Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ĐÔ LƯƠNG

TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 23/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 31-5-2024

V/v Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔ LƯƠNG, TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Duy Phi

Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Văn Hải, ông Nguyễn Hữu Đồng.

-Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thủy – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Minh - Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 5 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 65/2024/TLST-HNGĐ ngày 15 tháng 3 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 47/2024/QĐXX-ST ngày 14 tháng 5 năm 2024 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Anh Nguyễn Văn H, sinh 1998 – Vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

Địa chỉ: Xóm M, xã G, huyện Đ, tỉnh Nghệ An.

Bị đơn: Chị Lê Thị Phương T, sinh năm 2000. Vắng mặt có đề nghị xét xử vắng mặt.

Địa chỉ: Xóm Y, xã M, huyện Đ, tỉnh Nghệ An.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản lấy lời khai nguyên đơn anh Nguyễn Văn H trình bày:

Anh H kết hôn chị Lê Thị Phương T vào ngày 28/02/2019, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã G, huyện Đ, tỉnh Nghệ An. Sau khi kết hôn vợ chồng anh H sống hạnh phúc bên nhau đến đầu năm 2021 thì nảy sinh mâu thuẫn và sống ly thân từ tháng 01 năm 2023 cho đến nay. Nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn trong cuộc sống vợ chồng anh H là do tính cách 02 (hai) người không hợp nhau, cuộc sống chung vợ chồng rất nặng nề, vợ chồng thường xuyên cãi vã, xúc phạm nhau. Do tình cảm vợ chồng không còn nên anh H đề nghị Tòa án giải quyết cho anh H được ly hôn với chị T.

Về con chung: Anh Nguyễn Văn H và chị Lê Thị Phương T có 02 người con chung là Nguyễn Lê Hà G, sinh ngày 12/10/2019 và Nguyễn Lê Q, sinh ngày 10/5/2021. Khi vợ chồng sống ly thân 02 con chung sống cùng với chị T nên khi ly hôn anh H đề nghị giao 02 con chung cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng và anh H sẽ cấp dưỡng nuôi 02 con chung mỗi tháng 4.000.000 đồng (mỗi người con chung là 2.000.000 đồng/1 tháng). Thời gian bắt đầu thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng là ngày 01 tháng 7 năm 2024.

Về tài sản: Anh Nguyễn Văn H không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa chị chị Lê Thị Phương T vắng mặt dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng quá trình giải quyết vụ án chị T trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thị Phương T thống nhất như lời trình bày của anh H về thời gian kết hôn, thời điểm phát sinh mâu thuẫn, việc vợ chồng sống ly thân, nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn trong cuộc sống vợ chồng. Nay tình cảm vợ chồng không con nên chị T đồng ý ly hôn với anh H.

Về con chung: Chị Lê Thị Phương T và anh Nguyễn Văn H có 02 người con chung là Nguyễn Lê Hà G, sinh ngày 12/10/2019 và Nguyễn Lê Q, sinh ngày 10/5/2021. Khi vợ chồng sống ly thân 02 con chung sống cùng với chị T nên khi ly hôn với anh H chị T đề nghị Tòa án giao 02 con chung cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng và yêu cầu anh H phải cấp dưỡng nuôi 02 con chung mỗi tháng 4.000.000 đồng (mỗi 01 người con chung là 2.000.000 đồng/1 tháng). Thời gian bắt đầu thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng là ngày 01 tháng 7 năm 2024.

Về tài sản: Chị Lê Thị Phương T không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Kiểm sát viên phát biểu ý kiến: Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án, việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Về nội dung vụ án: Qua xem xét các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa cho thấy yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn có căn cứ đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Anh Nguyễn Văn H khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn, nuôi con khi ly hôn Hội đồng xét xử xác định đây là quan hệ “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự và thẩm quyền giải quyết là của Tòa án nhân dân cấp huyện theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự. Tại thời điểm khởi kiện, bị đơn là chị Lê Thị Phương T cư trú tại Xóm M, xã G, huyện Đ, tỉnh Nghệ An. Vì vậy, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An theo quy định tại khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Tại phiên tòa nguyên đơn anh Nguyễn Văn H và bị đơn chị Lê Thị Phương T vắng mặt nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Vì vậy, việc giải quyết vụ án, xét xử vụ án vắng mặt bị đơn, nguyên đơn là đúng quy định tại Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2]. Về nội dung:

Xét đề nghị của nguyên đơn anh Nguyễn Văn H về việc ly hôn và nuôi con chung, Hội đồng xét xử thấy rằng:

Về quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn Văn H và chị Lê Thị Phương T kết hôn với nhau ngày 28/02/2019 do hai bên tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã G, huyện Đ, tỉnh Nghệ An. Hôn nhân hợp lệ theo quy định của pháp luật, cuộc sống chung vợ chồng hạnh phúc bên nhau được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân chính dẫn đến mâu thuẫn là do tính cách hai người không hợp nhau, cuộc sống vợ chồng rất nặng nề, thường xuyên xẩy ra cãi vã không tôn trọng nhau, anh H và chị T đã sống ly thân từ tháng 01 năm 2023 đến nay và từ đó mỗi người tự lo cho cuộc sống riêng của mình, giữa anh H và chị T không còn quan tâm, chăm sóc lẫn nhau nên anh H đề nghị Tòa án giải quyết cho chị ly hôn với chị T.

Xét tình cảm giữa anh Nguyễn Văn H và chị Lê Thị Phương T thực sự không còn, mâu thuẫn đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh Nguyễn Văn H là phù hợp với các quy định của Luật Hôn nhân và gia đình.

Về con chung: Anh Nguyễn Văn H và chị Lê Thị Phương T có 02 người con chung là Nguyễn Lê Hà G, sinh ngày 12/10/2019 và Nguyễn Lê Q, sinh ngày 10/5/2021. Xét đề nghị của anh H về việc giao 02 con chung cho chị T được trực tiếp nuôi dưỡng con chung thấy rằng: Khi anh H và chị T sống ly thân 02 con chung sống cùng với chị T, mặt khác chị T cũng đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung. Vì vậy, chấp nhận đề nghị của anh H giao 02 con chung cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng và anh H có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi 02 con chung mỗi tháng 4.000.000 đồng (Mỗi 01 người còn là 2.000.000 đồng/1tháng).

Về tài sản chung: Anh Nguyễn Văn H và chị Lê Thị Phương T không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xét.

Về án phí: Đương sự phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm và án phí cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 51, 56, 81, 82, 83, 107, 110 Luật Hôn nhân và gia đình; các Điều 28, 35, 39, 227, 228 và Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn anh Nguyễn Văn H.

Về quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn Văn H và chị Lê Thị Phương T được ly hôn.

Về con chung: Giao 02 con chung Nguyễn Lê Hà G, sinh ngày 12/10/2019 và Nguyễn Lê Q, sinh ngày 10/5/2021 cho chị Lê Thị Phương T trực tiếp nuôi dưỡng đến khi trưởng thành (đủ 18 tuổi). Anh Nguyễn Văn H phải cấp dưỡng nuôi con chung với số tiền 2.000.000 đồng/1người con/1 tháng. Thời gian bắt đầu thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng là ngày 01 tháng 7 năm 2024.

Bên không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được cản trở việc thực hiện quyền này.

Án phí: Anh Nguyễn Văn H phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm và 300.000 đồng án phí cấp dưỡng nuôi con. Anh H được khẩu trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp nên còn phải chịu 300.000 đồng án phí (Anh H đã nộp 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí theo BL số 0009421 ngày 15/3/2024 tại Chi cục THADS huyện Đ).

Các đương sự vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - TAND tỉnh Nghệ An;
  • - VKSND Đô Lương;
  • - Chi cục THADS huyện Đô Lương;
  • - UBND xã Minh Sơn, huyện Đô Lương;
  • - Lưu HS.

TM/ HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Đặng Duy Phi

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 23/2024/HNGĐ-ST ngày 31/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔ LƯƠNG, TỈNH NGHỆ AN về ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn

  • Số bản án: 23/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 31/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔ LƯƠNG, TỈNH NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger