|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 5 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 5 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Trần Thục Oanh
Các Hội thẩm nhân dân:
- 1- Ông Đoàn Hồng Hải
- 2- Bà Huỳnh Thị Thanh Mỹ Xuyên
Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Phương – Thư ký Toà án nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 5 tham gia phiên tòa : Bà Trần Thị Hồng Phương.
Ngày 30 tháng 8 năm 2024, Tòa án nhân dân Quận 5 tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số 74/2024/DDTS ngày 07 tháng 3 năm 2024 về việc “Tranh chấp Hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 176/2024/QĐXXST-DS ngày 10 tháng 7 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 150/2024/QĐST-DS ngày 05 tháng 8 năm 2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại cổ phần S.
Địa chỉ trụ sở: Số B đường N, Phường H (nay là Phường V), Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo pháp luật của nguyên đơn: Bà Nguyễn Đức Thạch D, sinh năm 1973; chức danh: Tổng giám đốc.
Địa chỉ thường trú: Số G N, Phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn:
- Ông Lê Ngọc T, sinh năm 1977, chức vụ: Tổng giám đốc Công ty TNHH MTV Q nợ và khai thác tài sản Ngân hàng S – gọi tắt: Công ty S1 (Giấy ủy quyền số 2535A/2022/GUO-PL ngày 12/10/2022).
- Ông Nguyễn Vũ Khánh C, sinh năm 1983, chức vụ: Phó Tổng giám đốc Công ty S1 (Giấy ủy quyền số 775/2023/GUQ-TGĐ ngày 13/09/2023).
- Ông Phạm Trường T1, sinh năm 1994; chức vụ: Nhân Viên (Giấy ủy quyền số 3621/2023/UQ-TGĐ ngày 19/10/2023).
- Ông Nguyễn Thành N, sinh năm 1993, chức vụ: Nhân viên (Giấy ủy quyền số 5170/2024/UQ TGĐ năm 2024 ngày 03/5/2024).
- Ông Nguyễn Huy H, sinh năm 1996, chức vụ: Nhân viên (Giấy ủy quyền số 5170/2024/UQ TGĐ năm 2024 ngày 03/5/2024).
Cùng địa chỉ: B N, phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh
(Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn – ông Nguyễn Huy H vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
Bị đơn: Ông Trương Bình A, sinh năm 1996
Địa chỉ: Số C T, Phường G, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh.
(Ông Trương Bình A vắng mặt không có lý do).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại Đơn khởi kiện ngày 21 tháng 02 năm 2024 và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần S (sau đây gọi tắt là Ngân hàng S2) trình bày:
Ngày 31/07/2019, ông Trương Bình A (gọi tắt là ông A) có ký với Ngân hàng Thương mại cổ phần S (gọi tắt là Ngân hàng) Hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng - các tài liệu này được gọi chung là Hợp đồng), hạn mức tín dụng là 30.000.000 đồng với mục đích tiêu dùng cá nhân, lãi suất là 2.4% / tháng (lãi suất trong hạn). Sau khi được cấp Thẻ tín dụng, ông A đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 30.000.000 đồng.
Trong quá trình sử dụng thẻ, từ ngày kích hoạt thẻ đến nay ông A đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền 850.000 đồng (chi tiết các lần thanh toán trong bảng sao kê tóm tắt đính kèm). Tổng số tiền trên được thanh toán áp dụng theo Điều 20 của bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng.
Qua nhiều lần làm việc, nhắc nhở nhưng ông A vẫn không có thiện chí trả nợ. Do ông A vi phạm nghĩa vụ thanh toán (Điều 2 của Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng), ngày 06/01/2020 Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ ông Trương Bình A còn thiếu tại thời điểm này là 36.030.110 đồng sang nợ quá hạn (Điều 23 của Bản Điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng) và áp dụng lãi suất là 2.4% tháng trên số tiền nợ quá hạn này nhân 150%.
Do ông Trương Bình A vi phạm Hợp đồng đã ký. Trong quá trình thu hồi nợ. ông Trương Bình A không có thiện chí thanh toán nợ vay quá hạn nên Ngân hàng Thương mại cổ phần S đã khởi kiện tại Tòa án nhân dân Quận 5 để cùng nhau hợp tác và giải quyết theo đúng pháp luật hiện hành. Tạm tính đến ngày 30/8/2024, ông A còn nợ các khoản sau (chi tiết lãi quá hạn, dư nợ trong sao kê tóm tắt đính kèm):
Nợ gốc : 36.030.110 đồng
Lãi quá hạn : 73.457.964 đồng
Tổng cộng : 109.488.074 đồng
(Bằng chữ: Một trăm lẻ chín triệu, bốn trăm tám mươi tám nghìn, không trăm bảy mươi bốn đồng).
Số tiền lãi quá hạn được tính trên số tiền nợ gốc 36.030.110 đồng với lãi suất quá hạn là 3,6% /tháng (2.4% * 150%) từ ngày ngân hàng chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn cho đến hiện tại.
Mặc dù Ngân hàng đã thường xuyên đôn đốc, nhiều lần làm việc trực tiếp với ông A, yêu cầu có trách nhiệm thanh toán ngay khoản nợ quá hạn, đồng thời Ngân hàng cũng tạo điều kiện về mặt thời gian để trả nợ, tuy nhiên ông A vẫn chưa thanh toán khoản nợ vay quá hạn cho Ngân hàng, vi phạm các điều khoản đã quy định tại Hợp đồng đã ký.
Yêu cầu của nguyên đơn:
Buộc ông Trương Bình A phải trả ngay một lần cho Ngân hàng tổng số tiền tạm tính đến ngày 30/08/2024 là 109.488.074 đồng (bằng chữ: Một trăm lẻ chín triệu bốn trăm tám mươi tám nghìn không trăm bảy mươi bốn đồng) trong đó:
Nợ gốc : 36.030.110 đồng
Lãi quá hạn : 73. 457.964 đồng
Và có trách nhiệm thanh toán khoản lãi phát sinh từ ngày 31/08/2024 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại Hợp đồng.
Bị đơn ông Trương Bình A trong suốt quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân Quận 5 đã nhiều lần triệu tập đến trụ sở Tòa án để giải quyết vụ kiện theo đúng quy định pháp luật nhưng bị đơn không cung cấp tài liệu, chứng cứ gì, vắng mặt không có lý do, không có văn bản, không có ý kiến phản hồi mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng để tham gia giải quyết vụ án, tham gia phiên tòa.
Tại phiên toà sơ thẩm,
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Đại diện ủy quyền của nguyên đơn có bản tự khai và Tóm tắt sao kê đề ngày 30/08/2024 xác định số nợ hiện nay ông A phải có trách nhiệm thanh toán cho Ngân hàng S2 tính đến ngày 30/08/2024 là 109.488.074 đồng (bằng chữ: Một trăm lẻ chín triệu bốn trăm tám mươi tám nghìn không trăm bảy mươi bốn đồng) trong đó nợ gốc là 36.030.110 đồng, lãi quá hạn là 73.457.964 đồng (tiền lãi quá hạn được tính trên số tiền nợ gốc với lãi suất quá hạn là 3.6%/tháng). Ngoài ra, ông Trương Bình A còn phải chịu tiền lãi phát sinh từ ngày 31/08/2024 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại Hợp đồng.
Bị đơn vắng mặt nên không có ý kiến trình bày.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Quận 5 phát biểu quan điểm:
- - Về việc chấp hành pháp luật tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án và tại phiên tòa hôm nay, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký đã tuân thủ đúng quy trình tố tụng giải quyết vụ án.
- - Về nội dung vụ án: Đề nghị Toà án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc ông Trương Bình A thanh toán làm một lần cho nguyên đơn ngay khi án có hiệu lực pháp luật tổng số tiền tạm tính đến ngày 30/08/2024 số tiền là 109.488.074 đồng (bằng chữ: Một trăm lẻ chín triệu bốn trăm tám mươi tám nghìn không trăm bảy mươi bốn đồng). Trong đó nợ gốc là 36.030.110 đồng và lãi quá hạn là 73.457.964 đồng. Ngoài ra, ông A còn phải chịu tiền lãi phát sinh từ ngày 31/08/2024 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại Hợp đồng. Án phí ông A chịu theo quy định pháp luật. Nguyên đơn được hoàn lại tiền tạm ứng án phí đã nộp.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Về xác định quan hệ tranh chấp:
Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn trả lại số tiền đã vay theo Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều kiện và điều khoản phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng S2 (các tài liệu này được gọi chung là Hợp đồng) ngày 31/07/2019, phê duyệt ngày 31/07/2019 đây là “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại khoản 3, Điều 26; khoản 1 Điều 35; điểm a, khoản 1, Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[1.2] Về thẩm quyền giải quyết vụ án:
Tại đơn khởi kiện nguyên đơn cung cấp địa chỉ cư trú hiện tại của bị đơn ông Trương Bình A là số C T, Phường G, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh. Theo địa chỉ được bị đơn ghi trong Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 31/07/2019 phê duyệt ngày 31/07/2019 thể hiện bị đơn cư trú hiện tại tại địa chỉ số C T, Phường G, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh.
Theo xác minh của Công an P, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh thể hiện tại địa chỉ C T, Phường G, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh không có đương sự Trương Bình A đăng ký thường trú, tạm trú hoặc thực tế cư trú tại địa phương. Tại đơn trình bày của đại diện Ngân hàng ngày 07 tháng 03 năm 2024 nguyên đơn không biết địa chỉ nào khác của bị đơn ngoài địa chỉ ông A ghi trong hợp đồng tín dụng. Tuy nhiên trong phần thông tin cá nhân do chính ông A viết và ký tên mục: Địa chỉ nơi ở hiện tại: Ông A có ghi: C T, Phường G, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh.
Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm e khoản 1 Điều 192 Bộ luật tố tụng dân sự và khoản 2 Điều 6 Nghị quyết 04/2017 ngày 05/5/2017 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn: Đối với các trường hợp này là bị đơn cố tình giấu địa chỉ và Toà án phải thụ lý giải quyết không được yêu cầu nguyên đơn bổ sung văn bản xác minh nơi cư trú của bị đơn………” vì vậy vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 5, theo quy định pháp luật.
Toà án nhân dân Quận 5 đã tiến hành tống đạt, niêm yết thông báo thụ lý vụ án, thông báo phiên họp kiểm tra giao nộp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải cũng như quyết định xét xử, quyết định hoãn phiên tòa cho bị đơn nhằm bảo vệ quyền lợi của mình đối với yêu cầu của nguyên đơn, nhưng ông Trương Bình A vắng mặt không rõ lý do nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt bị đơn theo các Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị quyết số 05/2012 /NQ-HĐTP ngày 03 tháng 12 năm 2012.
[1.3] Nguyên đơn có Đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt, bị đơn ông Trương Bình A là trường hợp được coi là cố tình giấu địa chỉ, đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến phiên tòa lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt. Căn cứ vào Điều 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.
[2] Về yêu cầu khởi kiện của đương sự:
Xét việc Ngân hàng Thương mại cổ phần S yêu cầu buộc ông Trương Bình A thanh toán một lần cho nguyên đơn ngay khi án có hiệu lực pháp luật tổng số tiền tạm tính đến ngày 30/08/2024 số tiền là 109.488.074 đồng (bằng chữ: Một trăm lẻ chín triệu bốn trăm tám mươi tám nghìn không trăm bảy mươi bốn đồng). Trong đó nợ gốc là 36.030.110 đồng và lãi quá hạn là 73.457.964 đồng. Ngoài ra, ông A còn phải chịu tiền lãi phát sinh từ ngày 31/08/2024 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại Hợp đồng được thể hiện ở các tài liệu trong quá trình thực hiện hợp đồng tín dụng trên, ông A đã vi phạm các thỏa thuận đã ký kết với Ngân hàng, như vậy ông A là bên vi phạm không trả lãi và nợ gốc đúng hạn quy định trong hợp đồng nên việc S2 yêu cầu ông A thanh toán số nợ gốc và lãi còn thiếu là phù hợp với Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2011 là có căn cứ chấp nhận.
[3] Về trả lãi và thời hạn thanh toán:
Tại khoản 27 Điều 1 của Bản điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tính dụng của nguyên đơn quy định: “Lãi suất: lãi là lãi suất cho vay mà S2 áp dụng đối với các khoản vay thông qua phát hành thẻ, bao gồm lãi suất trong hạn, và lãi suất quá hạn. Lãi suất trong hạn là lãi suất được tính theo biểu phí lãi suất được tính theo biểu phí lãi suất do S2 công bố theo từng thời kỳ. Lãi suất quá hạn là mức lãi suất tối đa bằng 150% lãi suất trong hạn”.
Nguyên đơn đã áp dụng lãi suất là 2.4% /tháng, lãi suất nợ quá hạn đối với phần nợ gốc quá hạn mà bên vay không trả đúng bằng 150% và S2 đã chuyển toàn bộ dư nợ của ông A còn thiếu là: 36.030.110 đồng sang nợ quá hạn và áp dụng lãi suất là 2.4%/tháng trên số tiền nợ quá hạn này nhân 150% là phù hợp với khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tính dụng (do các bên thỏa thuận theo hợp đồng).
Căn cứ các tài liệu chứng cứ trong hồ sơ và các thông báo về việc thay đổi lãi suất và phí của S2 tại các thời kỳ xác định bị đơn trong quá sử dụng thẻ đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán đối với nguyên đơn. Vì vậy việc S2 yêu cầu ông A phải trả tiền nợ và lãi của thẻ tín dụng ngày 31/7/2019 có dư Nợ gốc: 36.030.110 đồng và nợ lãi quá hạn: 73.457.964 đồng. Tổng cộng: 109.488.074 đồng (bằng chữ: Một trăm lẻ chín triệu bốn trăm tám mươi tám nghìn không trăm bảy mươi bốn đồng) tạm tính đến ngày 30/8/2024 là có cơ sở.
Do ông A đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán do vậy Ngân hàng yêu cầu ông A thanh toán số tiền nợ còn thiếu và tiếp tục trả lãi phát sinh theo mức lãi suất chậm thanh toán ngay khi bản án, quyết định có hiệu lực là phù hợp theo quy định của pháp luật dân sự nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Xét đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 5 đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn là phù hợp với nhận định nêu trên nên chấp nhận.
[4] Về án phí: Do yêu cầu của nguyên được chấp nhận nên phía bị đơn phải chịu tiền án phí theo quy định tại Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 là 5.474.404 đồng. Nguyên đơn không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, hoàn trả lại nguyên đơn số tiền tạm ứng án phí đã đóng theo quy định của pháp luật.
[5] Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- - Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 91; Điều 92; khoản 1 Điều 147; Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 266 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- - Căn cứ các Điều 463; 466; 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015;
- - Căn cứ Điều 91 của Luật các Tổ chức tín dụng;
- - Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội;
- - Căn cứ Nghị quyết số 01/2019/ NQ-HĐTP ngày 11/11/2019 của Hội đồng Thẩm Phán.
- - Căn cứ Pháp lệnh số 10/2009/UBTVQH12 ngày 27/02/2009 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về Án phí, lệ phí Tòa án;
- - Căn cứ vào Điều 26 Luật Thi hành án dân sự;
Xử:
- Về hình thức: Xử vắng mặt nguyên đơn là Ngân hàng Thương mại cổ phần S do ông Nguyễn Thành N và ông Nguyễn Huy H là người đại diện theo ủy quyền và vắng mặt bị đơn là ông Trương Bình A.
- Về nội dung: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại cổ phần S.
- Buộc ông Trương Bình A phải thanh toán cho Ngân hàng Thương mại cổ phần S tổng số tiền nợ tính đến ngày 30 tháng 8 năm 2024 là 109.488.074 đồng (bằng chữ: Một trăm lẻ chín triệu bốn trăm tám mươi tám nghìn không trăm bảy mươi bốn đồng) trong đó nợ gốc là 36.030.110 đồng (bằng chữ: Ba mươi sáu triệu không tăm ba mươi nghìn một trăm mười đồng), tổng nợ lãi quá hạn là 73.457.964 đồng (bằng chữ: Bảy mươi ba triệu bốn trăm năm mươi bảy nghìn chính trăm sáu mươi bốn đồng), trả một lần ngay sau khi Bản án có hiệu lực pháp luật.
- Việc giao nhận tiền do hai bên tự thực hiện hoặc tại Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền.
- Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm, khách hàng vay còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thoả thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.
- Về án phí dân sự sơ thẩm:
- Ông Trương Bình A phải chịu 5.474.404 đồng (bằng chữ: Năm triệu bốn trăm bảy mươi bốn nghìn bốn trăm lẻ bốn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, nộp tại Chi cục thi hành án dân sự có thẩm quyền.
- Ngân hàng Thương mại cổ phần S không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm và được hoàn trả số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 2.392.395 đồng (bằng chữ: Hai triệu ba trăm chín mươi hai nghìn ba trăm chín mươi lăm đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số BLTU/23P/0036024 ngày 04 tháng 3 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ.
- Quyền yêu cầu thi hành án, thời hiệu thi hành án, nghĩa vụ thi hành án: Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 1, Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a và Điều 9 Luật Thi hành án Dân sự đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Huỳnh Trần Thục Oanh |
Bản án số 74/2024/DDTS ngày 30/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 5 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 74/2024/DDTS
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/08/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 5 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ngân hàng Thương mại cổ phần S yêu cầu buộc ông Trương Bình A thanh toán một lần cho nguyên đơn ngay khi án có hiệu lực pháp luật tổng số tiền tạm tính đến ngày 30/08/2024 số tiền là 109.488.074 đồng (bằng chữ: Một trăm lẻ chín triệu bốn trăm tám mươi tám nghìn không trăm bảy mươi bốn đồng). Trong đó nợ gốc là 36.030.110 đồng và lãi quá hạn là 73.457.964 đồng.
