Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN PHÙ NINH

TỈNH PHÚ THỌ

Bản án số: 23/2023/HNGĐ-ST

Ngày: 29/11/2023

V/v tranh chấp về ly hôn, con chung

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh Phúc

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÙ NINH, TỈNH PHÚ THỌ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lý Thị Thanh Huyền

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lâm Quang Tụng

Bà Tống Thị Hồng Vân

- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Huyền, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ tham gia phiên tòa: Ông Triệu Ngọc Sơn, Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 11 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 171/2023/TLST- HNGĐ ngày 23 tháng 10 năm 2023 về việc "Tranh chấp về ly hôn, con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 28/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 03 tháng 11 năm 2023, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Cao Thị H, sinh năm 1983.

Trú tại: khu H, xã V, huyện L, tỉnh Phú Thọ.

Bị đơn: Anh Vũ Viết K, sinh năm 1969.

Trú tại: khu E, xã A, huyện P, tỉnh Phú Thọ.

(Các đương sự đều xin xét xử vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện và trong quá trình tố tụng, nguyên đơn là chị Cao Thị H và bị đơn là anh Vũ Viết K thống nhất trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Cao Thị H và anh Vũ Viết K tự nguyện tìm hiểu và đăng ký kết hôn tại UBND xã A, huyện P, tỉnh Phú Thọ ngày 31/12/1999, việc kết hôn không bị ai ép buộc, lừa dối. Sau khi kết hôn vợ chồng về chung sống tại khu E, xã A, hôn nhân hòa thuận hạnh phúc một thời gian dài cho đến tháng 01/2011 vợ chồng mâu thuẫn trầm trọng. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng chung sống thời gian dài nên từ những mâu thuẫn nhỏ không giải quyết được mà vợ chồng thường xuyên cãi vã, không tìm được tiếng nói chung, cuộc sống chung căng thẳng kéo dài. Từ năm 2011 đến nay anh, chị đã sống ly thân, chị H chuyển về sống ở nhà bố mẹ đẻ tại khu H, xã V, huyện L, tỉnh Phú Thọ còn anh K sống tại khu E, xã A, huyện P, tỉnh Phú Thọ. Chị H và anh K đều xác định tình cảm không còn, hôn nhân không hạnh phúc, vợ chồng không còn chung sống và cũng không quan tâm, chăm sóc nhau nên chị H và anh K đều xin được ly hôn.

Về con chung: Chị H và anh K thống nhất xác nhận vợ chồng có 01 con chung là cháu Vũ Thị Phương T, sinh ngày 28/12/2007. Khi ly hôn, chị H và anh K thống nhất anh K trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu T.

Về cấp dưỡng: Anh K tự nguyện không yêu cầu chị H cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh.

Về tài sản chung, nợ chung, công sức đóng góp: Chị H và anh K đều không đề nghị Tòa án giải quyết.

Về án phí: Chị H tự nguyện chịu toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm.

Tại phiên tòa,

Các đương sự đều vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký, các đương sự từ khi thụ lý vụ án cho đến trước khi Hội đồng xét xử nghị án đã thực hiện đúng theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, các Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân gia đình 2014; khoản 4 Điều 147, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH1430 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án, căn cứ theo điểm c khoản 1 Điều 4 Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT - TANDTC - VKSNDTC - BTP ngày 06 tháng 11 năm 2016 của Toà án nhân dân Tối cao, Viện kiểm sát nhân dân Tối cao, Bộ Tư pháp hướng dẫn thi hành một số quy định của Luật Hôn nhân và gia đình hai bên đương sự đều yêu cầu Toà án cho ly hôn thì Toà án giải quyết cho ly hôn và không huỷ kết hôn trái pháp luật. Đề nghị Tòa án xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Cao Thị H, cho chị H được ly hôn anh K. Về con chung: Giao con chung là cháu Vũ Thị Phương T cho anh K trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Chị H không phải cấp dưỡng nuôi con do anh K tự nguyện không yêu cầu. Về tài sản chung, nợ chung, công sức đóng góp: Không đề nghị Tòa án giải quyết. Về án phí: Chị H tự nguyện chịu toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1]. Về tố tụng:

- Xác định quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Do bị đơn có nơi cư trú tại huyện P, tỉnh Phú Thọ nên Tòa án nhân dân huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ thụ lý, xét xử là đúng thẩm quyền theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Trong vụ án này, việc kết hôn của chị H và anh K là kết hôn trái pháp luật thực hiện tại UBND xã A, huyện P, tỉnh Phú Thọ vi phạm điều 5 Luật Hôn nhân và gia đình (thời điểm đăng ký kết hôn chị H chưa đủ tuổi). Lẽ ra nên đưa UBND xã A, huyện P, tỉnh Phú Thọ là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án này nhưng theo điểm c khoản 1 Điều 4 Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT - TANDTC - VKSNDTC - BTP ngày 06 tháng 11 năm 2016 của Toà án nhân dân Tối cao, Viện kiểm sát nhân dân Tối cao, Bộ Tư pháp hướng dẫn thi hành một số quy định của Luật Hôn nhân và gia đình hai bên đương sự đều yêu cầu Toà án cho ly hôn thì Toà án giải quyết cho ly hôn và không huỷ kết hôn trái pháp luật nên không cần thiết phải đưa UBND xã An Đạo tham gia tố tụng với tư cách người có nghĩa vụ liên quan.

Về sự vắng mặt của các đương sự: Nguyên đơn, bị đơn đều vắng mặt và đều có đơn xin xét xử vắng mặt nên căn cứ khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự là đúng quy định.

[2]. Về nội dung:

- Xét yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của nguyên đơn thấy rằng:

Chị Cao Thị H và anh Vũ Viết K kết hôn tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại UBND xã A, huyện P, tỉnh Phú Thọ ngày 31/12/1999. Thời điểm kết hôn chị H 16 tuổi 03 tháng 28 ngày nên chưa đủ điều kiện kết hôn, thuộc trường hợp kết hôn trái pháp luật, vi phạm quy định tại Điều 5, Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 1986.

Tại biên bản xác minh ngày 03/11/2023, chính quyền địa phương xác nhận do sơ suất nên đã làm thủ tục đăng ký kết hôn cho anh K và chị H khi chị H chưa đủ tuổi kết hôn. Sau khi kết hôn anh K, chị H đã chung sống hạnh phúc hơn 12 năm cho đến năm 2011 mới có mâu thuẫn như anh, chị trình bày là đúng.

Như vậy, tại thời điểm đăng ký kết hôn chị H chưa đủ điều kiện kết hôn nhưng sau khi đủ điều kiện kết hôn thì chị H và anh K vẫn tiếp tục chung sống hạnh phúc một thời gian dài, có con chung và không có ai đề nghị hủy việc kết hôn trái pháp luật. Nay chị H và anh K đều xác định tình cảm không còn, hôn nhân không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được và cùng yêu cầu Tòa án cho ly hôn nên căn cứ điểm c khoản 2 Điều 4 Thông tư số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 06/01/2016 thì cần giải quyết cho anh, chị ly hôn mà không hủy việc kết hôn trái pháp luật là phù hợp.

Điều 4. Xử lý yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật

1. Khi xem xét, giải quyết yêu cầu có liên quan đến việc hủy kết hôn trái pháp luật, Tòa án phải căn cứ vào yêu cầu của đương sự và điều kiện kết hôn, điều kiện công nhận quan hệ hôn nhân quy định tại Điều 8 và Điều 11 của Luật hôn nhân và gia đình để quyết định.

a)...

b)...

c) Trường hợp hai bên cùng yêu cầu Tòa án cho ly hôn hoặc có một bên yêu cầu ly hôn còn bên kia yêu cầu công nhận quan hệ hôn nhân thì Tòa án giải quyết cho ly hôn. Trường hợp này, quyền, nghĩa vụ của cha, mẹ, con từ thời điểm kết hôn đến thời điểm ly hôn được giải quyết theo quy định về quyền, nghĩa vụ của cha, mẹ, con khi ly hôn; quan hệ tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng giữa các bên từ thời điểm kết hôn đến trước thời điểm đủ điều kiện kết hôn được giải quyết theo quy định tại Điều 16 của Luật hôn nhân và gia đình; quan hệ tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng giữa các bên từ thời điểm đủ điều kiện kết hôn đến thời điểm ly hôn được giải quyết theo quy định tại Điều 59 của Luật hôn nhân và gia đình.

- Về con chung: Chị H và anh K đều xác nhận vợ chồng có 01 con chung là cháu Vũ Thị Phương T sinh ngày 28/12/2007. Khi ly hôn, chị H và anh K thống nhất để anh K trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu T. Tại bản tự khai ngày 25/10/2023, cháu T có nguyện vọng ở với bố nên cần giao cháu T cho anh K trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục là phù hợp.

Về cấp dưỡng: Anh K tự nguyện không yêu cầu chị H cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh nên chị H không phải cấp dưỡng là phù hợp.

- Về tài sản chung, nợ chung, công sức đóng góp: Chị H và anh K đều không đề nghị Tòa án giải quyết nên Tòa án không xem xét, giải quyết trong vụ án này.

[3]. Về án phí: Chị H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân gia đình 2014; khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 244, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH1430 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Cao Thị H.

Cho chị Cao Thị H ly hôn anh Vũ Viết K.

2. Về con chung:

Giao cháu Vũ Thị Phương T, sinh ngày 28/12/2007 cho anh Vũ Viết K trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.

Chị H không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh K do anh K tự nguyện không yêu cầu.

Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

3. Về tài sản chung, nợ chung, công sức đóng góp: Không đề nghị Tòa án giải quyết nên không xem xét, giải quyết trong vụ án này.

4. Về án phí: Chị Cao Thị H phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm. Xác nhận chị H đã nộp đủ số tiền trên theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001015 ngày 23/10/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ.

Đương sự được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - VKSND huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ;
  • - Các đương sự;
  • - UBND xã An Đạo, Phù Ninh, Phú Thọ;
  • - Lưu: HSVA.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Lý Thị Thanh Huyền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 23/2023/HNGĐ-ST ngày 29/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÙ NINH, TỈNH PHÚ THỌ về tranh chấp về ly hôn, con chung

  • Số bản án: 23/2023/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về ly hôn, con chung
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/11/2023
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÙ NINH, TỈNH PHÚ THỌ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chị Hà xin ly hôn anh Khai
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger