|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẢI HÀ TỈNH QUẢNG NINH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 23/2024/HS-ST Ngày 25-6-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẢI HÀ, TỈNH QUẢNG NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà Dương Thị Thu Hà
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Nguyễn Kim Liên
Ông Nguyễn Văn Bình
- Thư ký phiên tòa: ông Lê Hồng Sơn, Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân huyện Hải Hà, tỉnh Quảng Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hải Hà, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên tòa: ông Đặng Đức Trung - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 6 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hải Hà, tỉnh Quảng Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 23/2024/TLST-HS ngày 10 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 24/2024/QĐXXST-HS, ngày 11 tháng 6 năm 2024 đối với các bị cáo:
- Hoàng Văn D (tên gọi khác: không), sinh ngày 14 tháng 02 năm 1994 tại huyện H, tỉnh Quảng Ninh. Nơi thường trú: thôn Đ, xã Đ, huyện H, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hoá: 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Văn G và bà Nguyễn Thị H; vợ, con: chưa; tiền án, tiền sự: không; bị giữ người trong trường hợp khẩn cấp ngày 26/3/2024. Có mặt.
- Hoàng Văn M (tên gọi khác: không), sinh ngày 14 tháng 02 năm 1994 tại huyện H, tỉnh Quảng Ninh. Nơi thường trú: thôn Đ, xã Đ, huyện H, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hoá: 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Văn G và bà Nguyễn Thị H; vợ, con: chưa; tiền án, tiền sự: không; bị cáo đầu thú ngày 26/3/2024. Có mặt.
- Hoàng Văn H1 (tên gọi khác: không), sinh ngày 16 tháng 5 năm 1999 tại huyện H, tỉnh Quảng Ninh; nơi thường trú: thôn Đ, xã Đ, huyện H, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hoá: 4/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Văn N và bà Phạm Thị L; vợ, con: chưa; tiền án, tiền sự: không; bị giữ người trong trường hợp khẩn cấp ngày 01/02/2024. Có mặt.
- Hoàng Văn S (tên gọi khác: không), sinh ngày 01 tháng 01 năm 1992 tại huyện H, tỉnh Quảng Ninh; nơi thường trú: thôn Đ, xã Đ, huyện H, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hoá: 4/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Văn T và bà Đỗ Thị L1; vợ, con: chưa; tiền án, tiền sự: không; bị giữ người trong trường hợp khẩn cấp ngày 01/02/2024. Có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: anh Hoàng Văn T1, sinh năm: 1990; nơi thường trú: thôn Đ, xã Đ, huyện H, tỉnh Quảng Ninh. Có mặt.
- Người chứng kiến: Hoàng Văn H2.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do có nhu cầu sử dụng ma tuý nên trưa ngày 30/01/2024 Hoàng Văn H1, Hoàng Văn S bàn bạc góp tiền mua ma tuý đá để cùng nhau sử dụng. Cả hai cùng thống nhất S góp 1.000.000 đồng còn Hưởng góp phần chi phí phát sinh mua ma tuý và dụng cụ sử dụng. Sau khi S đưa tiền, H1 gọi điện thoại cho Hoàng Văn D (là người cùng thôn) đang làm việc ở Hải Phòng để thỏa thuận việc mua ma túy và 01 chiếc nõ thủy tinh, D đồng ý. Hưởng chuyển khoản số tiền 1.300.000 đồng cho D để mua ma túy. Mua được ma túy, D gửi ô tô khách (không rõ biển kiểm soát) từ Hải Phòng đến xã Đ, huyện H cho H1. Ngay khi nhận được ma túy và 01 nõ thủy tinh H1, S cùng đi về nhà S ở thôn Đ, xã Đ, huyện H để cùng nhau sử dụng. Tại đây, S lấy 01 chai nhựa nắp màu đỏ đục 02 lỗ, một lỗ cắm ống nhựa, lỗ còn lại cắm nõ thủy tinh rồi đổ một nửa túi ma tuý vào trong nõ thuỷ tinh mang vào phòng ngủ sử dụng. Lúc này S dùng bật lửa đốt nõ thuỷ tinh, cầm chai nhựa để S, H1 lần lượt hút, mỗi người hút khoảng 4, 5 lượt thì phê ma túy nằm ngủ tại phòng ngủ đến khoảng 23 giờ ngày 31/01/2024 S tiếp tục đổ phần ma tuý còn lại vào nõ thuỷ tinh và đốt, mời H1 sử dụng rồi nằm xem điện thoại. Trong lúc S sử dụng điện thoại, H1 bật lửa đốt, cầm chai nhựa để S, H1 lần lượt hút, mỗi người hút khoảng 3, 4 lượt thì hết ma tuý, đến khoảng 07 giờ ngày 01/02/2024 thì bị lực lượng Công an kiểm tra phát hiện, thu giữ của S, H1: 01 chai nhựa; 03 bật lửa; 01 nắp nhựa màu xanh lá cây có đục 02 lỗ trong đó 01 lỗ cắm ống hút nhựa màu trắng; 01 nắp nhựa màu đỏ có đục 02 lỗ trong đó 01 lỗ cắm ống hút nhựa màu xanh lá cây, 01 lỗ cắm ống thủy tinh uốn cong dài khoảng 09cm, có bầu hình tròn đường kính 1,5cm, đường kính miệng lỗ 0,7cm; 01 ống thủy tinh uốn cong dài khoảng 12cm không có bầu; 01 đầu khò bình gas mini màu trắng; 01 điện thoại Iphone màu xanh của S và 01 điện thoại Iphone màu vàng của H1. Cùng ngày Cơ quan điều tra ra lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Hoàng Văn S, Hoàng Văn H1.
Tại Kết luận giám định số 245, 246 cùng ngày 06/02/2024 của Phòng K Công an tỉnh Q, kết luận: Trong ống thủy tinh một đầu uốn cong có bầu tròn gửi đi giám định tìm thấy chất ma tuý loại Methamphetamine dạng vết, không xác định được được khối lượng. Trong nước tiểu của Hoàng Văn S, Hoàng Văn H1 gửi giám định có chứa chất ma túy loại Methamphetamine.
Căn cứ tài liệu điều tra, ngày 26/3/2024, Cơ quan điều tra ra Lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Hoàng Văn D; cùng ngày Hoàng Văn M ra đầu thú để điều tra về hành vi mua bán trái phép chất ma túy. Tạm giữ của D 01 điện thoại OPPO màu vàng hồng, tạm giữ của Mẹo 01 điện thoại Iphone màu xanh đều đã qua sử dụng.
Quá trình điều tra làm rõ: Sau khi nhận số tiền 1.300.000 đồng do H1 chuyển khoản để mua ma túy và nõ thủy tinh, Hoàng Văn D chuyển vào tài khoản của Hoàng Văn M (là em ruột D) số tiền 1.000.000 đồng rồi gọi điện thoại bảo M dùng số tiền đó mua ma tuý đá cho D. Sau đó, M đi ra bến xe T thành phố Hải Phòng gặp người đàn ông tên P (không rõ lai lịch, địa chỉ) thỏa thuận mua 500.000 đồng ma túy đá. Sau khi thanh toán tiền cho P, M cầm túi nilon ma túy đá về đưa cho D. Dần xúc một ít ma túy ra tự sử dụng, số ma tuý còn lại Dần cho vào hộp bìa catton kèm theo 01 chiếc nõ thuỷ tinh (đã có sẵn), sau đó dùng băng dính dán kín rồi gửi xe ô tô khách cho H1.
Tại phiên tòa, các bị cáo đều có lời khai cơ bản phù hợp với nội dung vụ án nêu trên.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: anh Hoàng Văn T1 có lời khai trong quá trình điều tra và tại phiên tòa thể hiện anh và Hoàng Văn S được bố mẹ giao nhà cho quản lý; bản thân anh và vợ con đều đi làm nghề biển vào ngày 30, 31/01/2024 nên không biết S sử dụng ma túy tại nhà. Anh hoàn toàn không có yêu cầu, ý kiến gì về quyền lợi liên quan đến việc S và H1 sử dụng trái phép chất ma túy tại nhà anh.
Người chứng kiến: anh Hoàng Văn H2 có lời khai thể hiện anh được mời chứng kiến việc kiểm tra hành chính Hoàng Văn S và Hoàng Văn H1 phù hợp lời khai của các bị cáo S và H1 về thời gian, không gian, địa điểm uoươngHuooươnhgrsdfdsfsdgsfdgdfgvà thu giữ vật chứng của S và H1.
Tại Cáo trạng số 282/CT-VKSHH, ngày 08/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hải Hà đã truy tố các bị cáo Hoàng Văn S, Hoàng Văn H1 về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 255 Bộ luật Hình sự; Hoàng Văn D, Hoàng Văn M về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố đã giữ nguyên quyết định truy tố và luận tội đối với các bị cáo; sau khi phân tích nội dung vụ án, tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và vai trò của các bị cáo, đã đề nghị với Hội đồng xét xử:
- Áp dụng: khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự (Bị cáo M áp dụng thêm khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự): xử phạt các bị cáo Hoàng Văn D, Hoàng Văn M, mỗi bị cáo từ 24 tháng đến 30 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày 26/3/2024;
- Áp dụng: khoản 1 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58 Bộ luật Hình sự: xử phạt các bị cáo Hoàng Văn H1, Hoàng Văn S, mỗi bị cáo từ 24 tháng đến 30 tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày 01/02/2024;
Về xử lý vật chứng:
- Áp dụng: điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
- + Tịch thu tiêu hủy: 01 ống thủy tinh uốn cong dài khoảng 09cm hoàn lại sau giám định số 245/KL-KTHS; 01 chai nhựa Nhãn hiệu Number1; 02 nắp nhựa bên trên đục 02 lỗ; 02 ống hút nhựa; 01 ống thủy tinh uốn cong dài khoảng 12cm không có bầu; 03 bật lửa; 01 đầu khò bình gas mini màu trắng; 03 sim điện thoại.
- + Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: 01 điện thoại Iphone màu vàng; 01 điện thoại OPPO màu vàng hồng;
- + Truy thu sung vào ngân sách nhà nước: Hoàng Văn D số tiền 300.000 đồng, Hoàng Văn M số tiền 500.000 đồng.
- + Trả lại bị cáo S 01 điện thoại Iphone màu xanh gắn sim số 0365.853.379; bị cáo M 01 điện thoại Iphone màu xanh gắn sim số 0396.818.411;
Các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội và không tranh luận với lời luận tội của Đại diện Viện kiểm sát.
Lời nói sau cùng: các bị cáo Hoàng Văn D, Hoàng Văn M, Hoàng Văn S và Hoàng Văn H1 đều thừa nhận hành vi phạm tội và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ mức hình phạt cho các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra Công an huyện H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hải Hà, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án và người chứng kiến không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng; tại phiên tòa các bị cáo tiếp tục không có ý kiến gì. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Nhận định của Hội đồng xét xử về những chứng cứ xác định các bị cáo có tội: đánh giá nội dung biên bản kiểm tra, vật chứng thu giữ, lời khai của các bị cáo trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, lời khai của người chứng kiến, biên bản xác định hiện trường, sơ đồ hiện trường, bản ảnh... đồng thời trên cơ sở kết luận giám định của phòng K Công an tỉnh Q và các tài liệu, chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử thấy đủ cơ sở kết luận: Trong các ngày 30, 31/01/2024 tại thôn Đ, xã Đ, huyện H, tỉnh Quảng Ninh, Hoàng Văn H1 và Hoàng Văn S có hành vi cùng tổ chức cho nhau sử dụng trái phép chất ma túy loại Methamphetamine. Ngày 30/01/2024, Hoàng Văn D có hành vi bán cho Hoàng Văn H1 01 (một) túi ma túy loại Methamphetamine, 01 (một) nõ thủy tinh với giá 1.300.000 đồng, kiếm lời số tiền 300.000 đồng. Hoàng Văn M có hành vi bán cho Hoàng Văn D 01 túi ma túy loại Methamphetamine với giá 1.000.000 đồng, kiếm lời số tiền 500.000 đồng.
Các bị cáo có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi do lỗi cố ý, xâm phạm đến chính sách của Nhà nước về quản lý các chất ma túy. Do đó, hành vi nêu trên của các bị cáo Hoàng Văn D, Hoàng Văn M đã cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự; bị cáo Hoàng Văn S và Hoàng Văn H1 đã cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 255 của Bộ luật Hình sự.
Như vậy, các chứng cứ buộc tội của đại diện Viện kiểm sát phù hợp các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và tại phiên tòa các bị cáo thừa nhận hành vi đã thực hiện như nội dung bản cáo trạng nên quan điểm truy tố và luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hải Hà là có căn cứ pháp lý.
Điều 251 Bộ luật Hình sự quy định:
“1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.”
Điều 255 Bộ luật Hình sự quy định:
“1. Người nào tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy dưới bất kỳ hình thức nào, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.”
[3]. Xét tính chất và hành vi phạm tội của các bị cáo là nghiêm trọng và nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến chính sách quản lý chất ma túy của Nhà nước, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự, an ninh xã hội tại địa phương. Đây còn là nguyên nhân gây các loại tội phạm khác, gây dư luận xấu trong quần chúng nhân dân. Mặc dù nhận thức rõ tác hại của ma túy, nhưng do không chịu tu dưỡng bản thân, thiếu ý thức chấp hành pháp luật các bị cáo đã thực hiện hành vi pháp luật không cho phép. Việc mua bán, tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy là một trong những nguyên nhân làm lan rộng hiểm họa cho toàn xã hội. Vì vậy, xét thấy cần xử lý nghiêm mới có tác dụng giáo dục các bị cáo và phục vụ công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm, phòng ngừa chung.
[4]. Về vai trò của các bị cáo trong vụ án: mặc dù vụ án có 04 (bốn) bị cáo nhưng bị cáo H1 và S thực hiện hành vi phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, còn các bị cáo D và M thực hiện hành vi phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” là độc lập với nhau.
Đối với hành vi “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” của bị cáo H1 và S là đồng phạm giản đơn, bị cáo H1 đã khởi xướng rủ bị cáo S sử dụng trái phép chất ma túy, sau đó cùng thống nhất với S góp tiền mua ma túy, chuẩn bị công cụ để cùng sử dụng, cả hai đã đưa trái phép chất ma túy vào cơ thể nhau.
Đối với hành vi “Mua bán trái phép chất ma túy”, bị cáo M mua ma túy từ đối tượng P rồi bán trái phép cho bị cáo D, còn D không nói cho M biết việc mua ma túy để bán trái phép cho H1. Do đó các bị cáo D và M thực hiện hành vi phạm tội độc lập nhau, chịu trách nhiệm hình sự tương xứng đối với hành vi mà mỗi bị cáo đã thực hiện.
[5]. Về áp dụng tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, hình phạt bổ sung:
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đều đã thành khẩn khai báo, riêng bị cáo D còn quanh co chưa thực sự ăn năn hối cải nhưng sau đó đã khai báo thành khẩn nên Hội đồng xét xử thấy vẫn đủ điều kiện áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự cho các bị cáo; riêng bị cáo Hoàng Văn M sau khi phạm tội đã ra đầu thú nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: các bị cáo đều không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
- Về hình phạt bổ sung, theo quy định tại khoản 5 Điều 251 và khoản 5 Điều 255 Bộ luật Hình sự, người phạm tội còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của các bị cáo tại phiên tòa đều cho thấy họ là đối tượng nghề nghiệp và thu nhập không ổn định, nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
[6]. Sau khi xem xét, đánh giá tính chất của vụ án, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và vai trò trong vụ án, Hội đồng xét xử thấy cần thiết ấn định mức hình phạt tương xứng đối với các bị cáo ở trong khung đã truy tố và cách ly ra khỏi xã hội một thời gian để cải tạo thành công dân có ích cho gia đình và xã hội.
[7]. Về xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự:
- Sau khi giám định, phòng K Công an tỉnh Q hoàn lại Cơ quan CSĐT Công an huyện H 01 ống thủy tinh một đầu uốn cong có bầu tròn và vỏ bao gói mẫu trong niêm phong số 245/KL-KTHS theo đúng quy định của pháp luật; 01 chai nhựa Nhãn hiệu Number1; 02 nắp nhựa bên trên đục 02 lỗ; 02 ống hút nhựa; 01 ống thủy tinh uốn cong dài khoảng 12cm không có bầu; 03 bật lửa; 01 đầu khò bình gas mini màu trắng là dụng cụ S và H1 sử dụng trái phép chất ma túy, không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
- Đối với 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu vàng, mặt kính bị vỡ, nứt bên trong gắn 01 sim số 0388.738.188, điện thoại đã qua sử dụng tạm giữ của Hoàng Văn H1; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu vàng hồng, bên trong gắn 02 sim số 0396.081.193 và 0326.443.012, điện thoại đã qua sử dụng tạm giữ của Hoàng Văn D đều sử dụng vào việc liên lạc với nhau trao đổi mua bán trái phép chất ma túy là công cụ, phương tiện dùng vào việc phạm tội nên cần tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước, riêng 03 sim điện thoại không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
- Đối với 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu xanh, bên trong lắp 01 sim số 0396.818.411, điện thoại đã qua sử dụng tạm giữ của Hoàng Văn M và 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu xanh, bên trong gắn 01 sim số 0365.853.379, điện thoại đã qua sử dụng tạm giữ của Hoàng Văn S đều không sử dụng vào việc việc phạm tội.
- Trong vụ án này, qua việc mua bán ma túy Hoàng Văn D thu lời số tiền 300.000 đồng, Hoàng Văn M thu lời số tiền 500.000 đồng nên cần truy thu của các bị cáo nộp vào ngân sách Nhà nước.
[8]. Về nghĩa vụ chịu án phí hình sự sơ thẩm: các bị cáo Hoàng Văn D, Hoàng Văn M, Hoàng Văn H1 và Hoàng Văn S phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật về án phí.
[9]. Về quyền kháng cáo: các bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
[10]. Liên quan trong vụ án có đối tượng tên P đã bán ma túy cho Hoàng Văn M, quá trình điều tra không xác định được lai lịch, địa chỉ nên không có căn cứ xử lý, nên Hội đồng xét xử không xét.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Hoàng Văn D 27 (hai mươi bẩy) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 26/3/2024.
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Hoàng Văn M 24 (hai mươi bốn) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 26/3/2024.
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Hoàng Văn H1 27 (hai mươi bẩy) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 01/02/2024.
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Hoàng Văn S 24 (hai mươi bốn) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 01/02/2024.
- Về xử lý vật chứng: áp dụng điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 1, khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Tịch thu tiêu hủy:
- + 01 ống thủy tinh uốn cong dài khoảng 09cm, một đầu có bầu hình tròn đường kính 1,5cm, đường kính miệng lỗ 0,7 cm hoàn lại sau giám định số 245/KL-KTHS ngày 06/02/2024;
- + 01 chai nhựa Nhãn hiệu Number1 loại Oº;
- + 03 bật lửa (màu xanh, màu đồng, màu trắng xanh);
- + 01 nắp nhựa màu xanh lá cây đục 02 lỗ; 01 ống hút nhựa màu trắng;
- + 01 nắp nhựa màu đỏ đục 02 lỗ; 01 ống hút nhựa màu xanh lá cây;
- + 01 ống thủy tinh uốn cong dài khoảng 12cm không có bầu;
- + 01 đầu khò bình ga mini màu trắng.
- + 03 (ba) sim, gồm các số 0388.738.188, 0396.081.193, 0326.443.012.
- Tịch thu sung ngân sách Nhà nước:
- + 01 (một) điện thoại nhãn hiệu Iphone màu vàng, mặt kính bị vỡ, nứt, IMEI: 359219075244585, điện thoại đã qua sử dụng;
- + 01 (một) điện thoại nhãn hiệu OPPO màu vàng hồng, số IMEI 1: 866704041651738, số IMEI 2: 866704041651720, điện thoại đã qua sử dụng;
- Trả lại Hoàng Văn S: 01 (một) điện thoại nhãn hiệu Iphone màu xanh, IMEI: 353901106877188, bên trong gắn sim số 0365.853.379, điện thoại đã qua sử dụng;
- Trả lại Hoàng Văn M: 01 (một) điện thoại nhãn hiệu Iphone màu xanh, IMEI: 35923634393669, bên trong gắn sim số 0396.818.411, điện thoại cũ đã qua sử dụng;
(Tình trạng vật chứng trên theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng lập ngày 31/5/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hải Hà, tỉnh Quảng Ninh).
- Truy thu của Hoàng Văn D số tiền 300.000 đồng nộp ngân sách Nhà nước; Truy thu của Hoàng Văn M số tiền 500.000 đồng nộp ngân sách Nhà nước;
- Tịch thu tiêu hủy:
- Về nghĩa vụ chịu án phí hình sự sơ thẩm:
Căn cứ vào khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/ 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc các bị cáo Hoàng Văn D, Hoàng Văn M, Hoàng Văn H1 và Hoàng Văn S, mỗi bị cáo phải chịu số tiền 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo:
Căn cứ vào khoản 1, khoản 4 Điều 331 và khoản 1 Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Dương Thị Thu Hà |
Bản án số 23/2024/HS-ST ngày 25/06/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẢI HÀ, TỈNH QUẢNG NINH về hình sự
- Số bản án: 23/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẢI HÀ, TỈNH QUẢNG NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trong các ngày 30, 31/01/2024 tại thôn Đại Quang, xã Đường Hoa, huyện Hải Hà, tỉnh Quảng Ninh, Hoàng Văn Hưởng và Hoàng Văn Sơn có hành vi cùng tổ chức cho nhau sử dụng trái phép chất ma túy loại Methamphetamine. Ngày 30/01/2024, Hoàng Văn Dần có hành vi bán cho Hoàng Văn Hưởng 01 (một) túi ma túy loại Methamphetamine, 01 (một) nõ thủy tinh với giá 1.300.000 đồng, kiếm lời số tiền 300.000 đồng. Hoàng Văn Mẹo có hành vi bán cho Hoàng Văn Dần 01 túi ma túy loại Methamphetamine với giá 1.000.000 đồng, kiếm lời số tiền 500.000 đồng
