|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THUẬN BẮC TỈNH NINH THUẬN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 23/2024/HS-ST
Ngày: 24/9/2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THUẬN BẮC - TỈNH NINH THUẬN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Minh Đăng
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Thị Thanh Thuý
- Ông Dương Tấn Khoán
Thư ký phiên tòa: Ông Nông Duy Mạnh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thuận Bắc - tỉnh Ninh Thuận.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuận Bắc tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Duy Luân - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 9 năm 2024, tại phòng xử án Tòa án nhân dân huyện Thuận Bắc, tỉnh Ninh Thuận xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 10/2024/HSST ngày 30/5/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 22/2024/QĐST-HS ngày 09/9/2024, đối với các bị cáo:
- CATOR NEN, sinh ngày 11/8/2006. Nơi sinh: Ninh Thuận. Nơi cư trú: Thôn T, xã P, huyện T, Ninh Thuận. Nghề nghiệp: Làm nông; Trình độ học vấn: Không biết chữ. Dân tộc: Raglai; Giới tính: Nam. Tôn giáo: Không. Quốc tịch: Việt Nam; Không rõ tên cha và bà Catơr Thị N, sinh năm 1976. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 06/3/2024 đến ngày 12/3/2024 thay thế bằng biện pháp ngăn chặn C đi khỏi nơi cư trú. Sau đó bị bắt ngày 31/8/2024 theo lệnh truy nã. Hiện đang tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện T. (Có mặt)
- BO NHÓN, sinh năm 1999. Nơi sinh: Ninh Thuận. Nơi cư trú: Thôn M, xã M, huyện N, tỉnh Ninh Thuận. Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: Không biết chữ. Dân tộc: Raglai; Giới tính: Nam. Tôn giáo: Không. Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Mấu M, (đã chết) và bà Bo Thị R, sinh năm 1973 Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 06/3/2024 đến ngày 12/3/2024 được thay đổi biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. Ngày 06/8/2024 bị bắt theo lệnh truy nã. Bị cáo hiện đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ công an huyện T. (Có mặt)
Người bào chữa cho các bị cáo Catơr N1, B: Ông Lâm Thế N2, trợ giúp viên pháp lý – Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh N. Có mặt
Người đại diện theo pháp luật của bị cáo Catơr N1: Bà Catơr Thị N, sinh năm 1976. Nơi cư trú: Thôn T, xã P, huyện T, Ninh Thuận. Có mặt
Người bị hại: Ông Tain N3, sinh năm 1994. Nơi cư trú: Thôn T, xã P, huyện T, Ninh Thuận. Vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 22 giờ 20 phút ngày 05/3/2024, sau khi uống rượu bia tại nhà bạn tại thôn T, xã P, huyện T, tỉnh Ninh Thuận, Catơr N1 rủ Bo N4 đi tìm kiếm tài sản trộm cắp nhưng N4 không đồng ý và về nhà trước. Trên đường đi bộ về nhà, N1 nhìn thấy xe mô tô biển số 85H1-065.91 của anh Tain N3 đang dựng ở trước nhà bếp nên nảy sinh ý định lấy trộm xe mô tô này để bán lấy tiền tiêu xài. N1 đi bộ đến vị trí xe mô tô đang dựng. Thấy xe mô tô bị khóa cổ, N1 ngồi lên yên xe rồi dùng chân phải đạp mạnh vào tay lái bên trái xe mô tô và dùng tay phải nắm tay lái bên phải xe mô tô bẻ mạnh làm hỏng khóa cổ xe rồi dắt bộ xe mô tô đi về nhà. Khi dắt xe về nhà, N1 nói cho N4 biết xe mô tô là do N1 lấy trộm mà có. Biết xe mô tô là do N1 lấy trộm được, xe không có chìa khóa và không nổ máy được nên N4 đã dùng tay rút sợi dây nguồn của xe ra đấu nối để nổ máy xe nhưng vẫn không nổ. Sau đó, N4 lấy khẩu trang y tế bằng vải che biển số xe mô tô lại để khỏi bị phát hiện và cùng với N1 khiêng xe vào bên trong nhà cất giấu. N4 và N1 thống nhất để qua ngày hôm sau đem xe mô tô bán lấy tiền tiêu xài.
Sáng ngày 06/3/2024, anh N3 phát hiện xe mô tô bị mất nên đã trình báo với Công an xã P. Đến khoảng 09 giờ ngày 06/3/2024, qua xác minh, Công an xã P đã xác định được Catơr N1 và Bo N4 có liên quan đến việc trộm cắp xe mô tô nên đã triệu tập đến trụ sở làm việc. Qua làm việc, N1 và N4 đã thừa nhận hành vi trộm cắp và chỉ nơi cất giấu xe mô tại nhà của mẹ N1.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 07/KLĐGTS ngày 11/3/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện T kết luận: Giá trị tại thời điểm bị mất trộm ngày 05/3/2024 của xe mô tô biển số 85H1-065.91 là 9.100.000 đồng (Chín triệu một trăm nghìn đồng).
Tại Cáo trạng số: 12/CT-VKSTB ngày 28/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuận Bắc đã truy tố Catơr N1, Bo N4 về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa các bị cáo Catơr N1, Bo N4 khai nhận vào tối ngày 05/3/2024, Catơr N1 lén lút chiếm đoạt xe mô tô biển số 85H1-065.91 giá trị 9.100.000 đồng của anh Tain N3 tại thôn T, xã P, huyện T rồi dắt bộ về nhà và sau đó, cùng với Bo N4 cất giấu xe mô tô, nhằm mục đích sáng hôm sau bán lấy tiền tiêu xài cá nhân. Hành vi của Bo N4 giúp sức cho Catơr N1 kết thúc hành vi phạm tội nên phải chịu trách nhiệm hình sự với vai trò đồng phạm cùng với Catơr N1.
Trong quá trình tố tụng người bị hại trình bày: Ông Tain N3 xác định 2 bị cáo là người trộm cắp xe mô tô của ông. Sau đó cơ quan điều tra đã trả lại xe cho ông và
ông không yêu cầu các bị cáo bồi thường gì. Ông xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho 02 bị cáo.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên Cáo trạng truy tố đối với bị cáo về tội danh như trên và đề nghị HĐXX:
- Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm h, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 58, Điều 91, Điều 101 của Bộ luật hình sự:
- + Xử phạt bị cáo Catơr N1 từ 09 tháng đến 12 tháng tù.
- Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm h, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 58 của Bộ luật hình sự:
- + Xử phạt bị cáo Bo N4 từ 09 tháng đến 12 tháng tù.
Ngoài ra đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị HĐXX quyết định về xử lý vật chứng, trách nhiệm dân sự, các Biện pháp tư pháp, án phí Hình sự sơ thẩm.
Người bào chữa cho các bị trình bày: Hoàn toàn đồng ý với nội dung cáo trạng của viện kiểm sát đã truy tố các bị cáo về tội danh như trên. Tuy nhiên, bị cáo Catơr N1 khi thực hiện hành vi phạm tội chưa đủ 18 tuổi nên nhận thức pháp luật còn hạn chế. Bị cáo N4 tham gia với vai trò giúp sức, rất hạn chế trong vụ án. Ngoài ra, các bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và được người bị hại xin giảm nhẹ. Vì vậy, đề nghị HĐXX xem xét xử phạt bị cáo mức hình phạt thấp nhất của khung bị truy tố để cho các bị cáo có cơ hội làm công dân tốt, có ích cho xã hội.
Các bị cáo đồng ý với nội dung trình bày của người bào chữa và không có ý kiến gì bổ sung thêm.
Các bị cáo không có ý kiến tranh luận gì với đại diện Viện kiểm sát.
Các bị cáo nói lời nói sau cùng có nội dung cụ thể như sau: “Bị cáo nhận thức được hành vi của mình là trái pháp luật, rất hối hận và mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ mức hình phạt”.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên; Viện Kiểm sát nhân dân huyện Thuận Bắc, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Tại phiên tòa các bị cáo Catơr N1 khai nhận vào tối ngày 05/3/2024, Catơr N1 lén lút chiếm đoạt xe mô tô biển số 85H1-065.91 giá trị 9.100.000 đồng của anh Tain N3 rồi dắt bộ về nhà. Sau đó, cùng với bị cáo Bo N4 cất giấu xe mô tô, nhằm mục đích sáng hôm sau bán lấy tiền tiêu xài cá nhân. Bị cáo Bo N4 thừa nhận có tham gia cùng với bị cáo N1 trong vụ án với vai trò giúp sức. Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa, hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp
với lời khai của người bị hại, cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Như vậy, khẳng định cáo trạng 12/CT-VKSTB ngày 28/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuận Bắc đã truy tố Catơr N1, Bo N4 về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự là có cơ sở, đúng pháp luật.
[3] Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội vì đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ. Các bị cáo nhận thức được hành vi trộm cắp tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng do bản chất lười lao động, muốn chiếm đoạt trái phép tài sản của người khác nên đã thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý. Vì vậy, HĐXX khẳng định các bị cáo đã phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Tội và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 của BLHS. Đây là vụ án có tính chất đồng phạm, cần đánh giá tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cũng như nhân thân của từng bị cáo để ra mức hình phạt phù hợp quy định pháp luật.
[4] Đối với bị cáo Catơr N1, bị cáo Bo N4: Bị cáo N1 là người trực tiếp thực hiện hành vi trộm cắp tài sản. Bị cáo N4 là người có hành vi giúp sức cho bị cáo N1 cất giấu tài sản. Các bị cáo có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là “Phạm tội gây thiệt hại không lớn”, “Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng” và “Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị hại xin giảm nhẹ cho các bị cáo. theo quy định tại điểm h, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo N1 khi thực hiện hành vi phạm tội chưa đủ 18 tuổi. Từ những phân tích trên, HĐXX chấp nhận đề nghị của Kiểm sát viên, ý kiến của người bào chữa. Xử phạt các bị cáo hình phạt tù. Do các bị cáo khi thực hiện biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú nhưng không có mặt tại địa phương phải truy nã các bị cáo để bắt giam phục vụ cho công tác xét xử nên HĐXX không cho các bị cáo được hưởng án treo mà cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian theo quy định pháp luật để cải tạo giáo dục các bị cáo nói riêng, đấu tranh phòng chống tội phạm nói chung.
[5] Xử lý vật chứng và các vấn đề khác: Trong quá trình tố tụng, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T đã thu hồi, tạm giữ và trả lại xe mô tô biển số 85H1-065.91 cho bị hại Tain Nghiêu là chủ sở hữu hợp pháp.
Bị hại đã nhận lại tài sản nên không yêu cầu các bị cáo phải bồi thường thiệt hại. Do đó, HĐXX không xem xét.
[6] Về án phí: Do bị cáo Katơr N5, Bo N4 là người dân tộc thiểu số sống tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn nên được miễn án phí Hình sự sơ thẩm
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 173; điểm h, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 58, Điều 91, Điều 101 của Bộ luật hình sự.
Tuyên bố: Các bị cáo Katơr N5, Bo N4 đã phạm tội trộm cắp tài sản.
Xử phạt: Kator Nen 06 (sáu) tháng tù. Hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam 31/8/2024. Khấu trừ thời gian tạm giữ từ ngày 06/3/2024 đến ngày 12/3/2024.
Áp dụng: Khoản 1 Điều 173, điểm h, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 58 của bộ luật hình sự:
Xử phạt: Bị cáo Bo Nhón 06 (sáu) tháng tù. Hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam 06/8/2024. Khấu trừ thời gian tạm giữ từ ngày 06/3/2024 đến ngày 12/3/2024.
Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Các bị cáo không phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm, có mặt các bị cáo, người bào chữa cho bị cáo. Quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (ngày 24/9/2024). Riêng người bị hại vắng mặt tại phiên tòa, quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được niêm yết hoặc được tống đạt hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Ngô Minh Đăng |
Bản án số 23/2024/HS-ST ngày 24/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THUẬN BẮC - TỈNH NINH THUẬN về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 23/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THUẬN BẮC - TỈNH NINH THUẬN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: bị cáo N phạm tội trộm cắp tài sản
