Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH YÊN BÁI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 23/2024/HS-PT

Ngày 29 – 8 – 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH YÊN BÁI

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Trung Hải

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Trung Dũng

Bà Đỗ Thu Hương

- Thư ký phiên tòa: Ông Lã Minh Hiếu - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Yên Bái.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Yên Bái tham gia phiên tòa: Bà Dương Thị Huế - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Yên Bái xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 30/2024/TLPT-HS ngày 18-7-2024 đối với bị cáo Phạm Viết Q do có kháng cáo của bị hại Phạm Văn V đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 26/2024/HSST ngày 17-6-2024 của Tòa án nhân dân huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái.

- Bị cáo bị kháng cáo: Phạm Viết Q, sinh ngày 12 tháng 6 năm 1974 tại huyện T, tỉnh Phú Thọ; Nơi thường trú: Khu A, xã Đ, huyện T, tỉnh Phú Thọ; Nơi ở: Thôn G, xã M, huyện Y, tỉnh Yên Bái; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 05/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Viết T (đã chết) và bà Phùng Thị T1 (đã chết); có vợ là Phạm Thị C, sinh năm 1979 và 03 con, con lớn nhất sinh năm 2004, con nhỏ nhất sinh năm 2019; tiền án: Ngày 20-6-2018, bị cáo Q bị Tòa án nhân dân tỉnh Yên Bái xử phạt 03 năm tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Cố ý gây thương tích”, thời gian thử thách 05 năm (Bản án số: 24/2018/HS-PT). Bị cáo Q đã chấp hành xong thời gian thử thách của án treo nhưng chưa thi hành khoản tiền bồi thường dân sự; tiền sự: Không; bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 21-12-2023 đến ngày 17-6-2024, hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú tại xã M, huyện Y, tỉnh Yên Bái; có mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo Q: Luật sư Hoàng Trọng H thuộc Văn phòng L, Đoàn Luật sư tỉnh Y; địa chỉ: Số nhà G, đường Đ, tổ F, thị trấn Y, huyện Y, tỉnh Yên Bái; có mặt.

- Bị hại có kháng cáo: Anh Phạm Văn V, sinh năm 1975; địa chỉ: Thôn G, xã M, huyện Y, tỉnh Yên Bái; có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Nguyễn Thị B, sinh năm 1979; địa chỉ: Thôn G, xã M, huyện Y, tỉnh Yên Bái; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Anh Phạm Văn V là anh vợ của Phạm Viết Q. Từ năm 2019, giữa gia đình anh V và gia đình bị cáo Q đã xảy ra tranh chấp đất giáp ranh giữa hai nhà và đã được Tòa án nhân dân tỉnh Yên Bái xét xử sơ thẩm vào ngày 01/3/2023 nhưng đến ngày 28/10/2023 bản án này chưa có hiệu lực pháp luật do anh V có đơn kháng cáo.

Khoảng 08 giờ 30 phút ngày 28/10/2023, anh V đi làm về thì thấy Q đang xây tường nhà trên diện tích đất đang tranh chấp nên anh V bảo Q dừng việc xây dựng lại nhưng Q không đồng ý. Thấy vậy, anh V nói với Q là sẽ đến Ủy ban nhân dân xã M để báo cáo sự việc thì Q đe doạ: "Mày lên bảo thằng Chủ tịch, thằng Công an xuống đây thì tao giết mày luôn" nhưng anh V vẫn tiếp tục đến trụ sở UBND xã M để nhờ chính quyền giải quyết. Khi anh V đến trụ sở UBND xã M nhưng do vào ngày nghỉ nên không gặp được ai. Anh V đã đến nhà ông Đỗ Xuân T2 - là Chủ tịch UBND xã M rồi đến nhà ông Lê Văn D là trưởng thôn G, xã M nhờ giải quyết vụ việc. Khoảng 30 phút sau, anh V về đến nhà thì thấy Q đang ở trên dàn giáo và vẫn tiếp tục xây tường nên anh V đã đứng trong gian bếp của nhà mình và cầm thanh kim loại dài 06 m (loại hình hộp chữ nhật, kích thước cạnh là 4 cm x 2 cm) chọc về phía tường nhà mà Q đang xây. Thấy vậy, Q đã sử dụng chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO ghi lại hành động trên của anh V rồi đứng trên dàn giáo cầm gạch (loại đất nung, gạch đặc) ném 04 đến 05 viên về phía anh V làm vỡ 01 ô kính của cánh cửa nhà bếp nhà anh V, làm vỡ chiếc gương chiếu hậu bên trái xe mô tô Honda Wave Alpha và ném trúng vào trán bên phải của anh V. Anh V được đưa đến Trạm Y tế xã M để sơ cứu và tiếp tục được đưa đến Bệnh viện Đ để điều trị đến ngày 31/10/2023 thì được ra viện.

Tại Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số: 224/KLTTCT-TTPY ngày 22-11-2023 của Trung tâm Pháp y tỉnh Y kết luận: Tỷ lệ tổn thương cơ thể của Phạm Văn V tại thời điểm giám định là 02 %.

Tại Kết luận giám vật gây thương tích số: 01/KLVGTT-TTPY ngày 07-6-2024 của Trung tâm Pháp y tỉnh Y kết luận: Căn cứ kết quả giám định vật gây thương tích được cơ quan trưng cầm giám định gửi đến có phù hợp với đặc điểm tổn thương, xác định một phần viên gạch vỡ là vật có khả năng gây ra được thương tích của Phạm Văn V.

Tại Kết luận định giá tài sản số 07/KL-HĐĐGTS ngày 18-01-2024 của Hội đồng định giá thường xuyên tài sản trong tố tụng hình sự huyện Y kết luận:

  • Giá trị bị thiệt hại phải thay thế của tấm kính cửa, kích thước 35 x 40 cm, dày 0,5cm tại thời điểm tháng 10/2023 có trị giá là 100.000 đồng.
  • Giá trị bị thiệt hại phải thay thế của chiếc gương chiếc hậu bên trái của xe mô tô nhãn hiệu HONDA WAVE ALPHA tại thời điểm tháng 10/2023 có trị giá là 70.000 đồng.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số: 26/2024/HSST ngày 17-6-2024 của Tòa án nhân dân huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái đã quyết định:

  1. Tuyên bố bị cáo Phạm Viết Q phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
  2. Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 134; các điểm b, e, s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Phạm Viết Q 06 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 21-12-2023.
  3. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng các Điều 584, 585, 586, 589, 590, 357, 468 Bộ luật Dân sự: Buộc bị cáo Q phải bồi thường cho anh V 3.964.423 đồng. Xác nhận bị cáo Q đã bồi thường 3.000.000 đồng nên còn phải bồi thường là: 964.423 đồng.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định xử lý vật chứng, tuyên việc chịu án phí sơ thẩm và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 28-6-2024, anh V có đơn kháng cáo với các nội dung:

  • Đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xem xét lại việc Tòa án cấp sơ thẩm cho bị cáo Q được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại các điểm b, e, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
  • Đề nghị Hội đồng xét xử buộc bị cáo phải bồi thường 40 ngày công mà bị hại không thể đi làm sau khi ra viện với số tiền là 21.800.000 đồng và buộc bị cáo phải bồi thường tổn thất 2% sức khỏe cho bị hại với số tiền là 15.000.000 đồng

* Tại phiên tòa phúc thẩm:

  • Bị cáo Q xuất trình biên lai thu tiền thể hiện vào ngày 23/8/2024 bị cáo đã nộp 964.423 đồng tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Yên Bình để bồi thường cho anh V.
  • Bị hại Phạm Văn V vẫn giữ nguyên kháng cáo và trình bày ý kiến có nội dung được tóm tắt như sau:
    • + Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa mở lần thứ nhất vào ngày 23/5/2024 bị cáo Q vẫn không thừa nhận hành vi phạm tội của mình. Hơn nữa, cho tới nay bị cáo và gia đình không có ai hỏi thăm, có lời xin lỗi tôi nhưng Tòa án cấp sơ thẩm lại nhận định bị cáo Q đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình là không chính xác.
    • + Hiện nay, tôi và gia đình chưa nhận được khoản tiền nào từ bị cáo Q và gia đình bị cáo nhưng Hội đồng xét xử sơ thẩm lại nhận định bị cáo đã tác động gia đình tự nguyện nộp 3.000.000 đồng để khắc phục hậu quả là không đúng.
    • + Từ năm 2019, gia đình tôi và gia đình bị cáo đã có tranh chấp về đất đai. Ngày 01/3/2023, Tòa án nhân dân tỉnh Yên Bái xét xử sơ thẩm đã xác định gia đình Q đã xây lấn sang phần đất của gia đình tôi khoảng 10 cm, với tổng diện tích là 2,21 m². Tòa án tỉnh đã tuyên Q phải trả cho tôi 2.200.000 đồng để được sử dụng diện tích đất đã xây lấn. Gia đình tôi đã kháng cáo bản án trên vì không đồng ý với kết quả giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Yên Bái. Trước và trong quá trình Q xây dựng, tôi đã nhiều lần bảo Q về mốc giới nhưng Q vẫn cố tình xây lấn sang đất của tôi. Tôi cũng đã nhiều lần đề nghị Ủy ban nhân dân xã M giải quyết. Ủy ban nhân dân xã M đã có văn bản yêu cầu Q và gia đình phải dừng việc xây dựng để giải quyết tranh chấp nhưng Q vẫn bất chấp pháp luật, cố tình xây dựng trên phần đất đã lấn chiếm của tôi. Việc tôi dùng thanh kim loại chọc vào phần tường mà Q đang xây dựng là để ngăn cản Q thực hiện hành vi trái pháp luật. Tuy nhiên, Tòa án cấp sơ thẩm lại nhận định Q thực hiện hành vi phạm tội trong trường hợp bị kích động về tinh thần do hành vi trái pháp luật của nạn nhân gây ra là không đúng.
    • + Sau khi ra viện, tôi vẫn bị đau đầu, chóng mặt phải điều trị tại nhà hơn một tháng mới đủ sức khỏe để đi làm. Tuy nhiên, Hội đồng xét xử sơ thẩm chỉ xem xét phần thu nhập của tôi bị mất trong thời gian điều trị ở viện, chi phí khám chữa bệnh, tiền thay kính và gương chiếu hậu là không đầy đủ. Tôi đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm buộc bị cáo Q còn phải bồi thường:
      • 40 ngày công sau khi ra viện x 545.000 đồng = 21.800.000 đồng.
      • Tiền bù đắp tổn thất về tinh thần là 15.000.000 đồng.
    • Cộng 02 khoản là 36.800.000 đồng.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Yên Bái phát biểu có nội dung được tóm tắt như sau:
    • + Về hình thức: Đơn kháng cáo của bị hại trong hạn luật định và hợp lệ nên cần được xem xét theo trình tự phúc thẩm.
    • + Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự không chấp nhận kháng cáo của bị hại, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
  • - Người bào chữa cho bị cáo Q trình bày bản Luận cứ và tiến hành tranh tụng có nội dung được tóm tắt như sau: Việc Tòa án cấp sơ thẩm cho bị cáo được hưởng 03 tình tiết giảm nhẹ tại các điểm b, e, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự là có căn cứ. Việc buộc bị cáo phải bồi thường 3.964.423 đồng là phù hợp với thực tế. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị hại.
  • - Bị cáo Q nhất trí với ý kiến tranh luận của người bào chữa, không bổ sung gì thêm. Khi nói lời sau cùng bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị hại.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Đơn kháng cáo của bị hại Phạm Văn V nộp cho Tòa án trong thời hạn luật định và hợp lệ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận xem xét theo trình tự phúc thẩm.

[2] Về nội dung:

[2. 1] Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như bản án sơ thẩm đã tuyên. Lời khai của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án nên có đủ cơ sở kết luận:

Sáng ngày 28/10/2023 tại thôn G, xã M, huyện Y, tỉnh Yên Bái, do mâu thuẫn trong việc tranh chấp đất đai giữa gia đình anh V và gia đình bị cáo Q nên anh V đã dùng 01 thanh kim loại chọc vào bức tường mà bị cáo Q đang xây làm 0,2 m² tường xây gạch chỉ bị bung ra. Thấy vậy, Q đã dùng gạch ném về phía anh V trong đó có một viên trúng vào trán bên phải của anh V, gây tỷ lệ tổn thương cơ thể là 02%. Bị cáo Q là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc dùng gạch ném vào người khác sẽ gây nguy hiểm đến sức khỏe và là hành vi vi phạm pháp luật những vẫn cố ý thực hiện nên việc Tòa án cấp sơ thẩm tuyên bố bị cáo Phạm Viết Q phạm tội “Cố ý gây thương tích” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

[2. 2] Xét kháng cáo của bị hại về việc đề nghị xem xét lại các tình tiết giảm nhẹ mà bị cáo được hưởng, Hội đồng xét xử thấy rằng:

Trong quá trình điều tra, bị cáo Q không thừa nhận hành vi phạm tội của mình nhưng tại phiên tòa sơ thẩm mở ngày 23/5/2024 và tại phiên tòa sơ thẩm mở ngày 17-6-2024 bị cáo đều đã thành khẩn khai báo. Mặt khác, bị cáo còn tác động để vợ bị cáo nộp 3.000.000 đồng tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Yên Bình để bồi thường cho bị hại (Biên lai thu tiền số: AA/2023/0001198 ngày 14/6/2024 – Bút lục số 509) nên việc Tòa án cấp sơ thẩm cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại các điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự là có căn cứ. Tuy nhiên, trong trường hợp này cần xác định bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đã tự nguyện bồi thường thiệt hại mới chính xác. Bản án sơ thẩm nhận định bị cáo đã tự nguyện khắc phục hậu quả là chưa phù hợp. Mặt khác, bản án sơ thẩm cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm e khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự là có phần còn khiên cưỡng bởi nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn giữa hai bên bắt đầu từ việc bị cáo đã xây lấn sang đất của gia đình anh V. Vì vậy, kháng cáo của bị hại được Hội đồng xét xử chấp nhận một phần.

[2. 3] Đối với kháng cáo của bị hại đề nghị buộc bị cáo phải bồi thường thu nhập thực tế bị mất của 40 ngày sau khi ra viện với số tiền 21.800.000 đồng, Hội đồng xét xử thấy:

Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét đầy đủ các khoản chi phí để bồi thường thiệt hại cho bị hại theo quy định tại khoản 1 Điều 590 Bộ luật Dân sự, bao gồm các khoản chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, điều trị; thu nhập thực tế bị mất của bị hại, của người chăm sóc bị hại trong thời gian điều trị; tiền bồi thường về số tài sản bị hư hỏng do hành vi của bị cáo gây ra. Tại bệnh án ngoại khoa do Bệnh viện Đa khoa tỉnh Đ lập ngày 31/10/2023 ở phần tổng kết bệnh án (BL 73) đã xác định: “Tình trạng người bệnh khi ra viện: Ôn định”. Trong bệnh án, bác sỹ không chỉ định sau khi ra viện người bệnh phải nghỉ ngơi trong thời gian bao lâu. Mặt khác, anh V cũng không cung cấp được các tài liệu, chứng cứ chứng minh cho yêu cầu này nên việc Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu đòi bồi thường 40 ngày công sau khi ra viện của bị hại là có căn cứ. Hơn nữa, theo Hợp đồng lao động lập ngày 30/12/2022 giữa Công ty Cổ phần M và anh V (BL 510, 511) thì mức lương mà Công ty Cổ phần M trả cho anh V là 330.000 đồng/ngày nên việc anh V yêu cầu khoản thu nhập thực tế bị mất với mức 545.000 đồng/ngày là chưa phù hợp. Việc Tòa án cấp sơ thẩm quyết định bị cáo Q phải bồi thường cho bị hại khoản thu nhập thực tế bị mất trong thời gian điều trị tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Đ là 330.000 đồng x 4 ngày = 1.320.000 đồng là thỏa đáng, phù hợp với điểm b khoản 1 Điều 590 Bộ luật Dân sự.

[2. 4] Đối với kháng cáo của bị hại đề nghị buộc bị cáo phải bồi thường tổn thất về tinh thần với số tiền 15.000.000 đồng, Hội đồng xét xử thấy:

Theo khoản 2 Điều 590 Bộ luật Dân sự thì bị cáo còn phải bồi thường cho bị hại một khoản tiền để bù đắp tổn thất về tinh thần. Đây là yêu cầu chính đáng, phù hợp với pháp luật nên cần được chấp nhận. Tuy nhiên, do thiệt hại mà bị cáo gây ra cho bị hại không lớn nên cũng cần xem xét mức độ bồi thường nhằm đảm bảo tương xứng với tổn thất tinh thần mà bị hại đã gánh chịu.

[2. 5] Từ những phân tích như trên, Hội đồng xét xử thấy cần chấp nhận một phần kháng cáo của bị hại, sửa bản án sơ thẩm về việc áp dụng pháp luật và tăng mức bồi thường cho bị hại, cụ thể là:

  • - Về việc áp dụng pháp luật: Không cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm e khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Tuy nhiên, qua nghiên cứu hồ sơ thấy mức án mà Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên là phù hợp, hơn nữa bị hại cũng không kháng cáo tăng hình phạt nên cần giữ nguyên mức hình phạt đối với bị cáo.
  • - Về trách nhiệm dân sự: Ngoài việc phải bồi thường cho bị hại 3.964.423 đồng như án sơ thẩm đã tuyên, bị cáo còn phải bồi thường cho bị hại 5.000.000 đồng là tiền bù đắp tổn thất về tinh thần. Tổng số tiền bị cáo phải bồi thường là 8.964.423 đồng. Do bị cáo đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Yên Bình 3. 964.423 đồng nên còn phải bồi thường cho anh V 5.000.000 đồng.

[3] Về án phí: Mặc dù Tòa án cấp phúc thẩm có sửa về phần bồi thường thiệt hại nhưng do số tiền bị cáo còn phải bồi thường dưới 6.000.000 đồng nên việc chịu án phí dân sự sơ thẩm không thay đổi.

[4] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm về việc xử lý vật chứng, việc chịu án phí hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm b khoản 2 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Chấp nhận một phần kháng cáo của bị hại Phạm Văn V, sửa Bản án hình sự sơ thẩm số: 26/2024/HSST ngày 17-6-2024 của Tòa án nhân dân huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái về việc áp dụng pháp luật và về phần trách nhiệm dân sự như sau:

  • - Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 134; các điểm b, s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Phạm Viết Q 06 (S) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Thời hạn tù tính từ ngày 21-12-2023.
  • - Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng các Điều 584, 585, 586, 589, 590, 357, 468 của Bộ luật Dân sự.
  • Buộc bị cáo Q phải bồi thường cho anh Phạm Văn V 8.964.423 đồng. Xác nhận bị cáo Q đã nộp 3. 964.423 đồng tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Yên Bình (Biên lai thu tiền số: AA/2023/0001198 ngày 14/6/2024 và biên lai thu tiền số: A A/2023/0001231 ngày 23/8/2024) nên còn phải bồi thường là: 5.000.000 (Năm triệu) đồng.
  • Kể từ ngày anh V có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bị cáo Q còn phải chịu thêm khoản tiền lãi của số tiền phải thi hành án với mức lãi suất quy định tại Điều 468 Bộ luật Dân sự.
  • - Về án phí dân sự sơ thẩm: Bị cáo Q phải nộp 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng.

2. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm về xử lý vật chứng, việc chịu án phí hình sự sơ thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

3. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND cấp cao tại Hà Nội;
  • - Vụ GĐKT1 – TANDTC;
  • - VKSND tỉnh Yên Bái;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Yên Bái;
  • - Phòng HSNV Công an tỉnh Yên Bái;
  • - TA, KS, CA, THADS huyện Yên Bình;
  • - Bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - Người bào chữa;
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
  • - Lưu HS + THA+ HCТР.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà

(Đã ký)

Trần Trung Hải

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 23/2024/HS-PT ngày 29/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH YÊN BÁI về hình sự phúc thẩm về tội cố ý gây thương tích

  • Số bản án: 23/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm về tội Cố ý gây thương tích
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 29/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH YÊN BÁI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Sửa bản án sơ thẩm, quyết định xử phạt bị cáo Phạm Viết Q 6 tháng tù về tội "Cố ý gây thương tích" và phải bồi thường cho bị hại Phạm Văn V 8.964.423 đồng
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger