|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 23/2024/HNGĐ-PT
Ngày 30 tháng 10 năm 2024
V/v tranh chấp Hôn nhân và gia đình
NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Hà
Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Thúy Hoàn
Ông Ngô Thế Tương
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Quỳnh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình:
Bà Đỗ Thị Thái - Kiểm sát viên.
Trong ngày 30 tháng 10 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 22/2024/TLPT-HNGD ngày 04 tháng 10 năm 2024 về “Tranh chấp Hôn nhân và gia đình”.
Do bản án Hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 51/2024/HNGĐ-ST ngày 01/8/2024 của Toà án nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 82/2024/QĐPT-HNGĐ ngày 15/10/2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Trần Thị Hải Y, sinh năm 1994; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn T, xã V, huyện H, tỉnh Thái Bình; chỗ ở hiện nay: Thôn C, xã V, huyện H, thành phố Hà Nội. Có mặt.
- Bị đơn: Anh Nguyễn Kim Đ, sinh năm 1990; nơi cư trú: Thôn T, xã V, huyện H, tỉnh Thái Bình. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Y trình bày chị kết hôn với anh Nguyễn Kim Đ do hai người tự nguyện tìm hiểu, có đăng ký kết hôn ngày 16/6/2020 tại Ủy ban nhân dân xã V, huyện H, tỉnh Thái Bình. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hoà thuận khoảng 02 năm thì phát sinh mâu thuẫn, thường xuyên cãi nhau, nguyên nhân do tính tình vợ chồng không hợp, quan điểm sống bất đồng. Vợ chồng đã sống ly thân từ đầu năm 2023 đến nay, không còn tình cảm với nhau nên chị Y xin ly hôn với anh Đ. Anh Đ cũng xác nhận lời khai của chị Y về quá trình tìm hiểu, đăng ký kết hôn tự nguyện và mâu thuẫn giữa hai vợ chồng là đúng. Anh Đ cũng không còn tình cảm với chị Y nên đồng ý yêu cầu xin ly hôn của chị Y.
- Về con chung: Chị Y, anh Đ đều trình bày có một con chung là Nguyễn Trần Minh N, sinh ngày 02/11/2021. Hiện tại con chung đang do bố mẹ đẻ anh Đ chăm sóc, nuôi dưỡng. Chị Y có nguyện vọng khi vợ chồng giải quyết ly hôn chị Y được chăm sóc, nuôi dưỡng con chung. Hiện nay chị Y đang làm giáo viên dạy Hợp đồng tại Trung tâm tiếng Anh Ha N1, thu nhập bình quân từ 6.000.000 đồng – 7.000.000 đồng/tháng, chị đề nghị anh Đ cấp dưỡng nuôi con chung 2.000.000 đồng/tháng. Anh Đ trình bày: Con chung của anh chị đang được gửi về quê cho ông bà nuôi dưỡng từ khi con được 11 tháng tuổi, vợ chồng 3-4 tuần mới về thăm con một lần. Nếu giải quyết ly hôn anh Đ cũng có nguyện vọng được nuôi con chung và không yêu cầu chị Y phải cấp dưỡng nuôi con vì chị Y không có điều kiện nuôi con. Trường hợp chị Y chứng minh được đủ điều kiện nuôi con thì anh Đ để chị Y nuôi và đồng ý cấp dưỡng nuôi con 2.000.000 đồng/tháng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi. Hiện tại anh Đ làm kỹ sư xây dựng với mức thu nhập bình quân 14.000.000 đồng/tháng.
- Về tài sản: Chị Y, anh Đ không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bản án sơ thẩm số 51/2024/HNGĐ-ST ngày 01/8/2024 của Tòa án nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình đã quyết định:
Căn cứ Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và Gia đình; Điều 147 của Bộ luật Tố tụng Dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án:
- Về hôn nhân: Xử cho chị Trần Thị Hải Y được ly hôn anh Nguyễn Kim Đ.
- Về con chung: Xử giao cho chị Trần Thị Hải Y trực tiếp nuôi dưỡng con chung là Nguyễn Trần Minh N, sinh ngày 02/11/2021. Anh Nguyễn Kim Đ có trách nhiệm góp cấp dưỡng nuôi con chung cho chị Y mỗi tháng 2.000.000 đồng tính từ tháng 8/2024 cho đến khi con chung đủ 18 tuổi.
Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí, quyền kháng cáo của đương sự theo quy định của pháp luật.
Ngày 13/8/2024, anh Đ kháng cáo về vấn đề nuôi dưỡng con chung.
Tại phiên tòa phúc thẩm, anh Đ vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo và trình bày: Kỹ năng chăm sóc nuôi con của chị Y không có, từ khi cháu được 11 tháng tuổi đã gửi về ông bà nội nuôi, ông bà nuôi cháu rất đảm bảo, cháu đang quen môi trường sống và học tập cùng ông bà nội. Điều kiện về kinh tế của anh Đ để chăm sóc nuôi con tốt hơn chị Y. Do công việc thất thường, điều kiện thu nhập chưa tốt, quản lý chi tiêu vượt quá khả năng tài chính của mình, còn nợ nần rất nhiều nên chị Y không đủ khả năng kinh tế để nuôi con. Mặt khác, chị Y cũng không có chỗ ở ổn định, sống một mình, không có người trợ giúp, hỗ trợ để để chăm sóc, nuôi con tốt nhất. Vì vậy, anh Đ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giao con chung cho anh chăm sóc, nuôi dưỡng.
Tại phiên toà chị Y trình bày: Chị Y vẫn giữ nguyên quan điểm về nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng con chung vì con chung của chị là con gái, lại còn rất nhỏ, cần được sự chăm sóc của người mẹ. Chị Y không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của anh Đ, những lời trình bày của anh Đ tại phiên tòa không đúng. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án:
Về tố tụng: Trong quá trình thụ lý và giải quyết vụ án ở cấp phúc thẩm, những người tiến hành tố tụng và đương sự đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng Dân sự, không chấp nhận kháng cáo của anh Đ, giữ nguyên bản án sơ thẩm số 51/2024/HNGĐ-ST ngày 01/8/2024 của Tòa án nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu đã thu thập có trong hồ sơ vụ án, cũng như thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:
- Về thủ tục tố tụng: Ngày 13/8/2024, anh Đ nộp đơn kháng cáo bản án sơ thẩm và đã nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm, do vậy kháng cáo của anh Đ là hợp lệ, được xem xét, giải quyết theo trình tự phúc thẩm.
- Xét nội dung kháng cáo của anh Nguyễn Kim Đ: Cháu Nguyễn Trần Minh N, sinh ngày 02/11/2021 đến ngày xét xử cháu N mới 02 tuổi 08 tháng 29 ngày nên theo quy định tại khoản 3 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình thì con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ chăm sóc, nuôi dưỡng. Mặt khác, chị Trần Thị Hải Y có công việc, thu nhập ổn định, không vi phạm đạo đức, có đủ sức khỏe để chăm sóc, nuôi dưỡng con chung nên Toà án cấp sơ thẩm quyết định giao con cho chị Y chăm sóc, nuôi dưỡng và buộc anh Đ cấp dưỡng nuôi con chung 2.000.000 đồng/tháng là có căn cứ, đúng pháp luật. Anh Đ cung cấp văn bản về việc bố mẹ đẻ chị Y đồng ý giao con cho anh Đ chăm sóc nuôi dưỡng nhưng ý kiến, quan điểm của bố mẹ chị Y không phải là căn cứ để giao con cho anh Đ nuôi dưỡng vì bố mẹ đẻ chị Y không có quyền quyết định giao con của người khác cho ai. Tại phiên toà, anh Đ không cung cấp được tài liệu, chứng cứ mới nào khác để thay đổi quyền nuôi con nên Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của anh Nguyễn Kim Đ, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
- Về án phí phúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhận nên anh Đ phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng Dân sự, không chấp nhận kháng cáo của anh Nguyễn Kim Đ, giữ nguyên quyết định của Bản án số 51/2024/HNGĐ-ST ngày 01/8/2024 của Tòa án nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình.
- Căn cứ Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình; Điều 147 của Bộ luật Tố tụng Dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án:
- Về hôn nhân: Xử cho chị Trần Thị Hải Y được ly hôn anh Nguyễn Kim Đ.
- Về con chung: Xử giao cho chị Trần Thị Hải Y trực tiếp nuôi dưỡng con chung là Nguyễn Trần Minh N, sinh ngày 02/11/2021. Anh Nguyễn Kim Đ có trách nhiệm góp cấp dưỡng nuôi con chung cho chị Y mỗi tháng 2.000.000 đồng tính từ tháng 8/2024 cho đến khi con chung đủ 18 tuổi. Anh Đ có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
- Về án phí phúc thẩm: Anh Nguyễn Kim Đ phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm. Chuyển 300.000 đồng tạm ứng án phí phúc thẩm anh Đ đã nộp theo biên lai thu số 0003846 ngày 13/8/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình sang thi hành án phí phúc thẩm cho anh Đ.
- Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án 30/10/2024.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Đỗ Thị Hà |
Bản án số 23/2024/HNGĐ-PT ngày 30/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH về tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Số bản án: 23/2024/HNGĐ-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hôn nhân và gia đình
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 30/10/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trần Thị Hai Yến - Nguyễn Kim Đông ly hôn, nuôi con chung
