Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TUY ĐỨC

TỈNH ĐẮK NÔNG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 23/2024/HSST

Ngày 29 - 04 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUY ĐỨC, TỈNH ĐẮK NÔNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Quang Trung.

Các hội thẩm nhân dân: Ông Vũ Đức Minh và ông Nguyễn Đăng Hưng.

Thư ký phiên tòa: Ông Điểu Smi – Thư ký Toà án nhân dân huyện Tuy Đức.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Đức tham gia phiên toà: Bà Dương Thị Thu Hường – Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tuy Đức, tỉnh Đắk Nông mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 17/2024/HSST ngày 15/3/2024; theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 17/2024/QĐXXST-HS ngày 26/3/2024 đối với bị cáo:

Nguyễn T, tên gọi khác: Không; sinh năm 1991 tại tỉnh Đắk Nông; nơi đăng ký thường trú: B’Đơr B, xã Q, huyện T, tỉnh Đắk Nông; trình độ học vấn: 05/12; nghề nghiệp: Làm nông; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Nguyễn M (đã chết) và bà Bùi Thị H, sinh năm 1960; có vợ Bùi Thị L (đã chết) và 02 con (lớn sinh năm 2012, nhỏ sinh năm 2014);

Nhân thân: Ngày 27/01/2011, bị Tòa án nhân dân huyện Tuy Đức xử phạt 04 tháng tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo khoản 1 Điều 250 của Bộ luật hình sự năm 1999; đã chấp hành xong và được xóa án tích

Tiền án, tiền sự: Không; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú – có mặt.

Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn T:

  • - Bà Bùi Thị H – Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp viên pháp lý Nhà nước tỉnh Đắk Nông – có đơn xét xử vắng mặt.
  • - Bà Nguyễn Thị X – Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp viên pháp lý Nhà nước tỉnh Đắk Nông – có mặt.

Bị hại: Ông Liêu Quốc C, sinh năm 1994; Địa chỉ: Bon Bu N' Đ, xã Q, huyện T, tỉnh Đắk Nông – có đơn xét xử vắng mặt.

Người làm chứng:

  • - Ông Nguyễn Ngọc A, sinh năm 1987; Địa chỉ: Bon Bu N' Đ, xã Q, huyện T, tỉnh Đắk Nông – vắng mặt.
  • - Ông Nguyễn Đức T1, sinh năm 1964; Địa chỉ: Bon Bu N' Đ, xã Q, huyện T, tỉnh Đắk Nông – vắng mặt.
  • - Ông Phạm Văn P, sinh năm 1975; Địa chỉ: Bon Bu N' Đ, xã Q, huyện T, tỉnh Đắk Nông – vắng mặt.
  • - Bà Phạm Thị T2, sinh năm 1977; Địa chỉ: Bon Bu N ' Đ, xã Q, huyện T, tỉnh Đắk Nông – vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 18 giờ ngày 17/10/2023, Nguyễn T cùng Liêu Quốc C (sinh năm 1994), Nguyễn Tuấn A1, Nguyễn Ngọc A (sinh năm 1987) cùng trú tại bon Bu N'Đơr A, xã Đ, huyện T và Nguyễn Văn Đ (sinh năm 1990) trú tại bon B, xã Đ, huyện T tổ chức ăn nhậu tại nhà Ngọc A.

Sau đó, Tuấn Al về nhà nghỉ còn C, T, Ngọc AĐ rủ nhau đến quán tạp hóa của ông Phạm Văn P tại B’Đơr A, xã Đ, huyện T để nhậu tiếp và đánh bài giải trí. Khi đến nhà ông P, T cùng mọi người ngồi đánh bài và uống bia ở giữa sân nhà, còn C sang nhà ông Nguyễn Đức T1 (là bố vợ của C) sát vách nhà ông P rót một ly rượu mang qua ngồi cùng. Khoảng 22 giờ cùng ngày, giữa TĐ xảy ra mâu thuẫn, Đ chạy sang nhà ông T1 lấy 01 con dao rồi quay lại xông từ ngoài cửa vào vị trí của T để đâm T, được ông T1, CNgọc A can ngăn, đẩy về phía ngoài đường nên Đ điều khiển xe mô tô bỏ về trước. Bức xúc với hành vi của C nên T đã dùng tay phải cầm ly rượu trên bàn (loại ly thủy tinh, có quai, cao khoảng 10cm, đường kính khoảng 8cm) đánh 01 phát theo hướng từ phải sang trái trúng vào vùng mặt của C gây thương tích, đồng thời chiếc ly cũng bị bể và rơi xuống đất. Thấy C bị đánh, ông T1 tiến đến kéo T ra phía góc sân rồi dùng tay phải đấm 01 cái trúng vào má trái của T và dùng cùi chỏ tay đánh hai phát vào lưng của T; Ngọc A cũng dùng hai tay đánh vào người T (không rõ vị trí và không xác định được đánh bao nhiêu cái), C cầm 01 điếu cầy (bằng kim loại, màu bạc, đài 50cm, đường kính 05cm) đánh về phía T nhưng không trúng. Sau đó ông P và anh M1 can ngăn nên T vùng bỏ chạy ra ngoài đường. Thấy vậy, CNgọc A tiếp tục đuổi theo đánh T, Ngọc A đấm khoảng 01-02 cái vào sau lưng T rồi hai bên giằng co nhau. Lúc này, C chạy về nhà ông T1 lấy 01 chiếc kéo (bằng kim loại, dài khoảng 20cm) đang treo trên hàng rào trước nhà chạy đến đuổi theo T đâm 01 nhát trúng vào bả vai trái của T gây thương tích. T tiếp tục chạy trốn ra sau vườn rồi gọi điện báo sự việc cho Công an xã Đ, đồng thời nhờ người quen đưa đi sơ cứu tại Trung tâm Y tế huyện Đ. C cũng được người nhà đưa đi cấp cứu tại Trung tâm Y tế huyện Đ. Ngày 18/10/2023, Công an xã Đ đã chuyển hồ sơ tin báo tố giác tội phạm đến Cơ quan Cơ quan cảnh sát điều tra huyện T giải quyết theo thẩm quyền.

Tại Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 268/KLTTCT-TTPY ngày 08/11/2023 của Trung tâm pháp y thuộc Sở y tế tỉnh Đ, kết luận Liêu Quốc C bị:

  • + Gãy xương chỉnh mũi không ảnh hưởng chức năng thở, tỷ lệ 07%.
  • + 01 sẹo phần mềm vùng trán trái kích thước nhỏ (sẹo vùng mặt), tỷ lệ 2,79%.
  • + 01 sẹo từ cánh mũi phải đến môi trên bên trái kích thước trung bình (sẹo vùng mặt), tỷ lệ 5,41%.
  • + Kết quả X/quang xương chính mũi: Gây xương chính mũi.

Căn cứ vào Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y quy định về tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Liêu Quốc C tại thời điểm giám định là: 15%; Các tổn thương vùng mặt của Liêu Quốc C do bị vật tày có cạnh tác động trực tiếp gây nên.

Cáo trạng số 20/CTr-VKS ngày 14/3/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Đức đã truy tố bị cáo Nguyễn T về tội “Cố ý gây thương tích” quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Đức sau khi phân tích tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đã xác định: Khoảng 22 giờ ngày 17/10/2023, tại khu vực sân quán tạp hóa của gia đình ông Phạm Văn P thuộc khu vực bon Bu N’Đơr A, xã Đ, huyện T, tỉnh Đắk Nông, Nguyễn T đã có hành vi dùng ly thủy tinh đánh 01 phát trúng vào vùng mặt của Liêu Quốc C gây thương tích với tỷ lệ 15% (mười lăm phần trăm). Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Đức vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Trọng phạm t “Cố ý gây thương tích”. Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật hình sự; điểm b, s khoản 1; khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn T từ 02 năm tù đến 02 năm 06 tháng tù.

Xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, điểm a khoản 1 Điều 46, điểm a khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự: Tịch thu tiêu hủy các mảnh vỡ thủy tỉnh; chấp nhận việc Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T trả lại 01 điếu cày bằng kim loại, dài 50cm, đường kính 05cm, màu bạc cho ông Phạm Văn P là chủ sở hữu hợp pháp.

Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra bị cáo Nguyễn T đã bồi thường cho người bị hại Liêu Quốc C số tiền 2.000.000 đồng; bị hại không yêu cầu bồi thường gì thêm nên không đề cập giải quyết.

Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn T trình bày: Đồng ý với các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Đức đề nghị áp dụng đối với bị cáo; đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 54 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt và miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn T đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như tại Cơ quan điều tra và thừa nhận Cáo trạng của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Đức truy tố bị cáo về tội Cố ý gây thương tích theo điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật hình sự là đúng, không oan; bị cáo không bào chữa gì về hành vi pham tội của mình mà chỉ đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện T, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với tài liệu, chứng cứ được thu thập lưu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra công khai tại phiên tòa và phù hợp với các tình tiết khách quan của vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ để kết luận: Xuất phát từ việc bực tức bị anh Liêu Quốc C chửi bới thách thức đánh nhau tại sân quán tạp hóa gia đình ông Phạm Văn P nên vào khoảng 22 giờ ngày 17/10/2023, bị cáo Nguyễn T đã có hành vi dùng ly thủy tinh đánh 01 phát trúng vào vùng mặt của Liêu Quốc C gây thương tích với tỷ lệ 15% (mười lăm phần trăm), hành vi của bị cáo Nguyễn T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích” quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật hình sự.

Điều 134 Bộ luật hình sự quy định:

“1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

a) Dùng vũ khí, vật liệu nổ, hung khí nguy hiểm hoặc thủ đoạn có khả năng gây nguy hại cho nhiều người;

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 06 năm:

...

đ) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này”.

Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Đức truy tố bị cáo về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật hình sự là có căn cứ pháp luật.

[3] Xét tính chất vụ án do bị cáo Nguyễn T gây ra là nghiêm trọng; bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố tình thực hiện; hành vi ly thủy tinh đánh 01 phát trúng vào vùng mặt của anh Liêu Quốc C gây thương tích với tỷ lệ 15% (mười lăm phần trăm) đã trực tiếp xâm hại đến sức khỏe của người khác được pháp luật bảo vệ; gây mất trật tự trị an tại địa phương.

[4]. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; đã bồi thường cho anh C số tiền 20.000.000 đồng; gia đình bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, thuộc hộ nghèo; hành vi phạm tội của bị cáo do một phần lỗi của bị hại chởi bới, thách thức đánh bị cáo. Do đó, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s điểm r khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Kết hợp tình tiết giảm nhẹ nêu trên để Hội đồng xét xử xem xét, quyết định mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội trong một thời gian thì mới có tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo và răn đe phòng ngừa chung trong toàn xã hội.

[5] Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra bị cáo Nguyễn T đã bồi thường cho anh C số tiền 2.000.000 đồng; anh C không yêu cầu bồi thường gì thêm nên không xem xét giải quyết.

[6] Về vật chứng: Đối với các mảnh vỡ thủy tỉnh cần tiêu hủy; đối với 01 điếu cày bằng kim loại, dài 50cm, đường kính 05cm, màu bạc không liên quan đến vụ án nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T trả lại cho ông Phạm Văn P là đúng quy định tại Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, điểm a khoản 1 Điều 46, điểm a khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự.

[7]. Về án phí: Tại phiên tòa, người bào chữa xin miễn án phí cho bị cáo; Hội đồng xét xử xét thấy: Gia đình bị cáo thuộc hộ nghèo theo quy định tại Điều 12 Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14 nên có căn cứ để miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

[8]. Quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm theo quy định của pháp luật

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Trọng phạm t “Cố ý gây thương tích”.

1. Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1; khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn T 02 (hai) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.

2. Về vật chứng: Căn cứ Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, điểm a khoản 1 Điều 46, điểm a khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự; tịch thu tiêu hủy 09 mảnh vỡ thủy tinh; (Đặc điểm vật chứng theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 15/3/2024 giữa cơ quan Công an huyện T với Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tuy Đức).

Chấp nhận việc Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T trả lại 01 điếu cày bằng kim loại, dài 50cm, đường kính 05cm, màu bạc cho ông Phạm Văn P.

3. Về án phí: Căn cứ Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án, miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Nguyễn Trọng .

4. Quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.

Bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhân:

  • - TAND tỉnh Đắk Nông;
  • - VKSND tỉnh Đắk Nông;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Đắk Nông;
  • - Phòng PC 06, PC 10 - CA tỉnh Đắk Nông;
  • - VKSND huyện Tuy Đức;
  • - CA huyện Tuy Đức;
  • - Chi Cục THADS huyện Tuy Đức;
  • - Bị cáo; đương sự;
  • - Lưu, HS.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

Phan Quang Trung

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 23/2024/HSST ngày 29/04/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUY ĐỨC, TỈNH ĐẮK NÔNG về cố ý gây thương tích (hình sự)

  • Số bản án: 23/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích (Hình sự)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUY ĐỨC, TỈNH ĐẮK NÔNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Cố ý gây thương tích
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger