|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM NÔNG TỈNH PHÚ THỌ Bản án số: 23/2024/HSST Ngày 28 tháng 6 năm 2024 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM NÔNG - TỈNH PHÚ THỌ
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- - Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Phùng Thị Kim N
- - Các hội thẩm nhân dân :
- Bà: Nguyễn Thị T;
- Ông: Nguyễn Đức K.
- - Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Hoàng Thị Thúy Minh - Cán bộ TAND huyện Tam Nông.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Nông tham gia phiên toà: Bà: Phạm Thị Thùy L - Kiểm sát viên
Ngày 28 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Tam Nông xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 25/2024/TLST-HS ngày 17 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 17/2024/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 6 năm 2024 đối với các bị cáo:
- Họ và tên: Lê Thị S, T1 gọi khác: Không; Giới tính: Nữ;
Sinh ngày 10/2/1994, tại huyện T, tỉnh Phú Thọ;
Nơi cư trú: Khu I, xã H, huyện T, tỉnh Phú Thọ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Văn hóa: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Bố đẻ: Lê Hải H (đã chết); Mẹ đẻ: Phùng Thị T2, sinh năm 1956; Chồng: Vũ Văn N1, sinh năm 1982; Con: Có 02 con (lớn 11 tuổi, nhỏ 05 tuổi); Tiền án; Tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 26/3/2024 đến ngày 29/3/2024. Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú tại xã H, huyện T, tỉnh Phú Thọ. (có mặt). - Họ và tên: Ngô Thị Hồng H1; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nữ;
Sinh ngày: 04/02/1967 tại huyện T, tỉnh Phú Thọ;
Nơi cư trú: Khu B, xã H, huyện T, tỉnh Phú Thọ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Văn hóa: 07/10; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Bố đẻ: Ngô Quang C, (đã chết); Mẹ đẻ: Bùi Thị H2, (đã chết); Chồng: Chu Văn S1, sinh năm 1963; Con: Có 02 con (lớn nhất 32 tuổi, nhỏ 29 tuổi); Tiền án, Tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 26/3/2024 đến ngày 29/3/2024. Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú tại xã H, huyện T, tỉnh Phú Thọ. (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 18 giờ 05 phút ngày 26/3/2024, tổ công tác của Phòng C1 Công an tỉnh P bắt quả tang Ngô Thị Hồng H1, sinh năm1967 ở khu B, xã H, huyện T, tỉnh Phú Thọ có hành vi mua bán số lô, số đề với Lê Thị S, sinh năm 1994, ở khu I xã H, huyện T, tỉnh Phú Thọ thông qua tin nhắn zalo với tổng số tiền khoảng 7.500.000đ (bảy triệu năm trăm nghìn đồng) khi H1 đang ở nhà tại khu B, xã H, huyện T, tỉnh Phú Thọ. Cơ quan CSĐT Công an tỉnh P đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Ngô Thị Hồng H1 và thu giữ 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO Reno 3 màu đen, lắp sim số thuê bao di động là 0559.556.967, 01 tờ giấy trên bề mặt có ghi các số và chữ bằng mực màu đen (bảng đề) và 01 chiếc bút bi, màu đen của H1 sử dụng để ghi số lô, số đề. Khám xét khẩn cấp chỗ ở H1 không thu giữ gì có liên quan.
Dựa trên lời khai của H1 và các tài liệu, chứng cứ có liên quan đã thu thập được, hồi 18 giờ 40 ngày 26/3/2024, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh P đã tiến hành giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với của Lê Thị S. Đồng thời thu giữ của S: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE 12, màu đen bên trong lắp sim số thuê bao di động 0967.918.456 và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE 14 Pro, màu xám, bên trong lắp sim số thuê bao di động 0984.918.456. Cùng ngày, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh P đã tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Lê Thị S thu giữ 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy J7 màu hồng bên trong lắp sim số thuê bao di động 0983.138.109 (S khai đây là chiếc điện thoại Sáu sử dụng để mua bán số lô, số đề với Ngô Thị Hồng H1).
Ngày 29/3/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh P đã khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với Lê Thị S và Ngô Thị Hồng H1 về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1, Điều 321, Bộ luật Hình sự. Quá trình điều tra xác định vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Cơ quan CSĐT Công an huyện T nên ngày 17/4/2024, Cơ quan CSĐT CA tỉnh P đã có công văn đề nghị và Viện KSND tỉnh P đã có Quyết định chuyển vụ án để điều tra theo thẩm quyền đối với vụ án nêu trên.
Quá trình điều tra, thu thập chứng cứ đã xác định được như sau:
Sáng ngày 25/3/2024, Ngô Thị Hồng H1 và Lê Thị S gặp nhau khi đi mua hàng ở chợ H3, huyện T, tỉnh Phú Thọ và đã bàn bạc với nhau về việc nếu có người mua số lô, đề thì H1 sẽ chuyển số lô, số đề cho S. Hai người thống nhất với nhau cách thức mua bán số lô đề, giá, cách thức thanh toán. Cụ thể như sau:
Các số lô, số đề là các số tự nhiên từ 00 đến 99, người chơi có thể ghi các số tự chọn với số tiền tùy ý. Sau khi mua, bán thì so sánh với kết quả Xổ số kiến thiết Miền B mở thưởng cùng ngày. Đối với số đề thì so sánh với hai số cuối của giải đặc biệt nếu trùng thì người chơi được số tiền gấp 70 lần số tiền đã mua. Số đề ba càng thì so sánh với ba số cuối của giải đặc biệt nếu trùng thì người chơi được số tiền gấp 350 lần số tiền đã mua. Đối với số lô thì so sánh với hai số cuối của tất cả các giải, một điểm lô mua, bán với giá là 23.000 đồng nếu trúng thì được số tiền là 80.000 đồng/điểm. Nếu trùng nhau nhiều lần thì nhân với số lần trùng nhau nhưng không quá 03 lần. Đối với lô xiên hai thì hai số lô mua đều phải trúng thì người chơi mới được tiền, một điểm lô xiên hai là 10.000 đồng, nếu trúng thì được số tiền gấp 10 lần. Đối với lô xiên ba thì ba số lô mua đều trúng thì người chơi mới được tiền, một điểm lô xiên ba là 10.000 đồng, nếu trúng thì được số tiền gấp 40 lần. Nếu thua thì người chơi sẽ mất toàn bộ số tiền đã mua. Các đối tượng thống nhất sẽ chuyển lô, đề thông qua tin nhắn zalo và sẽ thanh toán vào ngày hôm sau khi đã có kết quả xổ số kiến thiết Miền B. H1 và S không thoả thuận việc ai là thư ký mua bán số lô, đề, mà trực tiếp đánh bạc với nhau, không chiết khấu phần trăm hoa hồng cho nhau mà nếu thắng thì S sẽ cho H1 một chút tiền nhưng không thoả thuận cụ thể là bao nhiêu (Do lần đầu tiên thoả thuận mua bán số lô, đề nên các đối tượng không thoả thuận rõ ràng về nội dung này).
Sau khi thoả thuận với nhau như đã nêu trên thì khoảng gần 17 giờ ngày 26/3/2024 khi Ngô Thị Hồng H1 đang ở nhà thuộc khu B xã H, huyện T, Phú Thọ thì có hai người đàn ông đi xe mô tô bán rong (bán quả dừa) đi qua nhà nên H1 đã gọi vào mua hai quả dừa. Trong quá trình nói chuyện, hai người đàn ông này đã hỏi H1 xem có ai bán số lô, số đề không. H1 nói với hai người này H1 sẽ ghi hộ nếu họ đánh, hai người đàn ông đồng ý. Hai người này vừa nghe điện thoại vừa đọc cho H1 những số lô, số đề mua. H1 dùng một chiếc bút bi mực đen ghi những số lô, số đề đó vào hai tờ giấy (gọi là bảng đề). Bảng đề thứ nhất gồm các số lô, số đề với tổng số tiền trong bảng đề này là 3.030.000 đồng (ba triệu không trăm ba mươi nghìn đồng). Bảng đề thứ hai gồm các số lô, số đề với tổng số tiền trong bảng đề này là 5.085.000 đồng (năm triệu không trăm tám mươi lăm nghìn đồng). Tổng số tiền 02 người đàn ông trên mua số lô, đề của H1 là 8.115.000đ (tám triệu một trăm mười lăm nghìn đồng).
Sau khi mua xong, hai người đàn ông dùng điện thoại đi động chụp ảnh hai bảng đề để ghi nhớ, thanh toán tiền và rời đi. Sau đó, H1 sử dụng chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO Reno 3, màu đen của H1 chụp ảnh hai bảng đề trên rồi dùng tài khoản Zalo tên là “Ngô H1” gửi tin nhắn cho Lê Thị S, qua tài khoản zalo của S là “Hòa Bình” (Hải lưu tên trong danh bạ điện thoại của H1 là “Ns”). Sau đó, lúc 17 giờ 43 phút cùng ngày, H1 tự tính toán và nhắn tin qua zalo cho S mua thêm 05 số lô: 33, 44, 67, 76, 75 mỗi số mua 05 điểm, tổng là 25 điểm tương đương số tiền là 575.000 đồng (năm trăm bảy mươi lăm nghìn đồng). Sau mỗi tin nhắn H1 gửi cho S thì S đều đồng ý và nhắn tin lại trả lời xác nhận. Tổng số tiền H1 gửi mua số lô, số đề của S là 8.690.000 đồng (tám triệu sáu trăm chín mươi nghìn đồng). Đồng thời, S cũng gửi tin nhắn qua zalo mua của H1 số đề 67 với số tiền là 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng), H1 đồng ý và nhắn tin lại để xác nhận. Sau khi nhắn tin cho S thì H1 ghi thêm những số lô H1 mua thêm vào bảng đề trước đó đã chụp gửi cho S và tính toán số tiền, số điểm trên bảng đề ghi vào trong bảng đề đó. Sau đó, Công an tỉnh P bắt quả tang và thu giữ của H1 những đồ vật nêu trên, còn một bảng đề H1 trình bày đã bị cháu nhỏ xé và vứt đi nhưng không biết vứt ở đâu. Số tiền các đối tượng sử dụng để đánh bạc bằng hình thức mua bán số lô, số đề trong quá trình điều tra các đối tượng đã tự nguyện giao nộp cho Cơ quan điều tra.
Cơ quan điều tra Công an huyện T đã trả lại 02 chiếc điện thoại (Iphone 12, màu đen và Iphone 14 Pro, màu xám) là tài sản của Lê Thị S không liên quan đến hành vi mua bán số lô, đề.
Vật chứng vụ án đã thu giữ cần được chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tam Nông để chờ xử lý cùng vụ án gồm:
- - Số tiền 8.890.000 đồng (tám triệu tám trăm chín mươi nghìn đồng) tiền Ngân hàng N2 hiện đang được gửi tại tài khoản tạm giữ của Công an huyện T tại Kho bạc Nhà nước huyện T;
- - 01 chiếc điện thoại di động OPPO Reno 3 màu đen, 01 chiếc điện thoại di động S3 Galaxy J7 màu hồng (có đặc điểm như biên bản thu giữ).
- - 01 chiếc bút bi mực đen, loại bút bấm.
Tại bản cáo trạng số: 23/CT-VKSTN ngày 17 tháng 06 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện T, tỉnh Phú Thọ đã truy tố các bị cáo Lê Thị S và Ngô Thị Hồng H1 về tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1, Điều 321 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Nông thực hành quyền công tố nhà nước tại phiên toà vẫn giữ nguyên quan điểm như đã truy tố và đề nghị:
Về tội danh:
Tuyên bố các bị cáo Lê Thị S và Ngô Thị Hồng H1 phạm tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1, Điều 321 Bộ luật Hình sự.
- Hình phạt chính:
Áp dụng khoản 1, Điều 321; điểm i, s, khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 35 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Lê Thị S phạt tiền từ 30.000.000đ đến 35.000.000đ; bị cáo Ngô Thị Hồng H1 phạt tiền từ 25.000.000đ đến 30.000.000đ để sung công quỹ Nhà nước.
- Hình phạt bổ sung:
Theo quy định tại khoản 3 Điều 321 Bộ luật Hình sự thi “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000đ đến 50.000.000đ”. Do đã áp dụng hình phạt chính là hình phạt tiền nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
Về xử lý vật chứng:
Áp dụng điểm a, b, khoản 1, Điều 47 Bộ luật Hình sự, khoản 2, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự xử lý vật chứng gồm:
- + Tịch thu và tiêu hủy: 01 chiếc bút bi, màu đen, loại bút bấm và các phôi sim số điện thoại: 0559.556.xxx, 0983.138.109.
- + Tịch thu bán nộp ngân sách của Nhà nước: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO Reno 3 màu đen; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy J7 màu hồng.
- + Tịch thu nộp ngân sách của Nhà nước số tiền 8.890.000 đồng (tám triệu tám trăm chín mươi nghìn đồng) là số tiền các đối tượng sử dụng vào việc đánh bạc. Số tiền này hiện đang tạm giữ tại tài khoản số: 3949.0.1053898.00000 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tam Nông. Theo ủy nhiệm chi ngày 19/6/2024.
Về án phí:
Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015; Luật phí và lệ phí năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: Mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện các chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên của các bị cáo và người tham gia tố tụng khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- [1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Nông, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều đúng quy định và hợp pháp.
- [2]. Về những chứng cứ xác định các bị cáo có tội: Xét lời nhận tội của các bị cáo tại phiên toà hôm nay hoàn toàn phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản sự việc của cơ quan điều tra và vật chứng đã thu được phù hợp với các tài liệu khác có trong hồ sơ. Như vậy, có đủ cơ sở kết luận: Hồi 18 giờ 05 phút ngày 26/03/2024, tại nhà của mình ở khu B, xã H, huyện T, tỉnh Phú Thọ Ngô Thị Hồng H1 có hành vi đánh bạc bằng hình thức mua bán số lô, số đề với Lê Thị S thông qua tin nhắn zalo với tổng số tiền đánh bạc là 8.890.000đồng (Tám triệu tám trăm chín mươi nghìn đồng) đã bị tổ công tác của Phòng C1 Công an tỉnh P bắt quả tang. Do vậy Ngô Thị Hồng H1 và Lê Thị S đều phải chịu trách nhiệm hình sự về tội “Đánh bạc” với số tiền 8.890.000 đồng.
Trong vụ án này, mặc dù Ngô Thị Hồng H1 có bán số, lô đề cho một số đối tượng khác, sau đó chuyển các số lô, đề này cho Lê Thị S nhưng số tiền các đối tượng tham gia đánh bạc chưa đến 20.000.000đ (hai mươi triệu đồng), đồng thời giữa các đối tượng không có sự thoả thuận, bàn bạc về việc ai là thư ký cho nên trong vụ án này Lê Thị S và Ngô Thị Hồng H1 đều là người thực hành, trực tiếp thực hiện hành vi đánh bạc.
Hành vi của các bị cáo nêu trên là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự công cộng do nhà nước quản lý, gây mất trật tự trị an trên địa bàn, cần được xử lý nghiêm minh theo quy định của pháp luật.
Hành vi của các bị cáo đã phạm vào tội: "Đánh bạc" theo quy định tại khoản 1, Điều 321 Bộ luật Hình sự.
Khoản 1, Điều 321 Bộ luật hình sự quy định:
"1. Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá từ 5.000.000đồng đến dưới 50.000.000đồng hoặc dưới 5.000.000đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc hành vi quy định tại Điều 322 của Bộ luật này hoặc bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 322 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 20.000.000đồng đến 100.000.000đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm."
- [3]. Xét tính chất vụ án là nguy hiểm cho xã hội, hành vi của các bị cáo đã gây mất trật tự trị an ở địa phương. Bởi lẽ vấn nạn cờ bạc là một trong các tệ nạn xã hội mà nhà nước ta đang quản lý chặt chẽ, nghiêm cấm mọi tổ chức, cá nhân đánh bạc dưới mọi hình thức để làm lành mạnh các quan hệ xã hội, từ việc đánh bạc thường dẫn đến những tội phạm khác, ảnh hưởng đến trật tự công cộng vì vậy đấu tranh với tội này là rất cần thiết, cần đưa ra xét xử nghiêm trước pháp luật.
* Xét vai trò nhân thân của các bị cáo thấy rằng:
Cả hai bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1, Điều 51 Bộ luật hình sự. Các bị cáo đều đã tự nguyện nộp lại toàn bộ số tiền đánh bạc. Ngoài ra, bị cáo Lê Thị S có bố đẻ được tặng thưởng Huy chương kháng chiến hạng Nhì. Nên được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Cả hai bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào. Các bị cáo đều có nơi cư trú ổn định, rõ ràng, lời khai của các bị cáo tại phiên tòa hôm nay và xác minh tài sản của các bị cáo tại cơ quan điều tra xác định các bị cáo hiện đều đang sinh sống cùng gia đình, có tài sản chung và không có tài sản riêng gì có giá trị. Các bị cáo đều là lao động tự do, có thu nhập ổn định, thu nhập bình quân hàng tháng đối với Ngô Thị Hồng H1 là 2.000.000đồng; thu nhập bình quân hàng tháng đối với Lê Thị S là 3.500.000đồng.
Vì vậy, không cần cách ly các bị cáo khỏi xã hội mà áp dụng hình phạt tiền đối với các bị cáo với mức hình phạt tương ứng với số tiền các bị cáo Lê thị S2 và Ngô Thị Hồng H1 đánh bạc cũng đủ điều kiện giáo dục các bị cáo trở thành người tốt và có ích cho gia đình và xã hội.
- [4]. Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo đã bị xử phạt hình phạt chính là phạt tiền nên không áp dụng phạt bổ sung đối với các bị cáo là phù hợp.
- [5]. Về vật chứng:
- + Đối với 02 (Hai) sim số điện thoại: 0559.556.xxx (của H1); 0983.138.109 (của S2) và 01 chiếc bút bi, màu đen, loại bút bấm của H1 sử dụng để ghi số lô, là vật chứng của vụ án và là công cụ liên lạc, mua bán số lô, số đề giữa S2 và H1 không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy là phù hợp.
- + Đối với 02 chiếc điện thoại di động gồm:
- - 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO Reno 3 màu đen của Ngô Thị Hồng H1.
- - 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy J7 màu hồng của Lê Thị S (có đặc điểm như biên bản thu giữ của Lê Thị S và Ngô Thị Hồng H1) là vật chứng của vụ án và là công cụ phạm tội cần tịch thu để bán nộp ngân sách của Nhà nước là phù hợp.
- + Đối với số tiền 8.890.000 đồng (tám triệu tám trăm chín mươi nghìn đồng). Trong đó: Ngô Thị Hồng H1 8.690.000đồng; Lê Thị S 200.000đồng. Là tổng số tiền các bị cáo sử dụng đánh bạc đã tự nguyện nộp. Cần tịch thu nộp ngân sách Nhà nước là phù hợp.
- + Xác nhận cơ quan công an huyện T đã trả lại cho Lê Thị S 02 chiếc điện thoại di động không liên quan đến hành vi mua bán số lô, đề gồm:
- - 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE 12, màu đen bên trong lắp sim số thuê bao di động 0967.918.456.
- - 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE 14 Pro, màu xám, bên trong lắp sim số thuê bao di động 0984.918.456.Vì vậy hội đồng xét xử không đề cập xử lý nữa là phù hợp.
- [6]. Các bị cáo phải chịu án phí hình sự theo quy định của pháp luật.
Các bị cáo được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Nông thực hành quyền công tố tại phiên tòa đề xuất về hình phạt đối với các bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy phù hợp nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng Điều 321 Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố:
Các bị cáo Lê Thị S và Ngô Thị Hồng H1 phạm tội "Đánh bạc".
- + Áp dụng khoản 1, Điều 321; điểm i, s, khoản 1 và khoản 2, Điều 51; Điều 35 Bộ luật Hình sự.
- Xử phạt: Lê Thị S 30.000.000đ (ba mươi triệu đồng) để nộp ngân sách Nhà nước.
- + Áp dụng khoản 1, Điều 321; điểm i, s, khoản 1 và khoản 2, Điều 51; Điều 35 Bộ luật Hình sự.
- Xử phạt Ngô Thị Hồng H1 25.000.000đ (hai mươi lăm triệu đồng) để nộp ngân sách Nhà nước.
Về hình phạt bổ xung:
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Lê Thị S và Ngô Thị Hồng H1.
Về xử lý vật chứng:
Áp dụng điểm a, b, khoản 1, Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 2, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- + Tịch thu tiêu hủy: 02 (Hai) sim số điện thoại gồm : sim số 0559.556.xxx (của H1); sim số 0983.138.109 (của S) và 01 chiếc bút bi, màu đen, loại bút bấm, không có giá trị sử dụng.
- + Tịch thu để bán nộp ngân sách của Nhà nước: 02 chiếc điện thoại di động gồm:
- - 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO Reno 3 màu đen của Ngô Thị Hồng H1.
- - 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy J7 màu hồng của Lê Thị S (có đặc điểm như biên bản thu giữ của Lê Thị S và Ngô Thị Hồng H1) là vật chứng của vụ án và là công cụ phạm tội.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 18/6/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tam Nông)
- + Tịch thu nộp ngân sách của Nhà nước: số tiền 8.890.000 đồng (tám triệu tám trăm chín mươi nghìn đồng).(Hiện đang tạm giữ tại tài khoản số: 3949.0.1053898.00000 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tam Nông. Theo ủy nhiệm chi ngày 19/6/2024).
III. Về án phí:
Áp dụng khoản 2 điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí năm 2015; điểm a Khoản 1, điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 về thu, nộp và sử dụng án phí, lệ phí toà án. Buộc các bị cáo Lê Thị S và Ngô Thị Hồng H1 mỗi bị cáo phải nộp 200.000đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Áp dụng điều 26 Luật thi hành án dân sự, các bị cáo phải thực hiện nghĩa vụ thi hành án dân sự, nếu không tự nguyện thi hành án thì bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại điều 7a, điều 9 Luật thi hành án dân sự.
IV. Quyền kháng cáo:
Áp dụng điều 331, điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự: Các bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Để đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử theo trình tự phúc thẩm.
|
Nơi nhận:
|
T/M . HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phùng Thị Kim N |
Bản án số 23/2024/HSST ngày 28/06/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM NÔNG - TỈNH PHÚ THỌ về đánh bạc
- Số bản án: 23/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Đánh bạc
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM NÔNG - TỈNH PHÚ THỌ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Đánh bạc