Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CHƯƠNG MỸ

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 23/2023/KDTM-ST

Ngày: 28/8/2023

V/v: Tranh chấp hợp đồng tín dụng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƯƠNG MỸ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Tưởng Ngọc Tuấn

Các hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Tiến Lợi

Bà Nguyễn Thị Liên

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thảo - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Chương Mỹ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chương Mỹ tham gia phiên tòa:

Bà Triệu Thị Hồng - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chương Mỹ, Thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án Kinh doanh thương mại thụ lý số 07/2022/KDTMST ngày 17 tháng 01 năm 2022 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 22/2023/QĐXXST-KDTM ngày 29 tháng 3 năm 2023 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP X

Trụ sở chính: Tầng 8, Văn phòng số L+16 Tòa nhà V, số G L, phường B, quận A, Thành phố Hồ Chí Minh. Đại diện theo pháp luật: ông Lê Văn Q – chức vụ: Chủ tịch Hội đồng thành viên. Đại diện theo ủy quyền: ông Trần Minh T – chức vụ: Giám đốc Khối Quản lý rủi ro. Đại diện theo ủy quyền tham gia tố tụng: ông Vũ Anh T1 – Cán bộ Ngân hàng.

Bị đơn:

Phạm Thị D, sinh năm 1979

Ông Nguyễn Trường P, sinh năm 1974

Đều trú tại: tổ dân phố X, thị trấn X, C, Hà Nội.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

Phan Thị Hoàng L, sinh năm 1964

Trú tại: số nhà A, tổ D, tổ dân phố X, thị trấn X, huyện C, Hà Nội.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

1. Theo đơn khởi kiện, quá trình tiến hành tố tụng đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:

1.1. Về nội dung của hợp đồng tín dụng:

E và bà Phạm Thị D – là chủ hộ kinh doanh Phạm Thị D đã ký hợp đồng tín dụng số 1703-LAV- 201102082 ngày 02/6/2011; Biên bản sửa đổi, bổ sung Hợp đồng tín dụng ngày 02/3/2012; Phụ lục Hợp đồng tín dụng từng lần ngày 22/5/2012. Bà Phạm Thị D đã nhận nợ bằng khế ước số 1703-LDS-201102286 ngày 02/6/2011 với nội dung cụ thể như sau: Số tiền vay: 2.200.000.000 đồng (Hai tỷ hai trăm triệu đồng chẵn); Mục đích vay: Kinh doanh đồ gỗ; Thời hạn vay: 09 tháng kể từ ngày 02/6/2011 đến ngày 02/3/2012; Lịch trả gốc: Trả 01 lần khi đáo hạn khoản vay; Lịch trả lãi: Hàng tháng vào ngày 02; Lãi suất vay: 24%/năm; Lãi suất quá hạn: 150% lãi suất vay.

Tính đến ngày 28/8/2023, bà Phạm Thị D đã trả cho E số tiền 353.251.823 đồng; Trong đó: Nợ lãi là: 353.251.823 đồng; Nợ gốc: 0 đồng.

1.2. Tài sản bảo đảm:

Để đảm bảo cho khoản vay trên của Bà Phạm Thị D tại E, Bà Phạm Thị D đã sử dụng tài sản thế chấp sau:

Quyền sử dụng đất và Tài sản khác gắn liền với đất diện tích 61,4m² tại thửa đất số: 07; Tờ bản đồ số: 59; Địa chỉ: Khu Phố, thị trấn X, huyện C, thành phố Hà Nội. Theo Giấy chứng nhận QSDĐ số A0 040078 do UBND huyện C cấp ngày 26/12/2008 cấp cho hộ bà Phạm Thị D và ông Nguyễn Trường P. Theo Hợp đồng thế chấp số 3443 HĐTC.2011/HĐTC quyển số: 02 TP/CC-SCC/ HĐGD được công chứng tại Phòng C, ngày 01/6/2011.

Phụ lục Hợp đồng thế chấp số 624.2012/PL ngày 13/3/2012 lập tại Phòng công chứng số G thành phố Hà Nội.

Đăng ký giao dịch bảo đảm tại Văn phòng đăng ký đất và nhà huyện C ngày 01/6/2011 số 1114 quyển số 01.

Đăng ký giao dịch bảo đảm bổ sung tại Văn phòng đăng ký đất và nhà huyện C ngày 15/3/2012 số 221 quyển số 01.

1.3. Quá trình thực hiện hợp đồng:

Phạm Thị D đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán, không thực hiện đúng việc trả lãi và gốc như đã cam kết, khoản nợ của bà Phạm Thị D đã chuyển nợ quá hạn.

E đã nhiều lần làm việc với bà Phạm Thị D yêu cầu trả nợ. Tuy nhiên, bà Phạm Thị D vẫn chưa thanh toán nợ cho E.

Khoản nợ của bà Phạm Thị D tại Ngân hàng TMCP X – CN Đống Đa là nợ được chuyển vào nhóm nợ xấu của Ngân hàng cần phải xử lý để thu hồi nợ.

Ngày 02/11/2011, E đã chuyển khoản nợ trên sang nợ quá hạn.

Tính đến hết ngày 28/8/2023, bà Phạm Thị D còn phải thanh toán cho Ngân hàng TMCP X số tiền là: 7.068.449.454 đồng; Trong đó: Nợ gốc: 2.200.000.000 đồng; Nợ lãi trong hạn là: 1.060.013.620 đồng; Nợ lãi quá hạn là: 3.808.435.834 đồng.

1.4. Quan điểm, yêu cầu khởi kiện:

Ngân hàng TMCP X kính đề nghị Tòa án nhân dân huyện Chương Mỹ xem xét giải quyết:

Buộc bà Phạm Thị D thanh toán toàn bộ nợ vay cho Ngân hàng TMCP X theo Hợp đồng tín dụng số 1703-LAV- 201102082 ngày 02/6/2011; Biên bản sửa đổi, bổ sung Hợp đồng tín dụng ngày 02/3/2012; Phụ lục Hợp đồng tín dụng từng lần ngày 22/5/2012. Tính đến ngày 28/8/2023, bà Phạm Thị D phải trả cho E số tiền: 7.068.449.454 đồng; Trong đó: Nợ gốc: 2.200.000.000 đồng; Nợ lãi trong hạn là: 1.060.013.620 đồng; Nợ lãi quá hạn là: 3.808.435.834 đồng. E yêu cầu trả ngay khi Bản án có hiệu lực.

Tiền lãi tiếp tục được tính từ ngày 29/8/2023 cho đến khi bà Phạm Thị D thanh toán xong nợ cho Ngân hàng TMCP X theo mức lãi suất thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng; Biên bản sửa đổi, bổ sung Hợp đồng tín dụng; Phụ lục Hợp đồng tín dụng từng lần; Hợp đồng tín dụng kiêm khế ước nhận nợ đã ký.

Trường hợp bà Phạm Thị D không trả nợ hoặc trả nợ không đầy đủ cho Ngân hàng TMCP X thì Ngân hàng TMCP X có quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền phát mại tài sản thế chấp sau để thu nợ, cụ thể như sau:

Quyền sử dụng đất và Tài sản khác gắn liền với đất diện tích 61,4m² tại thửa đất số: 07; Tờ bản đồ số: 59; Địa chỉ: Khu Phố, thị trấn X, huyện C, thành phố Hà Nội. Theo Giấy chứng nhận QSDĐ số A0 040078 do UBND huyện C cấp ngày 26/12/2008 cấp cho hộ bà Phạm Thị D và ông Nguyễn Trường P.

Nếu tài sản bảo đảm cho khoản vay khi phát mại vẫn không đủ để thu hồi nợ cho Ngân hàng TMCP X thì bà Phạm Thị D tiếp tục có nghĩa vụ thanh toán cho đến khi trả xong nợ vay theo đúng Hợp đồng tín dụng đã ký với E.

Phạm Thị D phải chịu án phí và các chi phí tố tụng theo quy định của pháp luật và các thỏa thuận của Hợp đồng tín dụng đã ký với E.

2. Theo Biên bản lấy lời khai của Bị đơn là bà Phạm Thị D trình bày như sau:

Tòa án đã triệu tập hợp lệ Bị đơn nhưng Bị đơn không lên trụ sở Tòa án để làm việc. Quá trình làm việc, Tòa án tiến hành xuống địa phương và lấy lời khai của Bị đơn. Theo Biên bản lấy lời khai, Bị đơn – bà Phạm Thị D xác nhận bà và chồng là ông Nguyễn Trường P có ký kết Hợp đồng tín dụng để vay số tiền như Ngân hàng trình bày là đúng. Bà xác nhận vợ chồng có ký kết Hợp đồng thế chấp để thế chấp tài sản bảo đảm cho khoản vay là toàn bộ Quyền sử dụng đất và tài sản khác gắn liền với đất tại thửa đất số 07, tờ bản đồ số 59, tại khu Phố, thị trấn X, huyện C cấp ngày 26/12/2008 cho hộ bà Phạm Thị D và ông Nguyễn Trường P.

Nay Ngân hàng nộp đơn khởi kiện, quan điểm của bà là đề nghị Ngân hàng miễn toàn bộ lãi suất và cho trả dần phần gốc để tạo điều kiện trả nợ lấy lại Bìa đỏ về cho gia đình. Hiện tại, gia đình không có chỗ ở nào khác để ở.

3. Theo Bản tự khai, Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trình bày:

Phan Thị Hoàng L xác nhận có biết việc bà P1 và ông P thế chấp thửa đất để vay vốn Ngân hàng. Tuy nhiên, việc vay vốn số tiền là bao nhiêu thì bà không biết. Hiện trên thửa đất là công trình do bà xây dựng từ trước khi thế chấp, nhưng hiện không có ai đang sinh sống hay kinh doanh gì trên thửa đất thế chấp.

4. Ý kiến trình bày của đương sự tại phiên tòa:

4.1. Ý kiến của nguyên đơn:

Giữ nguyên các yêu cầu khởi kiện, cụ thể:

Buộc bà Phạm Thị D thanh toán toàn bộ nợ vay cho Ngân hàng TMCP X theo Hợp đồng tín dụng số 1703-LAV- 201102082 ngày 02/6/2011; Biên bản sửa đổi, bổ sung Hợp đồng tín dụng ngày 02/3/2012; Phụ lục Hợp đồng tín dụng từng lần ngày 22/5/2012. Tính đến ngày 28/8/2023, bà Phạm Thị D phải trả cho E số tiền: 7.068.449.454 đồng; Trong đó: Nợ gốc: 2.200.000.000 đồng; Nợ lãi trong hạn là: 1.060.013.620 đồng; Nợ lãi quá hạn là: 3.808.435.834 đồng. E yêu cầu trả ngay khi Bản án có hiệu lực.

Tiền lãi tiếp tục được tính từ ngày 29/8/2023 cho đến khi bà Phạm Thị D thanh toán xong nợ cho Ngân hàng TMCP X theo mức lãi suất thỏa thuận trong

Hợp đồng tín dụng; Biên bản sửa đổi, bổ sung Hợp đồng tín dụng; Phụ lục Hợp đồng tín dụng từng lần; Hợp đồng tín dụng kiêm khế ước nhận nợ đã ký.

Trường hợp bà Phạm Thị D không trả nợ hoặc trả nợ không đầy đủ cho Ngân hàng TMCP X thì Ngân hàng TMCP X có quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền phát mại tài sản thế chấp sau để thu nợ, cụ thể như sau:

Quyền sử dụng đất và Tài sản khác gắn liền với đất diện tích 61,4m² tại thửa đất số: 07; Tờ bản đồ số: 59; Địa chỉ: Khu Phố, thị trấn X, huyện C, thành phố Hà Nội. Theo Giấy chứng nhận QSDĐ số A0 040078 do UBND huyện C cấp ngày 26/12/2008 cấp cho hộ bà Phạm Thị D và ông Nguyễn Trường P.

Nếu tài sản bảo đảm cho khoản vay khi phát mại vẫn không đủ để thu hồi nợ cho Ngân hàng TMCP X thì bà Phạm Thị D tiếp tục có nghĩa vụ thanh toán cho đến khi trả xong nợ vay theo đúng Hợp đồng tín dụng đã ký với E.

Phạm Thị D phải chịu án phí và các chi phí tố tụng theo quy định của pháp luật và các thỏa thuận của Hợp đồng tín dụng đã ký với E.

4.2. Ý kiến của Bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

  • + Bị đơn vắng mặt nên không ghi nhận ý kiến.
  • + Ý kiến của Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên phát mại tài sản thế chấp để xử lý khoản vay. Đề nghị giải quyết theo quy định pháp luật.

5. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chương Mỹ phát biểu ý kiến tại phiên tòa:

Về việc tuân theo pháp luật về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, những người tiến hành tố tụng đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Các đương sự đã được Tòa án yêu cầu tham gia đúng và đầy đủ quyền, nghĩa vụ tố tụng của họ. Nguyên đơn chấp hành quyền và nghĩa vụ tố tụng. Tuy nhiên, bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không chấp hành quyền, nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung: Đề nghị chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, cụ thể:

Buộc bà Phạm Thị D thanh toán toàn bộ nợ vay cho Ngân hàng TMCP X theo Hợp đồng tín dụng số 1703-LAV- 201102082 ngày 02/6/2011; Biên bản sửa đổi, bổ sung Hợp đồng tín dụng ngày 02/3/2012; Phụ lục Hợp đồng tín dụng từng lần ngày 22/5/2012. Tính đến ngày 28/8/2023, bà Phạm Thị D phải trả cho E số tiền: 7.068.449.454 đồng; Trong đó: Nợ gốc: 2.200.000.000 đồng; Nợ lãi trong hạn là: 1.060.013.620 đồng; Nợ lãi quá hạn là: 3.808.435.834 đồng. E yêu cầu trả ngay khi Bản án có hiệu lực.

Tiền lãi tiếp tục được tính từ ngày 29/8/2023 cho đến khi bà Phạm Thị D thanh toán xong nợ cho Ngân hàng TMCP X theo mức lãi suất thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng; Biên bản sửa đổi, bổ sung Hợp đồng tín dụng; Phụ lục Hợp đồng tín dụng từng lần; Hợp đồng tín dụng kiêm khế ước nhận nợ đã ký.

Trường hợp bà Phạm Thị D không trả nợ hoặc trả nợ không đầy đủ cho Ngân hàng TMCP X thì Ngân hàng TMCP X có quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền phát mại tài sản thế chấp sau để thu nợ, cụ thể như sau:

Quyền sử dụng đất và Tài sản khác gắn liền với đất diện tích 61,4m² tại thửa đất số: 07; Tờ bản đồ số: 59; Địa chỉ: Khu Phố, thị trấn X, huyện C, thành phố Hà Nội. Theo Giấy chứng nhận QSDĐ số A0 040078 do UBND huyện C cấp ngày 26/12/2008 cấp cho hộ bà Phạm Thị D và ông Nguyễn Trường P.

Nếu tài sản bảo đảm cho khoản vay khi phát mại vẫn không đủ để thu hồi nợ cho Ngân hàng TMCP X thì bà Phạm Thị D tiếp tục có nghĩa vụ thanh toán cho đến khi trả xong nợ vay theo đúng Hợp đồng tín dụng đã ký với E.

Phạm Thị D phải chịu án phí và các chi phí tố tụng theo quy định của pháp luật và các thỏa thuận của Hợp đồng tín dụng đã ký với E.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

Về thẩm quyền giải quyết: Bị đơn là bà Phạm Thị D và ông Nguyễn Trường P có hộ khẩu thường trú và thường xuyên sinh sống tại thị trấn X, huyện C, thành phố Hà Nội. Ngân hàng E khởi kiện, Tòa án nhân dân huyện Chương Mỹ thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại Điều 30, Điều 35, Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

[2] Về nội dung.

2.1. Xét yêu cầu về quan hệ tín dụng:

Ngày 02/6/2011, E và bà Phạm Thị D, ông Nguyễn Trường P đã ký hợp đồng tín dụng số 1703-LAV- 201102082; Biên bản sửa đổi, bổ sung Hợp đồng tín dụng ngày 02/3/2012; Phụ lục Hợp đồng tín dụng từng lần ngày 22/5/2012. Bà Phạm Thị D đã nhận nợ bằng khế ước số 1703-LDS-201102286 ngày 02/6/2011 với nội dung cụ thể như sau: Số tiền vay: 2.200.000.000 đồng (Hai tỷ hai trăm triệu đồng chẵn); Mục đích vay: Kinh doanh đồ gỗ; Thời hạn vay: 09 tháng kể từ ngày 02/6/2011 đến ngày 02/3/2012; Lịch trả gốc: Trả 01 lần khi đáo hạn khoản

vay; Lịch trả lãi: Hàng tháng vào ngày 02; Lãi suất vay: 24%/năm; Lãi suất quá hạn: 150% lãi suất vay.

Nội dung của hợp đồng tín dụng nêu trên tuân thủ quy định của pháp luật. Nên xác định Hợp đồng tín dụng có hiệu lực pháp luật và các bên phải thực hiện quyền, nghĩa vụ của mình theo thoả thuận của Hợp đồng.

Thực hiện đúng Hợp đồng tín dụng, Ngân hàng E đã giải ngân cho bà D, ông P đủ số tiền 2.200.000.000 đồng. Như vậy E đã thực hiện đúng thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng.

Phạm Thị D, ông Nguyễn Trường P không thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo cam kết, vi phạm các nội dung thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng. Như vậy bà D, ông P đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ và bị xác định là vi phạm hợp đồng. Do đó E khởi kiện đề nghị buộc bà D, ông P phải trả toàn bộ số tiền nợ lãi trong hạn, nợ lãi quá hạn theo Hợp đồng tín dụng và Khế ước nhận nợ kèm theo là có căn cứ pháp luật, được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Căn cứ bảng thống kê chi tiết về khoản nợ theo Hợp đồng tín dụng do nguyên đơn cung cấp; căn cứ quy định tại Điều 342, 343, 355, 357, 471, 474, 476 của Bộ luật Dân sự năm 2005; Điều 91, 95, 98 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010. Theo đó buộc bà D, ông P phải trả cho Ngân hàng E tổng số tiền nợ tạm tính đến ngày 28/08/2023 là: 7.068.449.454 đồng; Trong đó: Nợ gốc: 2.200.000.000 đồng; Nợ lãi trong hạn là: 1.060.013.620 đồng; Nợ lãi quá hạn là: 3.808.435.834 đồng.

Kể từ ngày 29/8/2023, bà Phạm Thị D, ông Nguyễn Trường P tiếp tục phải thanh toán khoản nợ lãi phát sinh trên dư nợ gốc theo mức lãi suất thỏa thuận Hợp đồng tín dụng số: 1703-LAV- 201102082 ngày 02/6/2011 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ.

2.2. Xét yêu cầu xử lý tài sản bảo đảm:

Kể từ ngày Bản án có hiệu lực pháp luật, bà Phạm Thị D, ông Nguyễn Trường P không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ thanh toán khoản nợ nêu trên và lãi phát sinh thì E có quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án tiến hành kê biên, phát mại tài sản bảo đảm của khoản vay để thu hồi toàn bộ khoản nợ cho E, tài sản bảo đảm là: Toàn bộ Quyền sử dụng đất và Tài sản khác gắn liền với đất diện tích 61,4m² tại thửa đất số: 07; Tờ bản đồ số: 59; Địa chỉ: Khu Phố, thị trấn X, huyện C, thành phố Hà Nội. Theo Giấy chứng nhận QSDĐ số A0 040078 do UBND huyện C cấp ngày 26/12/2008 cấp cho hộ bà Phạm Thị D và ông Nguyễn Trường P.

Toàn bộ số tiền thu được từ việc bán/xử lý tài sản bảo đảm được dùng để thanh toán nghĩa vụ trả nợ của bà Phạm Thị D, ông Nguyễn Trường P đối với E. Nếu số tiền thu được từ bán/xử lý tài sản bảo đảm không đủ thanh toán hết khoản nợ thì bà Phạm Thị D và ông Nguyễn Trường P vẫn phải có nghĩa vụ trả hết khoản nợ cho E.

Tài sản này được thế chấp tại V theo Hợp đồng thế chấp số 3443 HĐTC.2011/HĐTC quyển số: 02 TP/CC-SCC/ HĐGD được công chứng tại Phòng C, ngày 01/6/2011. Phụ lục Hợp đồng thế chấp số 624.2012/PL ngày 13/3/2012 lập tại Phòng công chứng số G thành phố Hà Nội. Đăng ký giao dịch bảo đảm tại Văn phòng đăng ký đất và nhà huyện C ngày 01/6/2011 số 1114 quyển số 01. Đăng ký giao dịch bảo đảm bổ sung tại Văn phòng đăng ký đất và nhà huyện C ngày 15/3/2012 số 221 quyển số 01. Việc thế chấp và đăng ký giao dịch bảo đảm theo đúng quy định của pháp luật. Vì vậy, đề nghị của Ngân hàng là có căn cứ pháp luật, được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[3] Về án phí: Yêu cầu khởi kiện của E được chấp nhận nên không phải chịu án phí, hoàn trả E số tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Phạm Thị D, ông Nguyễn Trường P phải chịu án phí Kinh doanh thương mại sơ thẩm.

Vì các lẽ trên!

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 342, 343, 355, 357, 471, 474, 476 của Bộ luật Dân sự năm 2005; Điều 113,130 Luật đất đai 2003; Điều 91, 95, 98 Luật các tổ chức tín dụng; Điều 30, Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng Dân sự.

Nghị định số 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 của Chính phủ về giao dịch bảo đảm và Nghị định số 11/2012/NĐ-CP ngày 22/02/2012 về việc sửa đổi, bổ sung Nghị định số 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 của Chính phủ về giao dịch bảo đảm;

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về thu nộp lệ phí án phí Tòa án;

Xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP X đối với bà Phạm Thị D và ông Nguyễn Trường P.

2. Về trách nhiệm trả nợ:

Buộc bà Phạm Thị D, ông Nguyễn Trường P phải thanh toán cho Ngân hàng TMCP X số tiền tính đến ngày 28/08/2023 là: 7.068.449.454 đồng (Bảy tỷ không trăm sáu mươi tám triệu bốn trăm bốn mươi chín nghìn bốn trăm lăm mươi bốn

đồng); Trong đó: Nợ gốc: 2.200.000.000 đồng; Nợ lãi trong hạn là: 1.060.013.620 đồng; Nợ lãi quá hạn là: 3.808.435.834 đồng.

Kể từ ngày 29/8/2023, bà Phạm Thị D và ông Nguyễn Trường P tiếp tục phải thanh toán khoản nợ lãi phát sinh trên dư nợ gốc theo mức lãi suất thỏa thuận Hợp đồng tín dụng số 1703-LAV- 201102082 ngày 02/6/2011 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ.

3. Về xử lý tài sản bảo đảm:

Kể từ ngày Bản án có hiệu lực pháp luật, bà Phạm Thị D và ông Nguyễn Trường P không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ thanh toán khoản nợ nêu trên và lãi phát sinh thì Ngân hàng TMCP X có quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án tiến hành kê biên, phát mại tài sản bảo đảm của khoản vay thu hồi toàn bộ khoản nợ cho Ngân hàng TMCP X, tài sản bảo đảm là: Toàn bộ Quyền sử dụng đất và Tài sản khác gắn liền với đất diện tích 61,4m² tại thửa đất số: 07; Tờ bản đồ số: 59; Địa chỉ: Khu Phố, thị trấn X, huyện C, thành phố Hà Nội. Theo Giấy chứng nhận QSDĐ số A0 040078 do UBND huyện C cấp ngày 26/12/2008 cấp cho hộ bà Phạm Thị D và ông Nguyễn Trường P.

Toàn bộ số tiền thu được từ việc bán/xử lý tài sản bảo đảm được dùng để thanh toán nghĩa vụ trả nợ của bà Phạm Thị D, ông Nguyễn Trường P đối với Ngân hàng TMCP X. Nếu số tiền thu được từ bán/xử lý tài sản bảo đảm không đủ thanh toán hết khoản nợ thì bà Phạm Thị D, ông Nguyễn Trường P vẫn phải có nghĩa vụ trả hết khoản nợ cho Ngân hàng TMCP X.

4. Về án phí:Phạm Thị D, ông Nguyễn Trường P phải chịu 57.534.225 đồng án phí Dân sự sơ thẩm.

Hoàn trả Ngân hàng TMCP X số tiền 56.000.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí AA/2020/0075207 ngày 07/01/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chương Mỹ, Tp ..

6. Về quyền kháng cáo:

Án xử công khai sơ thẩm. Nguyên đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết theo quy định.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a,7b và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân Tp. Hà Nội;
  • - VKSND huyện Chương Mỹ;
  • - Chi cục THADS huyện Chương Mỹ;
  • - Đương sự;
  • - Lưu VP/HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Tưởng Ngọc Tuấn

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Tiến Lợi

Nguyễn Thị Liên

Tưởng Ngọc Tuấn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 23/2023/KDTM-ST ngày 28/08/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƯƠNG MỸ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 23/2023/KDTM-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/08/2023
  • Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƯƠNG MỸ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger