|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ SƠN TÂY, TP. HÀ NỘI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 23/2024/HNGĐ-ST Ngày: 24/4/2024. V/v: Tranh chấp ly hôn và nuôi con chung. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ SƠN TÂY, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Tú
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Đào Thị Minh Nguyệt và bà Trần Thị Huệ.
Thư ký phiên tòa: Ông Lê Đức Thuận - Thư ký Toà án nhân dân thị xã Sơn Tây, Thành phố Hà Nội.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Sơn Tây, Thành phố Hà Nội tham gia phiên toà: Bà Ngô Thị Minh Thuận - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 4 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Sơn Tây xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 23/2024/TLST-HNGĐ ngày 06 tháng 3 năm 2024 về tranh chấp Hôn nhân & gia đình theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 12/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 02 tháng 4 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 03/2024/QĐST-HNGĐ ngày 17 tháng 4 năm 2024, giữa các đương sự:
-
Nguyên đơn:
Chị Nguyễn Hiền L, sinh năm 1998;Nơi ĐKHKTT: Tổ dân phố 1, thôn Ái Mỗ, phường Trung Hưng, thị xã Sơn Tây, Thành phố Hà Nội.
Địa chỉ: Thôn V, xã X, S, Hà Nội; có mặt.
-
Bị đơn:
Anh Nguyễn Tuấn D, sinh năm 1994;Địa chỉ: Tổ dân phố A, thôn Á, phường T, thị xã S, Thành phố Hà Nội; vắng mặt.
NHẬN THẤY:
-
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai cũng như tại phiên toà, nguyên đơn là chị Nguyễn Hiền L trình bày:
Chị kết hôn với anh Nguyễn Tuấn D vào ngày 17/4/2019, có đăng ký kết hôn tại UBND phường L, thị xã S, Thành phố Hà Nội trên cơ sở tự nguyện, hợp pháp. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống tại tổ dân phố A, thôn Á, T, S, Hà Nội cùng gia đình nhà anh D. Vợ chồng chung sống đến khoảng tháng 06/2020 thì phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng không hiểu nhau, thường xuyên bất đồng quan điểm sống, vợ chồng thường xuyên cãi cọ, anh D chơi bời, nợ nần. Vợ chồng chị đã sống ly thân từ tháng 06/2020 đến nay, không còn quan tâm đến nhau. Gia đình cũng đã khuyên bảo, hòa giải nhưng không có kết quả. Chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Tuấn D.
Về con chung: Có một con chung là Nguyễn Quang N, sinh ngày 22/12/2019, từ khi ly thân cháu N ở với chị. Khi ly hôn, chị đề nghị được trực tiếp nuôi cháu N và không yêu cầu anh D phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung, nợ chung: Không có.
-
Bị đơn là anh Nguyễn Tuấn D đã được Tòa án đã tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án, Thông báo phiên họp và hòa giải.
Tuy nhiên, bị đơn anh D đã không đến Tòa án để viết bản tự khai, không gửi văn bản trình bày ý kiến của mình với nguyên đơn, không cung cấp, giao nộp tài liệu, chứng cứ, không chứng minh để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, không đưa ra yêu cầu phản tố đối với yêu cầu của nguyên đơn chị Nguyễn Hiền L. -
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Sơn Tây phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự:
Việc Tòa án nhân dân thị xã Sơn Tây thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền, đúng pháp luật. Việc xác định quan hệ pháp luật và tư cách người tham gia tố tụng là đúng pháp luật. Việc thu thập chứng cứ đầy đủ, thủ tục tống đạt các văn bản đã được tiến hành đúng pháp luật; Thời hạn chuẩn bị xét xử đảm bảo, việc chuyển hồ sơ, cấp tống đạt văn bản tố tụng đúng pháp luật.
Về nội dung của vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 51, khoản 1 Điều 56, 57, 58, 81, 82 và 83 Luật hôn nhân và gia đình chấp nhận đơn yêu cầu xin ly hôn của chị Lương x cho chị L được ly hôn với anh D; Giao con chung cháu Nguyễn Quang N cho chị L trực tiếp nuôi; Về tài sản chung, nợ: Không xem xét; Về án phí: Chị L phải chịu án phí ly hôn theo luật định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]Về thủ tục tố tụng: Yêu cầu khởi kiện về việc xin ly hôn của chị Nguyễn Hiền L đối với anh Nguyễn Tuấn D có địa chỉ tại tổ dân phố A, Á, phường T, S, Hà Nội là thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội theo quy định tại các Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự. Tòa án đã tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa đối với bị đơn. Tại phiên tòa hôm nay, Tòa án nhân dân thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội đã triệu tập hợp lệ lần thứ 2 đối với bị đơn anh Nguyễn Tuấn D để tham gia phiên tòa. Tuy nhiên, anh D vắng mặt không có lý do, do đó Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt bị đơn.
[2] Về nội dung:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: chị Nguyễn Hiền L kết hôn với anh Nguyễn Tuấn D tuân thủ đầy đủ các điều kiện kết hôn và có đăng ký kết hôn ngày 17 tháng 4 năm 2019 tại UBND phường L, S, Hà Nội. Do đó, quan hệ hôn nhân giữa chị Nguyễn Hiền L và anh Nguyễn Tuấn D là hợp pháp.
Chị L trình bày giữa vợ chồng có nhiều mâu thuẫn, do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cãi cọ, anh D chơi bời, nợ nần, nên đề nghị Tòa án giải quyết cho ly hôn. Theo biên bản xác minh tại gia đình thể hiện: Mâu thuẫn giữa vợ chồng anh D và chị L là có thật. Gia đình đã khuyên bảo, hoà giải nhưng không có kết quả. Bà Phạm Thị T là mẹ đẻ anh Nguyễn Tuấn D cho biết việc vợ chồng anh D chị L có nhiều mâu thuẫn. Anh chị đã sống ly thân từ tháng 06/2020 đến nay, không còn quan tâm đến nhau. Gia đình đã hòa giải nhưng không có kết quả.
Như vậy, có đủ cơ sở để xác định mâu thuẫn giữa vợ chồng chị L và anh D đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được theo quy định tại khoản 1 Điều 56 luật Hôn nhân và gia đình. Do đó, chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị L.
[2.2] Về con chung: Anh chị có một con chung là Nguyễn Quang N, sinh ngày 22/12/2019. Khi ly hôn chị L đề nghị được trực tiếp nuôi con và không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
Xét thấy, chị L có đủ điều kiện về kinh tế để nuôi con chung. Hơn nữa, cháu N còn nhỏ và đã ở cùng với chị L từ tháng 06/2020 đến nay. Nên để bảo đảm cuộc sống ổn định và lợi ích mọi mặt của con theo quy định tại Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình, cần giao cháu N cho chị L trực tiếp nuôi dưỡng. Về việc cấp dưỡng nuôi con, chị L không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[2.3] Về tài sản chung, nợ: Chị L trình bày không có nên Hội đồng xét xử không phải xem xét. Nếu anh D có yêu cầu thì làm đơn khởi kiện bằng một vụ kiện dân sự khác.
[3] Về án phí: Chị L phải chịu án phí theo quy định của pháp luật. Chị L và anh D có quyền kháng cáo bản án theo luật định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- - Căn cứ vào Điều 51; Khoản 1 Điều 56, 57, 58, 81, 82 và 83 Luật hôn nhân và gia đình;
- - Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội:
Xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Hiền L. Chị L được ly hôn với anh Nguyễn Tuấn D.
- Chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Hiền L về việc nuôi con chung, giao cháu Nguyễn Quang N, sinh ngày 22 tháng 12 năm 2019 cho chị L trực tiếp nuôi cho đến khi cháu N đủ 18 tuổi hoặc khi có quyết định khác của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung đối với anh D cho đến khi có yêu cầu mới. Anh Nguyễn Tuấn D có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con chung không ai được cản trở.
- Về tài sản chung: Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về án phí: Chị Nguyễn Hiền L phải chịu 300.000đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm. Được trừ vào số tiền 300.000đồng đã nộp tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án theo biên lai thu số 0000861 ngày 06/3/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Sơn Tây, Thành phố Hà Nội.
- Về quyền kháng cáo bản án: Căn cứ vào Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự: Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm; Bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được giao nhận bản án hoặc bản án được niêm yết./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Phạm Thị Tú |
Bản án số 23/2024/HNGĐ-ST ngày 24/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ SƠN TÂY, TP. HÀ NỘI về tranh chấp ly hôn và nuôi con chung
- Số bản án: 23/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn và nuôi con chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/04/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ SƠN TÂY, TP. HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: chị L ly hôn anh D
