừ thời hạn tạm giữ từ ngày 16/03/2024 đến ngày 25/03/2024.

2. Về xử lý vật chứng:

Căn cứ Điều 47 của Bộ luật hình sự 2015 và khoản 1 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự:

Tịch thu sung quỹ 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 Plus màu trắng đã qua sử dụng, số seri F2LV25ECHFM5 thu giữ của bị cáo N.

(Hiện có tại chi cục Thi hành án dân sự quận Long Biên theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 15/8/2024)

3. Về án phí:

Căn cứ khoản 1 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án:

Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí HSST.

4. Quyền kháng cáo:

Căn cứ Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự.

Án xử công khai sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được giao, nhận bản án hợp lệ hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật./.

Nơi nhận

  • - TANDTP.Hà Nội;
  • - VKSNDTP.Hà Nội;
  • - Sở Tư pháp TP . Hà Nội;
  • - VKSND quận Long Biên;
  • - Công an quận Long Biên;
  • - Chi cục THA. DS quận Long Biên;
  • - Cơ quan THA.HS quận Long Biên;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Lưu hồ sơ;
  • - Lưu VP/TA.

T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Minh Nam

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 230/2024/HS-ST ngày 22/10/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LONG BIÊN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về lừa đảo chiếm đoạt tài sản (vụ án hình sự)

  • Số bản án: 230/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Vụ án hình sự)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 22/10/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LONG BIÊN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: LỪa đảo chiếm đoạt tài sản
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger