Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

QUẬN NAM TỪ LIÊM

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Số: 230/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 20/5/2024

V/v: Xin ly hôn.

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh Phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NAM TỪ LIÊM

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thúy Anh;

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Vương Đình Quang;
  2. Ông Nguyễn Tiến Chuyển.

- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Thùy Dung – Thư ký Tòa án nhân dân quận Nam Từ Liêm.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm tham gia phiên toà: Bà Bùi Hoàng Thuỷ - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân quận Nam Từ Liêm, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 171/2024/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 4 năm 2024 về việc “Xin ly hôn”. – theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 86/2024/QĐXX-ST ngày 08/5/2024 của Tòa án nhân dân quận Nam Từ Liêm giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Minh T, sinh năm 1983. Đăng ký HKTT: Tổ dân phố số D P, phường M, quận N, thành phố Hà Nội. Hiện cư trú: Số A, ngõ C, phường M, quận N, thành phố Hà Nội.

Bị đơn: Anh Vũ Quốc V, sinh năm 1983. Đăng ký HKTT và cư trú: Tổ dân phố số D P, phường M, quận N, thành phố Hà Nội.

Anh chị đều có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và tại bản tự khai, chị T trình bày: Tôi và anh Vũ Quốc V kết hôn năm 2007 trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, có đăng ký tại UBND xã N, huyện K, thành phố Hải Phòng. Quá trình chung sống, vợ chồng sống hạnh phúc một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm sống, cãi vã, xúc phạm nhau, anh V không tôn trọng tôi và gia đình tôi. Tôi và anh V đã ly thân từ tháng 01/2024 đến nay, không còn quan tâm đến nhau. Nay tôi xác định không còn tình cảm với anh V. Đề nghị Toà án cho tôi được ly hôn với anh V.

Về con chung: Chúng tôi có 03 con chung là: cháu Vũ Quốc Hải Đ, sinh ngày 30/4/2009, cháu Vũ Quốc Hải T1, sinh ngày 30/7/2010 và cháu Vũ Thị Kim N, sinh ngày 19/7/2019. Hiện nay, cháu Đ và cháu T1 đang ở với tôi, còn cháu N đang ở với anh V. Ly hôn tôi có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cả 03 con chung. Về cấp dưỡng nuôi con, tôi sẽ đưa ra ý kiến sau. Hiện nay tôi làm ở Tập đoàn F. Thu nhập hàng tháng của tôi khoảng 50.000.000 đồng. Hiện tôi đang thuê nhà tại địa chỉ: Số A, ngõ C, phường M, quận N, thành phố Hà Nội.

Về tài sản chung, vay nợ chung: Chúng tôi tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Theo bản tự khai và tại các buổi hoà giải, anh V trình bày:

Tôi và chị Nguyễn Thị Minh T kết hôn năm 2007 trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, có đăng ký tại UBND xã N, huyện K, thành phố Hải Phòng. Quá trình chung sống, tôi công nhận vợ chồng có xảy ra mâu thuẫn do rắc rối với kinh tế. Tôi và chị T đã ly thân từ tháng 01/2024 đến nay. Nay chị T có đơn xin ly hôn, tôi không đồng ý ly hôn với chị T vì tôi cần phải trao đổi thêm với chị T về phần tài sản chung.

Về con chung: Chúng tôi có 03 con chung là: cháu Vũ Quốc Hải Đ, sinh ngày 30/4/2009, cháu Vũ Quốc Hải T1, sinh ngày 30/7/2010 và cháu Vũ Thị Kim N, sinh ngày 19/7/2019. Hiện nay, cháu Đ và cháu T1 đang ở với chị T, còn cháu N đang ở với tôi. Ly hôn, tôi có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cả 03 con chung. Về cấp dưỡng nuôi con, tôi không yêu cầu chị T phải cấp dưỡng nuôi con. Hiện tôi làm ở Tập đoàn F. Thu nhập hàng tháng của tôi khoảng 50.000.000 đồng.

Về tài sản chung, vay nợ chung: Chúng tôi tự thoả thuận và không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa:

  • - Nguyên đơn – chị T trình bày: Chị vẫn giữ nguyên yêu cầu xin ly hôn. Về con chung: chị đề nghị được nuôi cả ba con chung. Về tài sản chung, vay nợ chung: tự thoả thuận, không yêu cầu Toà án giải quyết.
  • - Bị đơn – anh V trình bày: Anh không đồng ý ly hôn với chị T. Về con chung: anh đề nghị được nuôi cả ba con chung. Nếu không được nuôi cả ba con, anh đề nghị được nuôi một cháu. Về tài sản chung, vay nợ chung: tự thoả thuận, không yêu cầu Toà án giải quyết.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm phát biểu ý kiến: Việc thụ lý, giải quyết vụ án của Thẩm phán, HĐXX tại phiên tòa sơ thẩm cũng như việc chấp hành pháp luật của các đương sự đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Về nội dung: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị T đối với anh V. Về con chung: Giao cho Đ và cháu T1 cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng. Giao cháu N cho anh V trực tiếp nuôi dưỡng. Về tài sản chung, vay nợ chung: tự thoả thuận, không yêu cầu Toà án giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1 ] Về thủ tục tố tụng: Đơn yêu cầu và các tài liệu chứng cứ kèm theo của chị Nguyễn Thị Minh T đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Chị T yêu cầu xin ly hôn với anh Vũ Quốc V có địa chỉ: Tổ dân phố số D P, phường M, quận N, thành phố Hà Nội là đúng thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Nam Từ Liêm theo quy định tại điểm b, khoản 2 Điều 35, điểm a, khoản 1, Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Xét yêu cầu “Xin ly hôn” của chị T đối với anh V, Hội đồng xét xử thấy:

Về tình cảm: Chị T và anh V kết hôn với nhau năm 2007 trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, có đăng ký tại UBND xã N, huyện K, thành phố Hải Phòng. Hôn nhân của anh chị là hợp pháp.

Theo chị T trình bày: Quá trình chung sống, vợ chồng sống hạnh phúc một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm sống, cãi vã, xúc phạm nhau, anh V không tôn trọng chị và gia đình chị. Chị và anh V đã ly thân từ tháng 01/2024 đến nay, không còn quan tâm đến nhau. Nay chị xác định không còn tình cảm với anh V và vẫn giữ nguyên yêu cầu ly hôn.

Anh V trình bày: Quá trình chung sống, anh công nhận vợ chồng có xảy ra mâu thuẫn do rắc rối với kinh tế. Anh và chị T đã ly thân từ tháng 01/2024 đến nay. Nay chị T có đơn xin ly hôn, anh không đồng ý ly hôn với chị T vì anh cần phải trao đổi thêm với chị T về phần tài sản chung.

Theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình: “Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn và hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được”.

Xét mâu thuẫn giữa chị T và anh V, HĐXX nhận thấy: Cả chị T và anh V đều xác định vợ chồng anh chị có mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm, thường xuyên cãi nhau, cuộc sống hôn nhân không hòa hợp. Anh chị đều khẳng định hiện đã ly thân và khẳng định không còn tình cảm với nhau. Anh V không đồng ý ly hôn chỉ với lý do: vì anh cần phải trao đổi thêm với chị T về phần tài sản chung, chứ không phải vì anh còn tình cảm với chị T. Như vậy có đủ căn cứ để xác định mâu thuẫn vợ chồng giữa anh chị đã đến mức độ trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Việc chị T đề nghị được ly hôn với anh V là có căn cứ, cần được chấp nhận.

Về con chung: Anh chị có 03 con chung là: cháu Vũ Quốc Hải Đ, sinh ngày 30/4/2009, cháu Vũ Quốc Hải T1, sinh ngày 30/7/2010 và cháu Vũ Thị Kim N, sinh ngày 19/7/2019. Hiện nay, cháu Đ và cháu T1 đang ở với chị T, còn cháu N đang ở với anh V. Ly hôn chị T và anh V đều có nguyện vọng xin được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cả ba cháu. Chị T hiện làm ở Tập đoàn F. Thu nhập hàng tháng của chị khoảng 50.000.000 đồng và chị cung cấp được sao kê tài khoản và Hợp đồng thuê nhà. Anh V đang làm ở Tập đoàn F. Thu nhập hàng tháng của anh khoảng 50.000.000 đồng, tuy nhiên anh không cung cấp được chứng cứ chứng minh.

Xét thấy: Cháu N còn nhỏ (5 tuổi), là con gái nên cần thiết giao cháu N cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp, đảm bảo tâm lý bé gái và đồng cảm hơn so với cha. Cháu T1 hiện đang ở với mẹ và có nguyện vọng xin được ở với mẹ nên cần thiết giao cháu T1 cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng. Đối với cháu Đ tuy có nguyện vọng được ở cùng mẹ nhưng xét thấy nếu giao cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng cả ba con chung sẽ không đảm bảo được cuộc sống cho các cháu. Vì vậy giao cháu Đ cho anh V trực tiếp nuôi dưỡng.

Về cấp dưỡng: Do anh V và chị T đều không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho anh V và chị T cho đến khi các bên có yêu cầu.

Về tài sản chung, vay nợ chung: Anh chị tự thoả thuận, không yêu cầu Toà án giải quyết.

[3] Về án phí: Chị T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng:

  • - Điều 56, 58, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân gia đình;
  • - Điểm b, khoản 2 Điều 35; điểm a, khoản 1, Điều 39; Khoản 4, Điều 147; khoản 3, Điều 228 và các Điều 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
  • - Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về việc quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu “Xin ly hôn” của chị Nguyễn Thị Minh T đối với anh Vũ Quốc V. Cho chị T ly hôn với anh V.
  2. Về con chung: Anh chị có 03 con chung là: cháu Vũ Quốc Hải Đ, sinh ngày 30/4/2009, cháu Vũ Quốc Hải T1, sinh ngày 30/7/2010 và cháu Vũ Thị Kim N, sinh ngày 19/7/2019. Giao cháu Đ cho anh V trực tiếp nuôi dưỡng. Giao cháu T1 và cháu N cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cho chị T và anh V cho đến khi có đơn yêu cầu hoặc có sự thay đổi, thoả thuận khác.

    Anh V, chị T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được ngăn cản.

  3. Tài sản chung, vay nợ chung: Anh chị tự thoả thuận, không yêu cầu Toà án giải quyết.
  4. Về án phí: Chị T phải chịu 300.000đ án phí ly hôn sơ thẩm. Được trừ vào số tiền 300.000.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0009558 ngày 11/4/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Nam Từ Liêm. Chị T đã nộp đủ án phí.

Chị T, anh V có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

Đỗ Thúy A.

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 230/2024/HNGĐ-ST ngày 20/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NAM TỪ LIÊM THÀNH PHỐ HÀ NỘI về hôn nhân gia đình (xin ly hôn)

  • Số bản án: 230/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hôn nhân gia đình (Xin ly hôn)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NAM TỪ LIÊM THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu "xin ly hôn" của Nguyễn Thị Minh T đối với Vũ Quốc V
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger