Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TRẦN ĐỀ

TỈNH SÓC TRĂNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 23/2024/DS-ST

Ngày: 26-4-2024.

“V/v tranh chấp: Hợp đồng mua bán tài sản”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN ĐỀ, TỈNH SÓC TRĂNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng.

Các Hội thẩm nhân dân:

  • 1/ Ông Hà Hùng Kiệt.
  • 2/ Ông Tăng Văn Thành.

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Quốc Dũng – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Ông Lý Út Hoài - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 4 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 50/2024/TLST-DS ngày 12 tháng 3 năm 2024 về “Tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 22/2024/QĐXXST-DS ngày 28 tháng 3 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Trần Đại H, sinh năm 1973.

Là đại diện theo pháp luật của H1 kinh doanh Tân Quang M.

Địa chỉ liên hệ: Số C, khóm T, phường K, thị xã V, tỉnh S.

Người đại diện theo ủy quyền: Bà Trần Diễm M1, sinh năm 1996 (Theo văn bản ủy quyền ngày 02/02/2024) (Có mặt).

Địa chỉ liên hệ: Số C, khóm T, phường K, thị xã V, tỉnh S.

- Bị đơn:

  • 1/Ông Nguyễn Văn Cô L, sinh năm 1969 (Có mặt).
  • 2/Bà Nguyễn Thị C, sinh năm 1978 (Vắng mặt).

Cùng địa chỉ: T, xã T, huyện T, tỉnh S.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết án cũng như tại phiên tòa, đại diện nguyên đơn bà Trần Diễm M1 trình bày:

Ông Trần Đại H (chủ hộ kinh doanh Tân Quang M) có giao kết hợp đồng mua bán thức ăn thủy sản mang nhãn hiệu Việt H2 và các loại thuốc phục vụ cho việc nuôi tôm với ông Nguyễn Văn Cô L, bà Nguyễn Thị C thông qua hợp đồng mua bán bằng văn bản. Tuy nhiên do lâu năm hợp đồng đã thất lạc.

Theo đó các bên thống nhất thỏa thuận ông H sẽ cung cấp các mặt hàng có bán tại cửa hàng cho ông L, bà C theo đơn đặt hàng. Đơn giá được thông báo trực tiếp với ông L, bà C trên từng mặt hàng theo đơn hàng của ông L, bà C và được xác nhận theo từng thời điểm và được ghi nhận tại sổ giao nhận hàng. Hàng hóa được giao tại cửa hàng T hoặc nhờ người nhà đến lấy hàng. Sau khi nhận hàng thì kiểm tra số lượng, chất lượng, chủng loại, đơn giá và ký tên vào số giao nhận hàng. Phương thức thanh toán được thỏa thuận là sau khi thu hoạch tôm phải thanh toán dứt điểm tiền nợ. Trường hợp nuôi thất vẫn không làm mất nghĩa vụ thanh toán. Trường hợp thu hoạch tôm không thanh toán hoặc thanh toán không đủ số tiền nợ ông H có quyền yêu cầu thanh toán một phần để giảm tiền nợ nhưng không thực hiện thì ông H có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng và yêu cầu ông L, bà C thanh toán dứt điểm tiền nợ. Hai bên giao dịch từ ngày 10/6/2014 đến 05/12/2014, ông L, bà C nợ lại số tiền 74.980.000₫.

Trong quá trình giao dịch ông H đã thực hiện đúng nghĩa vụ của mình, cung cấp đầy đủ các mặt hàng theo yêu cầu, sau khi nhận hàng ông L, bà C không phản ánh về số lượng, chất lượng, giá bán, chủng loại nhưng khi thu hoạch tôm thì ông L, bà C không thực nghĩa vụ thanh toán dứt điểm tiền nợ. Nhiều lần liên hệ ông L, bà C không thanh toán. Ngày 28/10/2023 hai bên tiến hành ký xác nhận công nợ xác nhận ông L, bà C còn nợ lại số tiền 74.980.000₫.

Nay ông Trần Đại H yêu cầu tòa án giải quyết như sau:

  • Buộc ông Nguyễn Văn Cô L, bà Nguyễn Thị C liên đới thanh toán số tiền nợ gốc là 74.980.000₫ (Bảy mươi bốn triệu, chín trăm tám mươi nghìn đồng).
  • Không yêu cầu tính lãi.

Bị đơn, ông Nguyễn Văn Cô L trình bày:

Ông Nguyễn Văn Cô L thừa nhận có nợ ông H số tiền gốc là 74.980.000₫ (Bảy mươi bốn triệu, chín trăm tám mươi nghìn đồng). Ông L xin trả dần mỗi vụ lúa 3.000.000₫ (Ba triệu đồng). Hoặc khi ông chuyển nhượng được đất sẽ thanh toán cho ông H.

Bị đơn, bà Nguyễn Thị C không có lời trình bày do vắng mặt:

Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa nêu quan điểm:

Về việc tuân thủ pháp luật: Tòa án thụ lý vụ án đúng thẩm quyền, xác định chính xác quan hệ pháp luật tranh chấp; thu thập chứng cứ đầy đủ, đúng pháp luật;

Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và nguyên đơn đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án: Các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và qua lời trình bày của các đương sự tại phiên tòa đã có đầy đủ cơ sở để khẳng định việc nguyên đơn yêu cầu các bị đơn thanh toán toàn bộ số tiền nợ gốc 74.980.000đ (Bảy mươi bốn triệu, chín trăm tám mươi nghìn đồng), không yêu cầu tính lãi là có căn cứ pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

  • Tòa án xác định quan hệ pháp luật là “Tranh chấp Hợp đồng mua bán tài sản".
  • Tại phiên tòa hôm nay nguyên đơn vắng mặt (có người đại diện), bị đơn bà Nguyễn Thị C mặc dù đã được tống đạt giấy triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không rõ lý do. Do đó căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 2 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt đối với các đương sự.

[2] Về nội dung vụ án:

  • Xét về hình thức và nội dung của hợp đồng mua bán tài sản giữa ông Trần Đại H với vợ chồng ông Nguyễn Văn Cô L, bà Nguyễn Thị C là hoàn toàn phù hợp với quy định tại Điều 430 Bộ luật dân sự.
  • Xét về quá trình thực hiện hợp đồng: Quá trình mua bán Hộ kinh doanh đại lý T1 do ông Trần Đại H làm chủ có lập sổ theo dõi giao nhận hàng và vợ chồng ông L, bà C có ký tên vào sổ theo dõi giao nhận hàng. Tính đến ngày 28/10/2023, vợ chồng ông L, bà C thừa nhận còn nợ ông H với số tiền là 74.980.000₫ (Bảy mươi bốn triệu, chín trăm tám mươi nghìn đồng).

[3] Qua những lời trình bày của đương sự cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Vợ chồng ông Nguyễn Văn Cô L, bà Nguyễn Thị C có mua các loại thức ăn và thuốc thủy sản của ông Trần Đại H. Quá trình mua bán, sau khi đối chiếu công nợ thì vợ chồng ông L, bà C còn nợ số tiền 74.980.000₫ (Bảy mươi bốn triệu, chín trăm tám mươi nghìn đồng). Như vậy vợ chồng ông L, bà C đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán được quy định tại Điều 440 Bộ luật dân sự. Do đó ông H yêu cầu vợ chồng ông L, bà C phải có nghĩa vụ thanh toán số tiền còn nợ là có căn cứ.

[4] Về lãi suất chậm trả: Do đại diện nguyên đơn không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.

[5] Về án phí sơ thẩm: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí theo khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

[6] Kiểm sát viên tại phiên tòa nêu quan điểm về nội dung vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Xét thấy đề nghị của Viện kiểm sát là có căn cứ.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: Điều 430, Điều 440, Điều 357; Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015; Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
  2. Buộc vợ chồng ông Nguyễn Văn Cô L, bà Nguyễn Thị C có nghĩa vụ liên đới hoàn trả cho ông Trần Đại H số tiền còn nợ là 74.980.000₫ (Bảy mươi bốn triệu, chín trăm tám mươi nghìn đồng).

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của ông Trần Đại H cho đến khi thi hành án xong mà vợ chồng ông L, bà C chậm trả tiền thì còn phải liên đới trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

  1. Về án phí dân sự sơ thẩm:
  • Vợ chồng ông ông Nguyễn Văn Cô L, bà Nguyễn Thị C phải liên đới nộp 3.749.000₫ (Ba triệu, bảy trăm bốn mươi chín nghìn đồng) tiền án phí.
  • Ông Trần Đại H không phải chịu án phí. Ông H được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp 3.594.000₫ (Ba triệu, năm trăm chín mươi bốn nghìn đồng) theo biên lai thu số 0002425 ngày 08/3/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện T, tỉnh S.

Các đương sự có quyền kháng cáo đối với bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Riêng người vắng mặt được tính từ ngày nhận được bản án hoặc được niêm yết để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh S xét xử theo thủ tục phúc thẩm.

Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhân:

  • - VKSND huyện T;
  • - Chi cục THA huyện T;
  • - TAND tỉnh S (P.KTNV&THA);
  • - Các đương sự.
  • - Lưu HSVA.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

(Đã ký)

Nguyễn Hoàng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 23/2024/DS-ST ngày 26/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN ĐỀ, TỈNH SÓC TRĂNG về tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản

  • Số bản án: 23/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hợp đồng mua bán tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/04/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN ĐỀ, TỈNH SÓC TRĂNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ông Trần Đại H yêu cầu ông L thanh toán nợ
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger