Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN AN BIÊN

TỈNH KIÊN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 23/2024/HS-ST

Ngày 31-7-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN BIÊN, TỈNH KIÊN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đinh Trần Mộng Thúy.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trần Thu Trang

Ông Phạm Đức Hoài

- Thư ký phiên tòa: Ông Đoàn Minh Dương - Thư ký Tòa án nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Kiều - Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 27/2024/TLST-HS ngày 27 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 26/2024/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo:

Nguyễn Văn Đ, sinh ngày 01/01/1991; Tại huyện A, tỉnh Kiên Giang;

Nơi cư trú: Ấp H, xã N, huyện A, tỉnh Kiên Giang;

Nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam;

Tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam;

Con ông Nguyễn Văn S, sinh năm 1966 và bà Trần Thị U, sinh năm 1957 (đã chết);

Tiền sự, tiền án: Không;

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam tại nhà Tạm giữ - Công an huyện A, tỉnh Kiên Giang từ ngày 18/01/2024 cho đến nay.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Ông Nguyễn Văn S, sinh năm 1966 (có mặt).

Trú tại: Ấp H, xã N, huyện A, tỉnh Kiên Giang

* Người làm chứng: Anh Lê Văn L, sinh năm 1996 (vắng mặt).

Trú tại: Ấp H, xã N, huyện A, tỉnh Kiên Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào ngày 17/01/2024, bị cáo Nguyễn Văn Đ lên mạng xã hội Facebook liên hệ với một tài khoản Facebook (không nhớ tên) để mua ma túy. Chủ tài khoản Facebook này đồng ý bán ma túy cho Đ với số tiền 2.000.000 đồng và hẹn gặp nhau tại cầu K thuộc ấp Y, xã N, huyện A, tỉnh Kiên Giang để giao ma túy. Đến khoảng 20 giờ ngày 17/01/2024, Đ đi bộ từ nhà ra đến cầu T, trên trục đường I, Đ nhìn thấy một nỏ thủy tinh để sử dụng ma túy còn mới ở dưới chân cầu không rõ của ai nên nhặt lấy bỏ vào người. Đ đi nhờ xe của một người đi đường đến điểm hẹn để mua ma túy. Khi đến cầu K, Đ gặp một người đàn ông (không rõ nhân thân lai lịch), sau khi trao đổi với người đàn ông thì Đ đưa cho người này 2.000.000 đồng và được người này kêu xuống chân cầu K để lấy ma túy. Đ đi bộ xuống cầu chân cầu K thì thấy một túi vải bên trong chứa ma túy giấu trong bụi cỏ, Đ lấy túi vải bỏ vào người rồi tiếp tục đi nhờ xe của một người lạ mặt về nhà thuộc ấp H, xã N, huyện A, tỉnh Kiên Giang. Trên đường đi về, Đ đánh rơi mất điện thoại di động ở khu vực nào không nhớ rõ. Khi về đến nhà, Đ chia ma túy vừa mua được thành 13 (Mười ba) bịch nhỏ và 01 (Một) đoạn ống hút nhựa, sau đó Đ bỏ vào túi vải cất giấu. Đ lấy ống thủy tinh nhặt được và dùng một chai nhựa để chế ra bộ dụng cụ sử dụng ma túy. Khoảng 13 giờ ngày 18/01/2024, khi Đ đang ở nhà thì Lê Văn L đến chơi, Đ rủ L sử dụng ma túy thì L đồng ý. Nguyễn Văn Đ lấy ma túy đổ vào bộ D sử dụng rồi cùng với Lê Văn L sử dụng ma túy. Đến 13 giờ 30 phút cùng ngày, lực lượng Công an bắt quả tang, thu giữ 01 (Một) nỏ thủy tinh bên trong chứa chất bám dính; kiểm tra trên người của Nguyễn Văn Đ thu được một túi vải màu đen bên trong chứa 13 (Mười ba) bịch nylon và một đoạn ống hút nhựa chứa các hạt tinh thể trong suốt không đồng nhất nghi là ma túy nên tiến hành lập biên bản, thu giữ, niêm phong theo quy định.

* Vật chứng vụ án gồm:

  • - 01 (Một) nỏ thủy tinh dài 11,5 cm bên trong nó có chứa chất bám dính.
  • - 13 (Mười ba) bịch nylon có kích thước lần lượt là 4,5 cm x 3,5 cm; 4,5 cm x 4 cm; 3,3 cm x 01 cm; 2,7 cm x 1,6 cm; 4,5 cm x 1,4 cm; 04 cm x 1,5 cm; 04 cm x 1,3 cm; 4,5 cm x 1,5 cm; 04 cm x 1,5 cm; 4,1 cm x 1,2 cm; 4,6 cm x 1,3 cm; 04 cm x 1,4 cm; 3,5 cm x 1,5 cm; 01 (Một) ống hút bằng nhựa màu tím sọc trắng cắt nhọn một đầu được hàn kín, có kích thước khoảng 04 cm x 01 cm. Bên trong 13 (Mười ba) bịch nylon và đoạn ống hút nhựa trên đều chứa các hạt tinh thể trong suốt không đồng nhất.
  • - 01 (Một) bình thủy tinh tròn trong suốt có chiều cao 07 cm, đường kính đáy bình 05 cm, đường kính miệng bình 4,5 cm, bên trong bình có các hạt nhựa nhiều màu hình hộp vuông cạnh 0,5 cm (dạng xí ngầu) và một đoạn ống hút nhựa tròn màu tím sọc trắng dài 4,5 cm. Trên miệng bình có gắn một cổ chai nhựa tròn trong suốt cao 3 cm, miệng chai có gắn nắp đậy bằng nhựa màu đen đường kính 3 cm, cao 1,2 cm, có đục hai lỗ tròn có cùng đường kính 0,7 cm, một lỗ có gắn ống hút nhựa xanh dài 19 cm.
  • - 01 (Một) túi vải màu đen (loại túi đựng điện thoại di động) có kích thước khoảng 15 cm x 05 cm.

* Tại Kết luận giám định số 67/KL-KTHS ngày 24/01/2024 của Phòng K Công an tỉnh K kết luận:

  • - Mẫu 01: Chất bám dính trong 01 (Một) bộ nỏ thủy tinh được niêm phong gửi giám định là ma túy, loại Methanphetamine. Khối lượng mẫu gửi giám định là 0,2345 gam.
  • - Mẫu 02: + Các hạt tinh thể trong suốt, không đồng nhất bên trong 13 (Mười ba) bịch nylon được niêm phong gửi giám định là chất ma túy, loại Methamphetamine. Khối lượng là 4,8425 gam.
  • + Các hạt tinh thể trong suốt, không đồng nhất bên trong 01 (Một) một đoạn ống nhựa được niêm phong gửi giám định là chất ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng là 0,2754 gam.

Methamphetamine là chất ma túy nằm trong danh mục IIC, STT 247, Nghị định 57/2022/NĐ-CP, ngày 25/8/2022 của Chính phủ.

* Tại bản Cáo trạng số 27/CT-VKSHAB ngày 21/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn Đ về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 và khoản 1 Điều 255 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị Nguyễn Văn Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

Đề nghị áp dụng điểm g khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự tuyên xử bị cáo Nguyễn Văn Đ từ 05 (Năm) năm đến 06 (S1) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự tuyên xử bị cáo Nguyễn Văn Đ từ 02 (Hai) năm đến 03 (Ba) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”.

Áp dụng Điều 55 Bộ luật Hình sự để tổng hợp hình phạt hai tội đối với bị cáo.

Về biện pháp tư pháp: Đề nghị áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự. Tịch thu tiêu hủy:

  • - Chất bám dính còn lại sau giám định có khối lượng là 0,1093 gam được đựng trong một bịch nylon và một nỏ thủy tinh được niêm phong trong 01 (Một) phong bì có ký hiệu vụ số 53/2024/Mẫu 01.
  • - Các hạt tinh thể trong suốt của 13 (Mười ba) bịch nylon còn lại sau giám định có khối lượng là 4,6308 gam đựng trong bốn bịch nylon; Các hạt tinh thể trong suốt của một đoạn ống hút nhựa còn lại sau giám định có khối lượng là 0,2458 gam đựng trong một bịch nylon và bao gói đựng mẫu được niêm phong tròn 01 (Một) phong bì có ký hiệu vụ số 53/2024/Mẫu 02.
  • - 01 (Một) bình thủy tinh tròn trong suốt có chiều cao 07 cm, đường kính đáy bình 05 cm, đường kính miệng bình 4,5 cm, bên trong bình có các hạt nhựa nhiều màu hình hộp vuông cạnh 0,5 cm (dạng xí ngầu) và một đoạn ống hút nhựa tròn màu tím sọc trắng dài 4,5 cm. Trên miệng bình có gắn một cổ chai nhựa tròn trong suốt cao 3 cm, miệng chai có gắn nắp đậy bằng nhựa màu đen đường kính 3 cm, cao 1,2 cm, có đục hai lỗ tròn có cùng đường kính 0,7 cm, một lỗ có gắn ống hút nhựa xanh dài 19 cm.
  • - 01 (Một) túi vải màu đen (loại túi đựng điện thoại di động) có kích thước khoảng 15 cm x 05 cm.

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện A, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện A, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo, người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi thực hiện tội phạm: Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản Cáo trạng đã nêu. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thể hiện: Do muốn có ma túy để sử dụng nên vào khoảng 20 giờ ngày 17/01/2024, Nguyễn Văn Đ gặp một người lạ mặt tại cầu K thuộc ấp Y, xã N, huyện A, tỉnh Kiên Giang mua 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng) ma túy về để sử dụng. Khi mang ma túy về đến nhà ngụ ấp H, xã N, huyện A, tỉnh Kiên Giang, Đ chiết ma túy vừa mua được ra thành 13 bịch nhỏ, 01 ống hút nhựa và Đ lấy nỏ thủy tinh nhặt được và chai nhựa chế thành bộ sử dụng ma túy. Khoảng 13 giờ ngày 18/01/2024, Lê Văn L đến nhà Đ chơi thì Đ rủ L sử dụng ma túy, L đồng ý. Đ lấy ma túy đổ vào bộ dụng cụ cùng với Lê Văn L sử dụng trái phép chất ma túy. Đến khoảng 13 giờ 30 phút cùng ngày thì bị lực lượng Công an bắt quả tang tiến hành lập biên bản, thu giữ, niêm phong các vật chứng theo quy định. Theo Kết luận giám định là chất ma túy loại Methamphetamine, có tổng khối lượng là 5,3524 gam. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân huyện An Biên truy tố bị cáo Nguyễn Văn Đ về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 và khoản 1 Điều 255 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội đúng pháp luật.

Hành vi của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, bị cáo là người có năng lực hành vi, ý thức được việc tàng trữ trái phép chất ma túy và tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, xâm phạm đến chính sách quản lý độc quyền của Nhà nước đối với các chất về ma túy. Nhưng vì muốn thỏa mãn cơn nghiện, bị cáo đã bất chấp pháp luật cố ý thực hiện tội phạm mà không suy nghĩ đến hậu quả, mua ma túy về tàng trữ để sử dụng và tổ chức sử dụng cùng với L. Bị cáo biết rõ tác hại của việc sử dụng trái phép sẽ gây ra nhiều hệ lụy cho xã hội, gây ảnh hưởng sức khỏe và còn là nguyên nhân phát sinh nhiều loại tội phạm và hành vi vi phạm pháp luật khác, làm mất an ninh trật tự xã hội, gây bất bình trong nhân dân. Do đó, cần xét xử bị cáo một mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội và cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định, để giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành người công dân tốt có ích cho xã hội. Đồng thời, qua xét xử nhằm tuyên truyền tác hại ma túy, ngăn ngừa chung loại tội phạm này. Tuy nhiên, Hội đồng xét xử cũng xem xét tính chất, hành vi phạm tội, tình tiết giảm nhẹ của bị cáo, xét xử bị cáo đầu mức hình phạt đề nghị của Viện kiểm sát cũng đủ nghiêm, thể hiện sự khoan hồng của pháp luật đối với bị cáo.

Đối với người bán ma túy cho bị cáo không rõ nhân thân, lai lịch, Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện A tiếp tục điều tra xác minh làm rõ, khi có đủ cơ sở sẽ tiến hành xử lý theo quy định.

[3] Xét về tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

  • - Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
  • - Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố cũng như tại tòa hôm nay, bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn khai báo, tỏ ra biết ăn năn hối cải. Do đó, cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự để xem xét khi quyết định hình phạt cho bị cáo.

[4] Về biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự. Tịch thu tiêu hủy: Chất bám dính còn lại sau giám định có khối lượng là 0,1093 gam được đựng trong một bịch nylon và một nỏ thủy tinh được niêm phong trong 01 (Một) phong bì có ký hiệu vụ số 53/2024/Mẫu 01.

  • - Các hạt tinh thể trong suốt của 13 (Mười ba) bịch nylon còn lại sau giám định có khối lượng là 4,6308 gam đựng trong bốn bịch nylon; Các hạt tinh thể trong suốt của một đoạn ống hút nhựa còn lại sau giám định có khối lượng là 0,2458 gam đựng trong một bịch nylon và bao gói đựng mẫu được niêm phong tròn 01 (Một) phong bì có ký hiệu vụ số 53/2024/Mẫu 02.
  • - 01 (Một) bình thủy tinh tròn trong suốt có chiều cao 07 cm, đường kính đáy bình 05 cm, đường kính miệng bình 4,5 cm, bên trong bình có các hạt nhựa nhiều màu hình hộp vuông cạnh 0,5 cm (dạng xí ngầu) và một đoạn ống hút nhựa tròn màu tím sọc trắng dài 4,5 cm. Trên miệng bình có gắn một cổ chai nhựa tròn trong suốt cao 3 cm, miệng chai có gắn nắp đậy bằng nhựa màu đen đường kính 3 cm, cao 1,2 cm, có đục hai lỗ tròn có cùng đường kính 0,7 cm, một lỗ có gắn ống hút nhựa xanh dài 19 cm.
  • - 01 (Một) túi vải màu đen (loại túi đựng điện thoại di động) có kích thước khoảng 15 cm x 05 cm.

[5] Hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập không ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 249 và khoản 5 Điều 255 Bộ luật hình sự.

[6] Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Nguyễn Văn Đ phải nộp theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

  • - Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
  • Xử phạt bị cáo 05 (Năm) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • - Căn cứ khoản 1 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
  • Xử phạt bị cáo 02 (Hai) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
  • - Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 55 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Tổng hợp hình phạt của 02 tội danh buộc bị cáo Nguyễn Văn Đ phải chấp hành là 07 (Bảy) năm tù, thời hạn tù được tính từ ngày 18/01/2024.

2. Về biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự. Tịch thu tiêu hủy: Chất bám dín còn lại sau giám định có khối lượng là 0,1093 gam được đựng trong một bịch nylon và một nỏ thủy tinh được niêm phong trong 01 (Một) phong bì có ký hiệu vụ số 53/2024/Mẫu 01.

  • - Các hạt tinh thể trong suốt của 13 (Mười ba) bịch nylon còn lại sau giám định có khối lượng là 4,6308 gam đựng trong bốn bịch nylon; Các hạt tinh thể trong suốt của một đoạn ống hút nhựa còn lại sau giám định có khối lượng là 0,2458 gam đựng trong một bịch nylon và bao gói đựng mẫu được niêm phong tròn 01 (Một) phong bì có ký hiệu vụ số 53/2024/Mẫu 02.
  • - 01 (Một) bình thủy tinh tròn trong suốt có chiều cao 07 cm, đường kính đáy bình 05 cm, đường kính miệng bình 4,5 cm, bên trong bình có các hạt nhựa nhiều màu hình hộp vuông cạnh 0,5 cm (dạng xí ngầu) và một đoạn ống hút nhựa tròn màu tím sọc trắng dài 4,5 cm. Trên miệng bình có gắn một cổ chai nhựa tròn trong suốt cao 3 cm, miệng chai có gắn nắp đậy bằng nhựa màu đen đường kính 3 cm, cao 1,2 cm, có đục hai lỗ tròn có cùng đường kính 0,7 cm, một lỗ có gắn ống hút nhựa xanh dài 19 cm.
  • - 01 (Một) túi vải màu đen (loại túi đựng điện thoại di động) có kích thước khoảng 15 cm x 05 cm.

(Theo quyết định chuyển vật chứng số 19/QĐ-VKSHAB ngày 21/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang).

3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Nguyễn Văn Đ phải nộp án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).

4. Quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Trường hợp Bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thi người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành bản án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

* Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Kiên Giang;
  • - VKSND huyện An Biên;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Kiên Giang;
  • - THA Dân sự, Hình sự;
  • - NTG; CA huyện An Biên;
  • - Người TGTT;
  • -Lưu hồ sơ, văn phòng (Dương).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đinh Trần Mộng Thúy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 23/2024/HS-ST ngày 31/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN BIÊN, TỈNH KIÊN GIANG về tàng trữ trái phép chất ma túy và tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 23/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy và Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 31/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN BIÊN, TỈNH KIÊN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Phạm tội
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger