TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SƠN ĐỘNG TỈNH BẮC GIANG | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án: 23/2024/HNGĐ - ST Ngày 25/7/2024 “ V/v tranh chấp ly hôn, con chung” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SƠN ĐỘNG – TỈNH BẮC GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Văn Toàn;
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Ngọc Ngát;
2. Bà Nguyễn Thị Bắc;
- Thư ký ghi biên bản phiên toà: Bà Hoàng Thị Trang – Thư ký Toà án nhân dân huyện Sơn Động.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Động tham gia phiên toà: Ông Vương Văn Phong - Kiểm sát viên sơ cấp.
Trong ngày 25 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 11/2024/TLST-HNGD, ngày 08 tháng 4 năm 2024 về việc “Tranh chấp ly hôn, con chung”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 18/2024/QĐXX- ST ngày 25 tháng 6 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 12/2024/HPT-HNGĐ ngày 12 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị P, sinh năm 2004;
Địa chỉ: Thôn T, xã L, huyện S, tỉnh Bắc Giang.
- Bị đơn: Anh Hoàng Văn T, sinh năm 2001;
Địa chỉ: Thôn T, xã L, huyện S, tỉnh Bắc Giang.
(Chị P có đơn xin xét xử vắng mặt, anh T vắng mặt không có lý do)
NỘI DUNG VỤ ÁN
1. Trong đơn khởi kiện, những lời khai tiếp theo có trong hồ sơ nguyên đơn chị Nguyễn Thị P trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị kết hôn cùng với anh Hoàng Văn T vào tháng 5/2022, trước khi kết hôn hai bên có tự do tìm hiểu và tự nguyện lấy nhau, có tổ chức cưới hỏi theo phong tục tập quán địa phương, có đăng ký kết hôn tại UBND xã L, huyện S. Sau khi lấy nhau xong chị về gia đình anh T ở chung sống cùng nhau, quá trình chung sống ban đầu hòa thuận, hạnh phúc.
Mâu thuẫn phát sinh từ năm 2023, nguyên nhân do vợ chồng không hợp nhau, do anh T không chịu làm ăn và chơi bời, chị có khuyên bảo nhiều lần nhưng anh T không nghe nên thường xuyên cãi nhau. Vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 11 năm 2023 cho đến nay.
Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, không thể hàn gắn được nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị và anh T được ly hôn.
Về con chung: Chị và anh T có 01 con chung là cháu Hoàng Thị Thảo N, sinh ngày 06/4/2022, hiện cháu đang ở cùng với chị. Vợ chồng ly hôn chị có nguyện vọng được nuôi cháu N, về cấp dưỡng nuôi con chị không yêu cầu. Chị hiện đang làm công nhân thu nhập khoảng 9.000.000đ/tháng, chị hiện đang ở cùng với bố mẹ đẻ, chị đảm bảo được việc nuôi con khi được giao.
Về tài sản, công nợ: Chị không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.
2. Bị đơn anh Hoàng Văn T hiện không có mặt tại nơi cư trú, Tòa án giao cho gia đình anh T và niêm yết tại địa phương thông báo về việc thụ lý vụ án, các giấy triệu tập, thông báo phiên họp và hòa giải, quyết định đưa vụ án ra xét xử để anh T biết đến làm việc tại Tòa án nhưng anh T vẫn vắng mặtoHoaf vẫn v, nên Tòa án không thu thập được lời khai của anh T.
* Kiểm sát viên phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án đến trước khi mở phiên toà, Thẩm phán, Thư ký thực hiện đúng thủ tục tố tụng; tại phiên toà, Hội đồng xét xử tiến hành đúng trình tự, thủ tục của phiên toà sơ thẩm; nguyên đơn thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật; bị đơn Tám vắng mặt không chấp hành đến Tòa án để giải quyết vụ án là vi phạm về nghĩa vụ.
Về giải quyết vụ án: Đề nghị HĐXX áp dụng Điều 19, 27, 37, 45, khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, 57, 60, 81, 82, 83, 107, 110, 116 và 117 của Luật Hôn nhân và gia đình. Khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 91, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, Điều 244, Điều 271, khoản 1 Điều 273 và Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5, 6 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội.
Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Nguyễn Thị P và anh Hoàng Văn T được ly hôn nhau.
Về con chung: Giao cho chị Nguyễn Thị P trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu Hoàng Thị Thảo N, sinh ngày 06/4/2022; Về cấp dưỡng nuôi con chị P không yêu cầu, anh T không phải cấp dưỡng nuôi con.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con chung có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung mà không ai được cản trở.
Về tài sản chung, công nợ chung: Do các đương sự không có yêu cầu nên không đặt ra xem xét, giải quyết.
Về án phí: Chị Nguyễn Thị P phải chịu án phí dân sự sơ thẩm ly hôn theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Chị Nguyễn Thị P khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Sơn Động giải quyết ly hôn với anh Hoàng Văn T, anh T hiện đang cư trú tại huyện S. Xét thấy đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Sơn Động theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Sau khi nhận Quyết định đưa vụ án ra xét xử, giấy triệu tập và quyết định hoãn phiên tòa thì anh T vẫn vắng mặt. Anh T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai; Do đó, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh T theo quy định tại khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Xét yêu cầu khởi kiện:
Căn cứ vào lời khai của các bên đương sự, tài liệu chứng cứ do các đương sự cung cấp và những tài liệu, chứng cứ do Tòa án thu thập được thì có cơ sở xác định:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị P kết hôn với anh Hoàng Văn T vào tháng 05/2022, trước khi kết hôn hai bên có tự do tìm hiểu và tự nguyện lấy nhau, có tổ chức cưới hỏi theo phong tục tập quán địa phương, có đăng ký kết hôn tại UBND xã L, huyện S số 17 ngày 18 tháng 5 năm 2022. Sau khi cưới, chị P về gia đình anh T ở chung sống cùng nhau; quá trình chung sống ban đầu tình cảm hòa thuận hạnh phúc; xác nhận quan hệ hôn nhân giữa chị P và anh T là hợp pháp.
Mâu thuẫn phát sinh từ năm 2023, nguyên nhân do vợ chồng không hợp nhau, do anh T không chịu làm ăn và chơi bời, chị có khuyên bảo nhiều lần nhưng không nghe nên thường xuyên cãi nhau. Hai vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 11 năm 2023 cho đến nay.
Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình quy định: “1. Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau chia sẻ, thực hiện công việc gia đình”.
Xét thấy: Chị P và anh T đã xảy ra mâu thuẫn thường xuyên, hai bên đã không quan tâm giúp đỡ đến nhau, không cùng chăm sóc, nuôi dạy con chung cũng như đã ly thân nhau về mặt tình cảm được một khoảng thời gian và cả hai không giải hòa được. Như vậy, chị P và anh T đã vi phạm nghĩa vụ chung sống vợ chồng, đã làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể tiếp tục được nữa, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị P, cho chị P và anh T được ly hôn nhau theo khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình.
Về con chung: Chị P, anh T có 01 con chung là cháu Hoàng Thị Thảo N, sinh ngày 06/4/2022, hiện cháu N đang ở cùng với chị P. Chị P có nguyện vọng được cháu N và không yêu cầu anh T phải cấp dưỡng nuôi con. Căn cứ vào việc làm, thu nhập
của chị P, đảm bảo việc chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung và cũng do cháu N còn nhỏ nên cần phải nhận được quan tâm, chăm sóc từ mẹ; để đảm bảo quyền của bà mẹ và trẻ em, chia sẻ trách nhiệm của bố mẹ đối với các con cũng như quyền lợi về mọi mặt của con nên yêu cầu của của P được chấp nhận theo Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình. Do đó, giao cho chị Nguyễn Thị P trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu Hoàng Thị Thảo N là hợp lý. Do chị P không yêu cầu anh T phải cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.
Về tài sản chung, công nợ: Chị P không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.
[3] Về án phí: Chị P yêu cầu xin ly hôn nên phải chịu án phí dân sự sơ thẩm ly hôn theo quy định điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ các Điều 19, 27, 37, 45, khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, 57, 60, 81, 82, 83, 107, 110, 116 và 117 của Luật Hôn nhân và gia đình. Khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 91, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, 228, Điều 244, Điều 271, khoản 1 Điều 273 và Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5, 6 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội.
[1]. Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Nguyễn Thị P và anh Hoàng Văn T được ly hôn nhau.
[2]. Về con chung: Giao cho chị Nguyễn Thị P trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu Hoàng Thị Thảo N, sinh ngày 06/4/2022; Về cấp dưỡng nuôi con chị P không có yêu cầu.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
[3]. Về án phí: Chị Nguyễn Thị P phải chịu 300.000đ án phí ly hôn. Chị P được khấu trừ vào số tiền 300.000đ nộp tạm ứng án phí DSST, theo biên lai số 0008574 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sơn Động.
[4]. Về quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc niêm yết./.
Nơi nhận:
| T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Văn Toàn |
Bản án số 23/2024/HNGĐ - ST ngày 25/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SƠN ĐỘNG – TỈNH BẮC GIANG về tranh chấp ly hôn, con chung
- Số bản án: 23/2024/HNGĐ - ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, con chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SƠN ĐỘNG – TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: à Nguyễn Thị L kết hôn với ông Hoàng Văn L1 vào tháng 10/2012, trước khi kết hôn hai bên có tự do tìm hiểu và tự nguyện lấy nhau, có tổ chức cưới hỏi theo phong tục tập quán địa phương, có đăng ký kết hôn tại UBND xã L, huyện S số 31 ngày 01 tháng 10 năm 2012. Sau khi cưới, bà L về gia đình ông L1 ở chung sống cùng nhau; quá trình chung sống ban đầu tình cảm hòa thuận hạnh phúc; xác nhận quan hệ hôn nhân giữa bà L và ông L1 là hợp pháp. Nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng: Mâu thuẫn phát sinh từ tháng 02 năm 2024, nguyên nhân do cả hai vợ chồng không hợp nhau, ông L1 hay ghen tuông và nghi ngờ bà L đi ngoại tình với người khác nhưng không có căn cứ đưa ra, do đó thường xuyên cãi nhau. Hai vợ chồng vẫn ở chung nhà nhưng đã sống ly thân về mặt tình cảm từ tháng 3 năm 2024 cho đến nay.
