|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA TỈNH LONG AN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 230/2024/DS-ST
Ngày: 02-8-2024
V/v tranh chấp hợp đồng góp hụi.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Kim Quyên.
Các Hội thẩm nhân dân.
- Ông Nguyễn Chí Lin – Cán bộ Hưu trí
- Bà Trần Thị Đổi – Cán bộ Hưu trí.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Thoa – Thư ký, Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An.
Ngày 02 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 489/2024/TLST-DS ngày 22 tháng 5 năm 2024 về “Tranh chấp hợp đồng góp hụi” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 325/2024/QĐXXST-DS ngày 06 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Thu T, sinh năm 1991
Địa chỉ: Ấp B, xã T, huyện G, tỉnh Tiền Giang (vắng mặt).
Bị đơn:
- Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1988 (vắng mặt).
- Ông Nguyễn Minh C, sinh năm 1982 (vắng mặt).
Cùng địa chỉ: Ấp B, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 16/5/2024 và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thu T trình bày như sau: Bà Nguyễn Thị H làm thảo hụi, từ năm 2022, bà có tham gia góp 07 dây hụi 2.000.000 đồng và 06 dây hụi 3.000.000 đồng. Đến khi bà mãn hụi, bà yêu cầu được hốt hụi thì bà H không có tiền giao cho bà, bà H hẹn hết lần này đến lần khác. Sau đó bà với bà H chốt lại số tiền hụi bà H nợ bà là 284.000.000 đồng, bà yêu cầu bà H trả tiền nợ hụi cho bà nhưng bà H vẫn không trả. Nay bà khởi kiện yêu cầu bà Nguyễn Thị H và ông Nguyễn Minh C là chồng của bà H có trách nhiệm liên đới trả cho bà số tiền 284.000.000 đồng. Yêu cầu bà H và ông C trả tiền ngay cho bà, không đồng ý thời gian trả vào tháng 12 năm 2024.
Bị đơn bà Nguyễn Thị H trình bày tại bản tự khai ngày 29/6/2024 như sau: Bà thừa nhận còn nợ bà T số tiền hụi 284.000.000 đồng, trong thời gian này bà đang kêu bán nhà để giải quyết nợ nên bà hẹn đến cuối tháng 12 năm 2024 bà sẽ trả đủ một lần số tiền 284.000.000 đồng cho bà T. Trong trường hợp bà bán được nhà sớm hơn thì bà sẽ trả sớm.
Bị đơn ông Nguyễn Minh C đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng không có ý kiến trình bày đối với yêu cầu khởi kiện của Nguyễn Thị Thu T cũng như không tham gia phiên tòa.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng: Bà Nguyễn Thị Thu T khởi kiện tranh chấp hợp đồng góp hụi với bà Nguyễn Thị H, ông Nguyễn Minh C, bà H và ông C hiện có hộ khẩu thường trú tại ấp B, xã Đ, huyện Đ nên Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa thụ lý là thuộc thẩm quyền theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Bà T có đơn xin xét xử vắng mặt, bà H và ông C đã được tống đạt các thủ tục theo quy định của pháp luật nhưng bà H và ông C vẫn vắng mặt phiên tòa lần 2 nên căn cứ khoản 1 và điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.
[2] Về nội dung vụ án: Bà T khởi kiện yêu cầu bà H và ông C có trách nhiệm liên đới trả cho bà T số tiền hụi 284.000.000 đồng. Bà H thừa nhận còn nợ bà T số tiền hụi 284.000.000 đồng và hẹn đến cuối tháng 12 năm 2024 bà H sẽ trả cho bà T nhưng bà T không đồng ý.
[3] Căn cứ lời trình bày của bà T và bà H thống nhất bà H nợ bà T số tiền hụi 284.000.000 đồng nên đây được xem là tình tiết sự thật không cần phải chứng minh theo quy định tại khoản 2 Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Căn cứ khoản 1, Điều 24 Nghị định số 19/2019/NĐ-CP ngày 19/02/2019 của Chính Phủ quy định về họ, hụi, biêu, phường thì bà H phải có trách nhiệm thanh toán số tiền còn nợ 284.000.000 đồng cho bà T bà H hẹn đến đến cuối tháng 12 năm 2024 bà H sẽ trả đủ một lần số tiền 284.000.000 đồng cho bà T nhưng không được bà T đồng ý nên Hội đồng xét xử không có cơ sở xem xét.
[4] Bà H làm thảo hụi công khai từ rất lâu và người tham gia chơi hụi với bà H rất nhiều, ông C là chồng và sống chung nhà với bà H biết bà H làm thảo hụi nhưng không có ý kiến phản đối. Việc bà H tổ chức chơi hụi phát sinh lợi nhuận cũng nhầm mục đích phục vụ cho kinh tế gia đình. Ngoài ra, ông C được tống đạt hợp lệ văn bản tố tụng, biết được yêu cầu khởi kiện của bà T nhưng không có ý kiến phản đối. Do đó, căn cứ quy định tại Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự, các Điều 288, 471 Bộ luật dân sự, Điều 27 Luật Hôn nhân và gia đình, ông C phải có trách nhiệm liên đới với bà H để trả khoản tiền hụi 284.000.000 đồng cho bà T là phù hợp.
[5] Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị H và ông Nguyễn Minh C phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch đối với số tiền 284.000.000 đồng trả cho bà Nguyễn Thị Thu T là 14.200.000 đồng theo khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự số 92/2015/QH13;
Căn cứ Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 288, 472 Bộ luật dân sự;
Căn cứ Điều 27 Luật hôn nhân và gia đình;
Căn cứ Điều 17, Điều 24 Nghị định số 19/2019/NĐ-CP ngày 19/02/2019 của Chính Phủ;
Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thu T về việc “Tranh chấp hợp đồng góp hụi” đối với bị đơn bà Nguyễn Thị H và ông Nguyễn Minh C.
Buộc bà Nguyễn Thị H và ông Nguyễn Minh C có trách nhiệm liên đới trả cho bà Nguyễn Thị Thu T số tiền 284.000.000 đồng (Hai trăm tám mươi bốn triệu đồng).
Khi án có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, bên có nghĩa vụ chậm thi hành sẽ phải chịu thêm khoản tiền lãi tính trên số tiền chậm trả theo quy định tại Điều 357, khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự số 91/2015/QH13 tương ứng với thời gian chưa thi hành án, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị H và ông Nguyễn Minh C chịu 14.200.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm sung công quỹ nhà nước.
Hoàn lại cho bà Nguyễn Thị Thu T số tiền tạm ứng án phí 7.100.000 đồng theo biên lai thu số 0004571 ngày 17/5/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đức Hòa.
- Về kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Long An xét xử phúc thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Kim Quyên |
Bản án số 230/2024/DS-ST ngày 02/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN về tranh chấp hợp đồng góp hụi
- Số bản án: 230/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng góp hụi
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 02/08/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Hợp đồng góp hụi
