|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN THẠNH TỈNH LONG AN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 23/2024/HNGĐ-ST Ngày: 31-5-2024 V/v “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN THẠNH, TỈNH LONG AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Khánh
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Nguyễn Thị Thanh Tuyền
- Bà Nguyễn Ngọc Nhuận
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Phước Mãi – Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân huyện Tân Thạnh, tỉnh Long An.
Ngày 31 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Thạnh, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 31/2024/TLST-HNGĐ ngày 27 tháng 02 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 13/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 27 tháng 3 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 18/2024/QÐST-HNGĐ ngày 09 tháng 5 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Vương Thị H, sinh năm 1990; Địa chỉ: Ấp K, xã T, huyện T, tỉnh Long An. (xin vắng mặt)
- Bị đơn: Anh Nguyễn Thanh T, sinh năm 1988; Địa chỉ: Ấp K, xã T, huyện T, tỉnh Long An. (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 16/01/2024 và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn Vương Thị H trình bày tóm tắt như sau: Chị H và anh Nguyễn Thanh T tự quen biết, tìm hiểu và chung sống với nhau vào năm 2008, đến năm 2013 mới đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Long An cấp Giấy chứng nhận kết hôn ngày 08/02/2013, số 11/2013. Vợ chồng có 02 con chung tên Nguyễn Thị Anh T1, sinh ngày 20/8/2008 và Nguyễn Thị Gia H1, sinh ngày 14/9/2010. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, nhưng đến khoảng năm 2015 thì phát sinh nhiều mâu thuẫn, do bất đồng quan điểm, anh T thường xuyên uống rượu say xỉn và có hành vi bạo lực với chị, cuộc sống gia đình không hạnh phúc. Nhận thấy tình cảm vợ chồng đã không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, nên chị H khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với anh T. Về con chung, khi ly hôn, chị H đồng ý để anh T được quyền trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung, chị H tự nguyện cấp dưỡng nuôi mỗi con chung hàng tháng là 1.000.000đ. Về tài sản chung, nợ chung: Chị H xác định không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã thực hiện các thủ tục tống đạt các văn bản tố tụng của Tòa án cho bị đơn là anh Nguyễn Thanh T thể hiện yêu cầu ly hôn cũng như về quyền nuôi con chung và cấp dưỡng nuôi con của chị H, nhưng anh T không có ý kiến trình bày nào gởi cho Tòa án thể hiện sự phản đối yêu cầu khởi kiện của chị H.
Các cháu Nguyễn Thị Anh T1 và Nguyễn Thị Gia H1 có bản khai thể hiện nguyện vọng muốn sống chung với cha, trong trường hợp cha mẹ ly hôn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tổ chức phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải. Bị đơn là anh Nguyễn Thanh T không tham gia phiên họp, không tham gia phiên hòa giải. Nguyên đơn là chị Vương Thị H có đơn đề nghị không hòa giải, vụ án được đưa ra xét xử là đúng quy định của pháp luật. Chị H có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Anh T2 đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai để tham gia phiên tòa mà vẫng vắng mặt, căn cứ quy định tại Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.
[2] Về nội dung vụ án:
[2.1] Xét tính hợp pháp của quan hệ hôn nhân giữa các bên, thấy rằng: Chị Vương Thị H và anh Nguyễn Thanh T chung sống với nhau vào năm 2008, đến năm 2013 mới đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Long An cấp Giấy chứng nhận kết hôn ngày 08/02/2013, số 11/2013, nên quan hệ hôn nhân của chị H và anh T là hợp pháp kể từ thời điểm đăng ký kết hôn.
[2.2] Xét yêu cầu ly hôn của chị H thấy rằng: Chị H xác định từ khoảng năm 2015 thì vợ chồng đã phát sinh nhiều mâu thuẫn, do bất đồng quan điểm, anh T thường xuyên uống rượu say xỉn và có hành vi bạo lực với chị, cuộc sống gia đình không hạnh phúc, nên mới khởi kiện xin ly hôn với anh T. Tòa án đã thực hiện các thủ tục tống đạt các văn bản tố tụng của Tòa án cho bị đơn là anh Nguyễn Thanh T thể hiện yêu cầu ly hôn của chị H, nhưng anh T không có ý kiến trình bày nào gởi cho Tòa án thể hiện sự phản đối yêu cầu khởi kiện của chị H, không thể hiện thiện chí hòa giải đoàn tụ để hàn gắn tình cảm vợ chồng. Điều đó cho thấy, mâu thuẫn giữa hai bên đã trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị H đối với anh T.
[2.3] Về quyền nuôi con chung: Chị H xác định khi ly hôn, chị đồng ý để anh T được quyền trực tiếp nuôi dưỡng con chung là Nguyễn Thị Anh T1, sinh ngày 20/8/2008 và Nguyễn Thị Gia H1, sinh ngày 14/9/2010. Cháu T1 và cháu H1 có bản khai thể hiện nguyện vọng là muốn sống chung với cha trong trường hợp cha mẹ ly hôn. Anh T2 cũng không có ý kiến phản đối, nên Hội đồng xét xử quyết định giao cho anh T2 được quyền trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung.
[2.4] Về cấp dưỡng nuôi con: Chị H có ý kiến tự nguyện cấp dưỡng nuôi mỗi con chung hàng tháng là 1.000.000đ, anh T2 không có ý kiến phản đối, cũng không có yêu cầu gì khác về mức cấp dưỡng nuôi con. Do đó, Hội đồng xét xử ghi nhận việc chị H có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi mỗi con chung hàng tháng là 1.000.000đ, thời gian cấp dưỡng tính từ tháng 6/2024 đến khi mỗi con chung đủ 18 tuổi.
[2.5] Về chia tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét. Trường hợp sau này đương sự có tranh chấp về chia tài sản chung, nợ chung thì có quyền khởi kiện bằng vụ án khác.
[3] Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Căn cứ Điều 6, khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, nguyên đơn là chị Vương Thị H phải chịu 300.000đ án phí ly hôn và 300.000đ án phí cấp dưỡng nuôi con. Bị đơn là anh Nguyễn Thanh T không phải chịu án phí.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 5, Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 483 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Các Điều 51, Điều 53, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84, Điều 85, Điều 86 và Điều 119 của Luật Hôn nhân và Gia đình; Điều 6, Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Về hôn nhân: Chị Vương Thị H được ly hôn với anh Nguyễn Thanh T.
- Về quyền nuôi con chung: Anh Nguyễn Thanh T được quyền trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung tên Nguyễn Thị Anh T1, sinh ngày 20/8/2008 và Nguyễn Thị Gia H1, sinh ngày 14/9/2010.
- Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị H có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi mỗi con chung hàng tháng là 1.000.000đ, thời gian cấp dưỡng tính từ tháng 6/2024 đến khi mỗi con chung đủ 18 tuổi
- Chị Vương Thị H có quyền, nghĩa vụ đến thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Trường hợp chị H lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì anh T có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của chị H theo quy định của pháp luật. Anh T2 cùng các thành viên gia đình không được cản trở việc thăm nom, chăm sóc, giáo dục con của chị H.
- Khi cần thiết, trên cơ sở lợi ích của con chung thì chị H, anh T2, người thân thích của cháu T1, cháu H1, Cơ quan quản lý Nhà nước về gia đình, Cơ quan quản lý Nhà nước về trẻ em, Hội liên hiệp phụ nữ đều có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người nuôi con, mức cấp dưỡng nuôi con, hạn chế quyền của cha mẹ đối với con chưa thành niên theo quy định của pháp luật.
- Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền nợ gốc chậm thi hành án, theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015
- Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị Vương Thị H phải chịu 300.000đ án phí ly hôn và 300.000đ án phí cấp dưỡng nuôi con. Chuyển số tiền 300.000đ tạm ứng án phí chị H đã nộp theo biên lai thu số 0003480 ngày 27/02/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Thạnh sang thi hành án phí, nên chị H phải nộp tiếp 300.000đ án phí sung Ngân sách Nhà nước.
- Án xử sơ thẩm công khai, nguyên đơn, bị đơn được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được giao hoặc được niêm yết theo đúng quy định của pháp luật.
- Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án hoặc bị cưỡng chế theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Văn Khánh |
Bản án số 23/2024/HNGĐ-ST ngày 31/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN THẠNH, TỈNH LONG AN về ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Số bản án: 23/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 31/05/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN THẠNH, TỈNH LONG AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chị hoài xin ly hôn với anh Tuấn vì mâu thuẫn gia đình
