|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THÀNH TỈNH NGHỆ AN Bản án số: 23/2024/ST-DS Ngày: 25-04-2024 V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng. |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THÀNH -TỈNH NGHỆ AN
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Chủ toạ phiên toà: Ông Phan Xuân Thọ - Thẩm phán.
Các Hội thẩm nhân dân.
- Ông Trần Danh Phú.
- Bà Phan Thị Nga.
Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Nhật Thanh – Thư ký, Toà án nhân dân huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An.
Ngày 25/04/2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai theo thủ tục thông thường vụ án thụ lý số: 159/2023/TLST- DS ngày 16 tháng 10 năm 2023 về việc “ tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo quyết định hoãn phiên tòa số 50/2024/QĐST- DS ngày 15/04/2024 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ngân hàng thương mại cổ phần Q.
Địa chỉ: Tầng A và tầng 2, tòa nhà S - A P, phường B, quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn:
- Ông Hàn Ngọc V – Tổng giám đốc là người đại diện theo pháp luật (vắng mặt).
- Ông Hoàng Đình H – Giám đốc thu hồi nợ trực tiếp và xử lý nợ là người đại diện theo uỷ quyền (Văn bản uỷ quyền ngày 08/11/2023 ) (vắng mặt).
- Bà Trần Thị P – Cán bộ là người đại diện theo uỷ quyền lại (Văn bản uỷ quyền ngày 18/03/2024) ( có mặt ).
2. Bị đơn:
Anh Nguyễn Văn N ( vắng mặt) và chị Trịnh Thị T ( vắng mặt)
Nơi cư trú: Xóm S, xã H, huyện Y, tỉnh Nghệ An.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 22 tháng 06 năm 2023 và trong quá giải quyết vụ án, nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần Q trình bày:
Ngày 08/10/2020, khách hàng anh Nguyễn Văn N, chị Trịnh Thị T và Ngân hàng thương mại cổ phần Q ký hợp đồng tín dụng số 7858010.20, nội dung như sau:
- Số tiền vay: 530.000.000 đồng.
- Mục đích vay: Thanh toán mua xe ô tô nhãn hiệu Nissan Xtrail
- Thời hạn vay 96 tháng, kể từ ngày 09/10/2020 đến ngày 08/10/2028.
- Lịch trả nợ gốc: vào ngày 25 hàng tháng, mỗi kỳ trả 5.520.833 đồng, số còn lại trả vào cuối kỳ.
- Lịch trả lại: vào ngày 25 hàng tháng theo dư nợ thực thế, ngày trả nợ đầu tiên là ngày 25/10/2020.
- Lãi suất cho vay : 8,1%/năm, lãi suất này là lãi suất ưu đãi và được áp dụng trong 12 tháng đầu tiên kẻ từ ngày giải ngân tìn dụng. Hết thời hạn ưu đĩa nói trên lãi suất sẽ được điều chỉnh lại 03 tháng / một lần bằng lãi suất cơ sở theo sản phẩm cộng biên độ 4,1%/năm.
- Lãi suất quá hạn : 150% lãi suất trong hạn tại thời điểm chuyển nợ quá hạn.
- Chuyển nợ quá hạn : Kể từ ngày đến hạn trả nợ gốc theo các kỳ hạn hoặc kết thúc kỳ hạn cho vay hoặc Ngân hàng có thông báo về việc chấm dứt cho vay, thu hồi nợ trước hạn, chuyển nợ quá hạn. Nếu khách hành không trả hết nợ gốc phải trả đúng hạn.
- Tài sản đảm bảo cho khoản tiền vay: Xe ô tô nhãn hiệu Nissan Xtrail T32SV, Biển số 37A-741.86, số khung RN3JBNT32LDV06283, số máy 495225MQR25. Được Công an tỉnh N cấp chứng nhận đăng ký xe ô tô số 126645, chủ xe Nguyễn Văn N, sinh năm 1993, địa chỉ : S, H, Y. Biển số dăng ký 37A-741.86.
- Khách hàng vi phạm các điều khoản theo hợp đồng thì Ngân hàng có quyền chấm dứt cho vay, thu hồi nợ trước hạn, chuyển nợ quá hạn và gửi thông báo cho khách hàng được biết.
Ngày 08/10/2020 Ngân hàng đã giải ngân cho anh Nguyễn Văn N và chị Trịnh Thị T 530.000.000 đồng bằng chuyển khoản thanh toán tiền mua xe. Anh Nguyễn Văn N và chị Trịnh Thị T đã ký khế ước nhận nợ 530.000.000 đồng.
Trong quá trình thực hiện hợp đồng anh Nguyễn Văn N và chị Trịnh Thị T trả tiền lãi, tiền gốc tính đến ngày 16/02/2023 là 277.498.411 đồng ( trong đó : tiền gốc 154.583.324 đồng, tiền lãi 122.915.087 đồng), đến kỳ trả tiền tiền lãi tiếp theo thì không thực hiện nghĩa vụ trả tiền gốc, tiền lãi nên ngày 20/03/2023 Ngân hàng ra Thông báo thu hồi toàn bộ dư nợ khoản vay và chuyển nợ quá hạn, điều chỉnh lãi suất cho vay gửi cho anh Nguyễn Văn N và chị Trịnh Thị Tam . Nhưng anh Nguyễn Văn N và chị Trịnh Thị T vẫn không chịu thực hiện nghĩa vụ trả nợ gốc, lãi theo thông báo.
Do đó yêu cầu Tòa án giải quyết buộc anh Nguyễn Văn N và chị Trịnh Thị T phải trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần Q như sau:
Nợ gốc 375.416.676 đồng;
Lãi trong hạn: Từ ngày 17/02/2023 đến ngày 25/04/2024 là 433 ngày x 375.416.676 đồng x 15,52%/năm = 69.156.668 đồng;
Lãi quá hạn: Từ ngày 20/03/2023 đến ngày 25/04/2024 là 400 ngày x 375.416.676 đồng x 7,76%/năm = 31.986.952 đồng.
Tổng là 476.560.296 đồng và lãi phát sinh cho đến khi trả hết nợ vay theo lãi suất quy định tại hợp đồng tín dụng.
Tài sản bảo đảm khoản tiền vay Ngân hàng không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại bản tự khai đề ngày 24 tháng 04 năm 2024 bị đơn chị Trịnh Thị T trình bày:
Vào năm 2019 vợ chồng chị là Trịnh Thị T và anh Nguyễn Văn N có nhu cầu vay vốn để đi xuất khẩu đài loan nên ngày 09/10/2020 vợ chồng C đã ký hợp đồng tín dụng với Ngân hàng V1 vay số tiền 530.000.000 đồng, mục đích thanh toán tiền mua xe ô tô. Ngân hàng đã giải ngân 530.000.000 đồng thanh toán tiền mua ô tô của Công ty TNHH Ô cho chúng Tôi.
Tài sản bảo đảm tiền vay là xe ô tô NiSan BKS 37A – 74186.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, sau khi nghe ý kiến trình bày của Ngân hàng thương mại Cổ phần Q và chị P1 tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:
[1]Về tố tụng:
Bị đơn anh Nguyễn Văn N và chị Trịnh Thị T có địa chỉ rõ ràng trong hợp đồng tín dụng, hợp đồng thế chấp bất động sản. Đã được tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng anh N, chị T vắng mặt phiên họp không có lý do và không yêu cầu phản tố.
Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải lần 2 thì anh N, chị T vẫn vắng mặt không có lý do nên Tòa án tiến hành phiên họp và đã tống đạt kết quả phiên họp cho anh N, chị T.
Tòa án đã tống đạt hợp lệ quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa cho anh N, chị T nhưng anh N, chị T vắng mặt tại phiên tòa lần 2, không có lý do nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn là phù hợp với khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung:
[2] Ngân hàng thương mại cổ phần Q ( sau đây viết tắt là V1) và anh Nguyễn Văn N, chị Trịnh Thị T đã ký kết hợp đồng tín dụng số 7858010.20 ngày 08/10/2020. Nội dung :
- Số tiền vay: 530.000.000 đồng.
- Mục đích vay: Thanh toán mua xe ô tô nhãn hiệu Nissan Xtrail
- Thời hạn vay 96 tháng, kể từ ngày 09/10/2020 đến ngày 08/10/2028.
- Lịch trả nợ gốc: vào ngày 25 hàng tháng, mỗi kỳ trả 5.520.833 đồng, số còn lại trả vào cuối kỳ.
- Lịch trả lại: vào ngày 25 hàng tháng theo dư nợ thực thế, ngày trả nợ đầu tiên là ngày 25/10/2020.
- Lãi suất cho vay : 8,1%/năm, lãi suất này là lãi suất ưu đãi và được áp dụng trong 12 tháng đầu tiên kẻ từ ngày giải ngân tìn dụng. Hết thời hạn ưu đĩa nói trên lãi suất sẽ được điều chỉnh lại 03 tháng / một lần bằng lãi suất cơ sở theo sản phẩm cộng biên độ 4,1%/năm.
- Lãi suất quá hạn : 150% lãi suất trong hạn tại thời điểm chuyển nợ quá hạn.
- Chuyển nợ quá hạn : Kể từ ngày đến hạn trả nợ gốc theo các kỳ hạn hoặc kết thúc kỳ hạn cho vay hoặc Ngân hàng có thông báo về việc chấm dứt cho vay, thu hồi nợ trước hạn, chuyển nợ quá hạn. Nếu khách hành không trả hết nợ gốc phải trả đúng hạn.
- Tài sản đảm bảo cho khoản tiền vay: Xe ô tô nhãn hiệu Nissan Xtrail T32SV, Biển số 37A-741.86, số khung RN3JBNT32LDV06283, số máy 495225MQR25. Được Công an tỉnh N cấp chứng nhận đăng ký xe ô tô số 126645, chủ xe Nguyễn Văn N, sinh năm 1993, địa chỉ : S, H, Y. Biển số dăng ký 37A-741.86.
- Khách hàng vi phạm các điều khoản theo hợp đồng thì Ngân hàng có quyền chấm dứt cho vay, thu hồi nợ trước hạn, chuyển nợ quá hạn và gửi thông báo cho khách hàng được biết.
[3]Thực hiện hợp đồng: Ngày 08/10/2020 V1 đã giải ngân cho anh Nguyễn Văn N và chị Trịnh Thị T 530.000.000 đồng và anh N, chị T đã nhận nợ là 530.000.000 đồng. Anh N, chị T trả tiền gốc, lãi khoản vay đến ngày 16/02/2023 là 277.498.411 đồng ( trong đó : tiền gốc 154.583.324 đồng, tiền lãi 122.915.087 đồng), đến kỳ trả tiền lãi tiếp theo thì không thực hiện nghĩa vụ trả tiền lãi nên ngày 20/03/2023 Ngân hàng ra Thông báo thu hồi toàn bộ dư nợ khoản vay và chuyển nợ quá hạn, điều chỉnh lãi suất cho vay gửi cho anh N, chị T. Nhưng anh N, chị T vẫn không chịu thực hiện nghĩa vụ trả nợ gốc, lãi theo thông báo.
Do anh N, chị Tam vi p hợp đồng nên yêu cầu Tòa án giải quyết buộc anh N, chị T phải trả cho V1 như sau:
Nợ gốc 375.416.676 đồng;
Lãi trong hạn: Từ ngày 17/02/2023 đến ngày 25/04/2024 là 433 ngày x 375.416.676 đồng x 15,52%/năm = 69.156.668 đồng;
Lãi quá hạn: Từ ngày 20/03/2023 đến ngày 25/04/2024 là 400 ngày x 375.416.676 đồng x 7,76%/năm = 31.986.952 đồng.
Tổng là 476.560.296 đồng và lãi phát sinh cho đến khi trả hết nợ vay theo lãi suất quy định tại hợp đồng tín dụng.
Tài sản bảo đảm khoản tiền vay Ngân hàng không yêu cầu Tòa án giải quyết.
[4]Hội đồng xét xử xét thấy Hợp đồng tín dụng số 7858010.20 ngày 08/10/2020 đã được các bên ký, ghi họ tên, điểm chỉ. Hợp đồng thế chấp bất động sản đã được các bên ký, ghi họ tên, điểm chỉ trước mặt công chứng viên, trình tự thủ tục thế chấp theo đúng quy định của pháp luật.
Thực hiện hợp đồng, V1 đã giải ngân 530.000.000 đồng cho anh N, chị T và anh N, chị T đã ký nhận nợ 530.000.000 đồng.
Anh N, chị T thực hiện hợp đồng đã thanh toán tiền gốc, tiền lãi khoản vay cho V1 đến ngày 16/02/2023 với mức lãi suất 8,1 %/năm, số tiền là 277.498.411 đồng.
Như vậy hợp đồng tín dụng và hợp đồng thế chấp hợp pháp về cả nội dung và hình thức, đã được các bên thực hiện cần được chấp nhận.
Theo Hợp đồng tín dụng anh T, chị N phải trả tiền lãi và tiền gốc hàng tháng vào ngày 25. Tuy nhiên đến kỳ hạn nộp tiền lãi ngày 25/02/2023 anh T, chị N không nộp. Theo Hợp đồng ngày 08/10/2020 V1 đã ra thông báo thu hồi toàn bộ dư nợ khoản vay, chuyển nợ quá hạn và điều chỉnh lãi suất ngày 20/03/2023 nhưng anh N, chị T không thực hiện. Do anh N, chị Tam vi p hợp đồng nên VIB yêu cầu anh N, chị T trả tiền gốc, tiền lãi trong hạn, tiền lãi quá hạn cho V1 theo hợp đồng tín dụng là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của V1. Buộc anh N và chị T phải trả cho V1 là 476.560.296 đồng ( trong đó: nợ gốc là 375.416.676 đồng, nợ lãi trong hạn là 69.156.668 đồng, nợ lãi quá hạn là 31.986.952 đồng ) và lãi phát sinh cho đến khi trả hết nợ vay theo lãi suất quy định tại hợp đồng tín dụng.
[5] Tài sản thế chấp: Ngân hàng không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[6] Về án phí:
Yêu cầu của V1 được chấp nhận nên anh N và chị T phải chịu án phí Dân sự sơ thẩm là 20.000.000 đồng + (476.560.296 đồng – 400.000.000 đồng) x 4% = 23.062.412 đồng. Kỷ phần mỗi người phải chịu là 11.531.206 đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng Điều 91, 95 Luật các Tổ chức tín dụng; Điều 318, 307, 463, 466, 468, 470 Bộ luật dân sự; Điều 27 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, khoản 1 Điều 273, khoản 1 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần Q.
- Buộc anh Nguyễn Văn N và chị Trịnh Thị T phải trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần Q số tiền còn nợ của Hợp đồng tín dụng số 7858010.20 ngày 08/10/2020 bao gồm: nợ gốc là 375.416.676 đồng; nợ lãi trong hạn là 69.156.668 đồng; nợ lãi quá hạn là 31.986.952 đồng; tổng cộng: 476.560.296đ (Bốn trăm bảy mươi sáu triệu, năm trăm sáu mươi nghìn, hai trăm chín mươi sáu đồng).
- Án phí:
Anh Nguyễn Văn N, chị Trịnh Thị T mỗi người phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm là 11.531.206đ ( Mười một triệu, năm trăm ba mươi mốt nghìn, hai trăm linh sáu đồng)
Ngân hàng thương mại cổ phần Q được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 9.995.577 ( Chín triệu, chín trăm chín mươi lăm nghìn, năm trăm bảy mươi bảy đồng ) theo biên lai thu tiền số 0001238 ngày 12 tháng 10 năm 2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An.
- Thi hành án, nghĩa vụ chậm thi hành án:
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận nhưng phải phù hợp với quy định của pháp luật; nếu không có thỏa thuận về mức lãi suất thì quyết định theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
- Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Phan Xuân Thọ |
Bản án số 23/2024/ST-DS ngày 25/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THÀNH - TỈNH NGHỆ AN về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 23/2024/ST-DS
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/04/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THÀNH - TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vụ án tranh chấp hợp đồng tín dụng giữa ngân hàng TMCP Q và anh Nguyễn Văn N...
